Vừa đi vừa đánh, thần tốc chiến dịch Hồ Chí Minh

Trải qua 55 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự ngụy, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Chiếc Mi.4 lượn một vòng hẹp xác định vị trí rồi hạ cánh. Thiếu tướng Giáp Văn Cương đến sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 571 ở Bắc thành phố Đà Nẵng. Hoàng Trá bất ngờ trước sự xuất hiện đột ngột, anh đứng lên chào. Thiếu tướng Cương nói ngay:

- Tôi đến nắm tình hình lực lượng xe của sư đoàn hiện có tại đây và chuẩn bị khẩn cấp để cơ động Quân đoàn 2 vào Nam bộ.

- Tôi có thể báo cáo thực lực, thưa thiếu tướng!… Nhưng còn việc cơ động thì tôi chưa được lệnh của trung tướng Đồng Sĩ Nguyên.

- Đồng chí điện báo cáo với tư lệnh Trường Sơn được chứ?

- Có thể báo cáo ngay bằng máy 15 oát. Nhưng tôi làm sao có thể bỏ dở nhiệm vụ vận chuyển khẩn cấp 3.000 tấn vật chất bảo đảm sẵn sàng chiến đấu?

Sau mấy phút suy nghĩ, Thiếu tướng Cương khẽ phẩy tay:

- Thôi được. Đồng chí có thể cùng tôi về sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn chứ?

- Xin chậm mươi phút để tôi giao nhiệm vụ cho tham mưu.

- Được. Đồng chí làm đi.

Sau ít phút giao việc cho tham mưu trưởng, Hoàng Trá cùng tướng Cương lên máy bay ra bến Tắt. Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên cũng đã được Bộ Tổng thông báo chủ trương, nên nhanh chóng thống nhất quyết tâm sử dụng Sư đoàn 571 cơ động Quân đoàn 2 vào chiến dịch. Có điều sư đoàn đã tập trung hơn 1.000 xe tốt cơ động Quân đoàn Tiên phong đi Lộc Ninh, chỉ còn 9 tiểu đoàn xe thiếu làm nhiệm vụ vận chuyển hàng. Nay chở người, phải gia cố thùng bệ, nhiều chiếc quá rão phải vào đại tu. Cả một núi việc. Bộ chỉ huy sư đoàn cấp tốc họp cán bộ bàn cách khắc phục. Hội nghị thống nhất đưa hết vật tư kỹ thuật dự trữ để thay thế, dồn lắp, tập trung mọi khả năng vào sửa chữa, khôi phục xe chiến lợi phẩm để sử dụng. Sư đoàn phát động khí thế Tất cả cho chiến dịch lịch sử, khôi phục mỗi xe là diệt một đồn thù. Cán bộ kỹ thuật phân nhau xuống từng xưởng, từng phân đội sửa chữa. Áp dụng phương pháp luân phiên ca kíp, chạy máy suốt ngày đêm, điện sáng rực khắp bãi xe, phân xưởng, lái, thợ không một phút rảnh tay họ tranh thủ bảo dưỡng định kỳ sớm, để bảo đảm không xảy ra sự cố trên đường. Với tinh thần làm việc hết mình, ngày 6.4 đã dồn được hơn 700 xe và khôi phục gần trăm xe chiến lợi phẩm…

Với tư cách phái viên Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tôi đến cánh Duyên Hải đúng vào lúc Sư đoàn 571 đã tập kết đội hình từ Nam đèo Hải Vân đến sân bay Đà Nẵng. Xe chỉ huy cắm cờ lệnh, ở thành mỗi xe dán khẩu hiệu chữ đỏ tươi THẦN TỐC, TÁO BẠO. Các đơn vị bộ binh theo kế hoạch lên xe, Bộ tham mưu quân đoàn kiểm tra lần cuối. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Quân đoàn trưởng ra lệnh xuất phát. Đoàn xe rùng rùng lăn bánh, nhằm hướng phía Nam phóng đi. Được Quân khu 5 và các tỉnh vùng mới giải phóng bảo đảm an ninh trục đường 1 khá tốt. Quân đoàn 2 tiến như lốc qua Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, vượt sông Đà Rằng. Cả hai cây cầu liên tiếp qua dòng sông chính và nhánh rộng gần 2.000m. Đi chừng 14km đến đèo Cả dài khoảng 10km lượn quanh dải Chư Hơ Mu cao ngất sát biển. Đại quân phải qua vùng đất nhiều chướng ngại hiểm trở, nơi phòng tuyến địch mới rút.

Dinh Thống Nhất ngày nayẢnh: An Thành Đạt

Cục Hậu cần bộ đội Trường Sơn cũng đã kịp triển khai mọi mặt đảm bảo quân cơ động. Phân viện Quân y 59 do bác sỹ Lê Văn Đính trực tiếp chỉ huy triển khai làm tuyến sau trực tiếp của cánh Duyên Hải. Nhanh chóng xử lý các ca bị thương nhẹ trả về đơn vị, tiếp nhận thương bệnh binh nặng, giảm khó khăn cho công tác đảm bảo của Quân đoàn cơ động. Nhờ việc tiếp tế vật chất, bổ sung kịp thời khẩn trương, Quân đoàn 2 tiếp tục đi ngay. Trung đoàn 812 – Quân khu 6 đang bám trụ ở Phú Long – cửa ngõ vào Phan Thiết, khi đại quân đến liền nhận nhiệm vụ tiên phong như mũi lao phóng đúng tử huyệt quân địch. Tuyến ngăn chặn của chúng bị vỡ toang. Mũi xung kích quân đoàn xốc tới quặp lấy quân giặc nghiền nát… Pháo hạm địch từ biển hối hả bắn chặn đường. Các khẩu tầm xa liền hạ càng, bắn dồn dập vào tàu địch. Một trận đối pháo dữ dội. Phi đội phản lực nhào xuống phóng bom, lập tức bị những khẩu đội cao xạ đánh trả quyết liệt. Những pháo thủ đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu với giặc lái Mỹ ở Trường Sơn, nhanh chóng loại ngay mấy tên giặc lái ngụy khỏi vòng chiến. Hai máy bay giặc tóe lửa, một chúi đầu xuống biển, chiếc còn lại cút thẳng. Phía biển, một chiến hạm bùng cháy, lật nghiêng chìm nghỉm, mấy chiếc thoát chết dông thẳng ra khơi.

Không để lỡ thời cơ, Quân đoàn trưởng phát lệnh mũi tiên phong thần tốc truy kích xuống Hàm Tân, không cho nó thoát về Bà Rịa – Vũng Tàu. Các đơn vị chỉnh đốn đội hình…Đội xe chở quân cơ động, nhân lúc ngưng chiến, tranh thủ nấu cơm. Phó tư lệnh đoàn đi kiểm tra thấy, liền quát:

- Ai chỉ huy ở đây?

- Báo cáo tôi! – Hồ Quang Hương – tiểu đoàn trưởng xe, đứng dậy.

- Sao đồng chí được cho phép nấu ăn?

- Báo cáo phó tư lệnh! Anh em đói bắt đầu run gối rồi.

Phó tư lệnh sững người. Suốt từ sáng, họ chưa có gì vào bụng. Một thực tế không thể cưỡng nổi là sức khỏe… Song một đòi hỏi cấp bách hơn lúc này… “nếu không cơ động hết sức nhanh thì quân địch sẽ chạy thoát, sẽ tập hợp lực lượng co cụm chống chọi… Bộ Tổng tham mưu ngụy và Mỹ đều muốn thế… Nó đang gắng thiết lập phòng tuyến dày đặc kiên cố quanh Sài Gòn để cố thủ đến mùa mưa. Chỉ cần đến lúc đó, thiên nhiên sẽ chặn đứng đại quân ta lại. Nước mênh mông sẽ chia cắt các cánh quân ta thành nhiều mảng, phải chôn chân trên những cù lao trong biển nước vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở các vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc… Cuộc chiến sẽ phải bắt đầu lại… Chính vào lúc không thuận lợi cho bộ binh cơ giới của ta, kẻ địch sẽ phát huy lợi thế hải quân, không quân phản kích ta khắp nơi, không chỉ ở nông thôn mà cả trong thành phố… Nhân dân ta và mọi thứ sẽ…” – Phó tư lệnh khe khẽ lắc đầu như gạt những ám ảnh, tỏ vẻ kiên quyết.

- Đồng chí có nghĩ vì dừng lại, ăn xong bữa cơm sẽ phải trả giá bằng máu hàng trăm ngàn chiến sỹ và nhân dân ta không?

Hồ Quang Hương giật chân đứng nghiêm.

- Tôi xin nhận khuyết điểm.

Phó tư lệnh dịu giọng:

- Năm phút nữa, chỉnh đốn xong tiếp tục hành quân.

Tiếng còi rúc lanh lảnh, tiểu đoàn trưởng thông báo mệnh lệnh. Các phân đội bộ binh nhảy ào lên xe, với xuống buồng lái:

- Yên chí. Bọn tớ có cách nấu ăn của lính Quang Trung hành quân thần tốc. Sẽ có cơm ngon, canh ngọt cho mà xem!

- Này anh bạn! Khi nào cánh này gõ ba tiếng trên nóc, thì một vị nhảy lên chén, một đứa trên này nhảy xuống làm phụ xế đấy.

Tiếng máy khởi động, chuyển bánh rồi tăng tốc phóng như bay trong nắng chiều vàng rực… 16h30 tiếp cận địch. Quân đoàn trưởng hạ lệnh: “Các đơn vị vừa ăn lương khô vừa dàn đội hình tiến công diệt địch. Không cho chúng tháo chạy vô Xuân Lộc, Bà Rịa”.

Đại đội tăng T54 xông lên, xích xe nghiến ken két. Những họng pháo tóe lửa đỏ rực. Tiểu đoàn ôtô Trường Sơn chở bộ binh bám sát đột phá, các cỡ súng liên thanh, B40 đều hướng nòng tưới đạn vào tuyến cố thủ của quân ngụy. Trước sức mạnh thác đổ, chúng cuống quýt bật khỏi công sự, tuông rào rẽ rừng chạy thục mạng… Bộ đội địa phương, dân quân truy lùng bắt sạch.

Ở phía trước các Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4 và Sư đoàn 6 Quân khu miền Đông đang đánh Xuân Lộc. Tin thông báo: ngày 10.4 ta sẽ cắm cờ lên nóc tỉnh đường và khu cố vấn Mỹ… Kẻ địch bị tổn thất nặng, vẫn kêu gào tử thủ… Hai hôm sau lại được thông báo nức lòng… “Chuẩn tướng Lê Minh Đảo đã chạy khỏi Xuân Lộc…, Sư đoàn 18 và hai lữ thủy binh cùng đám biệt động tan tác cả rồi…” Vậy là chặng đường tiến thẳng tới vị trí tập kết khá thuận lợi…

Lúc này nhân đà chiến thắng dồn dập, thế và lực của địch giảm sút rất nhanh, Quân khu miền Đông phát động toàn địa bàn nổi dậy. Các lực lượng kết hợp đánh địch, diệt tề ngụy, trừ gián điệp, đẩy mạnh binh vận làm rã hầu hết tổ chức bảo an dân vệ. Cục Hậu cần quân khu miền Đông nhận lệnh đón binh đoàn cơ động. Chủ nhiệm Sáu Kinh cùng cán bộ các ngành đi chuẩn bị nơi tập kết cho quân đoàn ở vùng núi Chứa Chan, địa thế rộng tương đối kín, suối Già Ui còn sẵn nước. Công binh rà mìn khắp khu rừng, lòng suối bảo đảm an toàn tuyệt đối…

Quân đoàn 2 sau khi chọc thủng phòng tuyến Phan Rang, Phan Thiết tiến nhanh xuống phía Nam. Chớm tới đất miền Đông đã thấy những anh chị đội mũ tai bèo cầm súng đứng dọc đường. Vậy là yên tâm rồi, lái xe ấn lút chân ga… Chừng non một giờ, đội xe dừng trước thanh chắn ngang đường. Một người nai nịt gọn gàng, đeo súng ngắn bước tới, chào hỏi:

- Có phải đội tiền trạm của cánh Duyên Hải không?

- Đúng! Xin cho biết trạm của đơn vị nào?

- Quân khu miền Đông đây.

- Báo cáo! Đoàn Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần đi chỉ đạo công tác hậu cần cánh Duyên Hải, đến làm việc.

Tham mưu trưởng Đinh Thiện mở cửa xe bước xuống. Lương Văn Nho, Phó tham mưu trưởng Miền và các cán bộ quân khu ùa ra, tay bắt mặt mừng. Tuyền là anh em đã một lần quen biết ở hội nghị hoặc ở chiến trường.

Ăn cơm xong, anh Đinh Thiện đề nghị làm việc ngay. Mọi người ngồi quanh tấm bản đồ trải rộng. Phó tham mưu trưởng Miền thông báo chiến sự ở các hướng bao quanh Sài Gòn phát triển thuận lợi, đánh thắng giòn giã, phong trào lên mạnh rất phấn khởi… Anh cười nói: – Điều đáng mừng, đến lúc này các đồng chí trong Bộ chỉ huy vẫn sung sức. Bộ Tư lệnh chiến dịch đóng ở Lộc Ninh, sở chỉ huy tiền phương chiến dịch đã xuống Căm Xe, Tây Bến Cát. Anh Văn Tiến Dũng – Tư lệnh, anh Trần Văn Trà – Phó tư lệnh ở đó.

Tham mưu trưởng Đinh Thiện cũng thông báo quá trình tiến công trong hành tiến của Quân đoàn 2 và tình hình trang bị hậu cần, vũ khí, phương tiện của quân đoàn, rồi nói:

- Do thời gian vận động thay đổi trong hoàn cảnh chiến đấu, nên quân đoàn bị thiếu gạo và nhiên liệu. Đề nghị quân khu cho mượn, Tổng cục sẽ thanh toán sau.

- Trách nhiệm hậu cần tại chỗ mà – Cục trưởng Phạm Kinh vui vẻ hỏi – Xin cho biết số lượng yêu cầu từng loại.

Trưởng phòng kế hoạch lật sổ:

- Xin bổ sung 15 ngày gạo.

- Tôi có thể cấp ngay 300 tấn tại đây. Nếu thiếu xin nhận ở Mây Tần hoặc Cẩm Mỹ – Sáu Kinh trỏ bản đồ – Nó nằm trên đường đại quân đi qua. Còn thực phẩm bổ sung, anh Sáu Thịnh đã có sẵn 700 tấn.

- Xin cám ơn. Đơn vị đã chuẩn bị đủ.

- Còn xăng dầu thiếu bao nhiêu? – Sáu Kinh thật lòng: khoản này thì chúng tôi không sẵn ở đây.

- Quân đoàn cần được bổ sung 200.000 lít xăng – Cục phó vận tải Nguyễn Chúc lật sổ: … và 10.000 lít dầu máy, 15.000 lít ma-zút.

Sáu Kinh bảo trợ lý:

- Đồng chí làm giấy tờ đề nghị Sở Cao su Bình Sơn giải quyết ngay, quân khu chịu trách nhiệm thanh toán – Sáu Kinh ngước nhìn tham mưu trưởng Tổng cục –  Xin đừng ngại, cơ sở này rất tin cẩn. Chúng tôi đã chuẩn bị từ lâu, được phép tỉnh ủy cho vận động.

Hôm sau Quân đoàn 2 tới gọn, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị tập kết ở khu Chứa Chan để chỉnh đốn lực lượng, bồi dưỡng sức cho bộ đội. Tiếp nhận bổ sung vật chất hậu cần, củng cố kỹ thuật phương tiện.

Ngày 24.4 được Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh xác định cụ thể thời gian tấn công, thời điểm phải đoạt được các mục tiêu chủ yếu, tướng Lê Trọng Tấn chỉ đạo điều chỉnh lực lượng thực hiện lệnh tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh.

Quân đoàn 2 chia hai mũi tấn công. Mũi chặn địch tháo chạy ra biển do Sư đoàn 3 tiến xuống chiếm thị xã Bà Rịa và chi khu Đức Thạnh vây cắt Đất Đỏ, Xuyên Mộc. Bước tiếp theo đánh chiếm Vũng Tàu. Mũi hiệp đồng tiến công vào thành phố gồm các Sư đoàn 304, 325, Lữ đoàn tăng 203 đánh cụm cứ điểm Nước Trong, thành Tuy Hạ. Đập tan tuyến phòng thủ hướng đông nam của địch. Lập trận địa pháo nòng dài ở Nhơn Trạch bắn khống chế các mục tiêu quy định trong thành phố, đặc biệt kiềm chế sân bay Tân Sơn Nhất, sông Lòng Tàu và cảng Sài Gòn.

Mờ sáng 25.4, Quân đoàn xuất phát. Được hậu cần Quân khu miền Đông chuẩn bị chu đáo tuyến giao thông chiến dịch. Dựa vào đường be mở trục cắt ấp Rừng Lá, dẫn đường Sư đoàn 3 qua lối cầu Cỏ May tiến xuống thành phố biển rất nhanh gọn. Công binh mở đường tắt cho cánh quân thứ hai thọc tới lộ 320 liên huyện, lộ 15 tiếp cận mục tiêu Nước Trong, thành Tuy Hạ… Kịp thời gian quy định mở màn tổng tiến công Sài Gòn.

Quân đoàn 2 bước vào chiến dịch trong hoàn cảnh được bảo đảm đầy đủ, bộ đội dân quân giăng giăng trên đường càng nức lòng chiến đấu. Quân đoàn cứ theo phương án đã định, 17h ngày 26.4 mở màn thần tốc tiến công đập tan sức kháng cự của kẻ địch tại Bà Rịa, Vũng Tàu, Long Thành, cụm cứ điểm Nước Trong… Kẻ địch ngoan cố chống trả dữ dội nhưng đều bị nghiền nát cùng lúc với đòn đánh bẹp thành Tuy Hạ.

Những trận đánh trên hướng này, vấp kẻ địch như con thú giãy chết, tung hết sức mạnh cuồng nộ… Ta bị thương vong gần 300 chiến binh. Nhờ các đội cứu thương nhân dân hỗ trợ, kịp thời cấp cứu thương binh chuyển tới các đội phẫu, sau đó cáng tiếp về bệnh viện quân dân Xuân Lộc. Bác sỹ Việt – nguyên đội trưởng điều trị K23 hậu cần miền Đông rất tận tụy, anh chị em y tế không quản ngày đêm cứu chữa, nên hạn chế được tỷ lệ thương binh nặng bị chết. Việc chăm nuôi thương binh được các hội quần chúng địa phương lo liệu rất chu đáo. Mọi hậu quả của trận đánh lớn dài ngày không thành gánh nặng cho quân đoàn chủ lực trong quá trình tiến công vào hang ổ cuối cùng của giặc.

Bộ tổng tham mưu ngụy thấy rõ sức nặng áp đảo đã vào tận gan ruột Sài Gòn. Nó liều lĩnh tàn bạo cho lệnh phá sập hàng loạt cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc, Sài Gòn, Tân Cảng, Bình Triệu, Chữ Y… nhưng độc thủ này cũng không trót lọt. Trung đoàn 10 đặc công nước phối hợp đặc công nội đô và đặc công Miền phái xuống, tỏa đi đánh bắt, diệt hết những đứa sắp gây tội ác, rồi chốt giữ. Bộ đội đặc công thoắt trở thành người canh gác sự sống của con đường tiến vào kết thúc vận mệnh đám quỷ dữ Sài Gòn.

Chỉ sau 4 ngày, đạo quân binh chủng hợp thành đã bóc hết lớp vỏ ngoại vi, ung dung sẵn sàng chờ lệnh đột nhập đô thành, chiếm gọn mục tiêu chủ yếu Dinh Độc lập.

Trải qua 55 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1,1 triệu tên địch, làm tan rã toàn bộ lực lượng phòng vệ dân sự gồm hơn 1 triệu tên; tiêu diệt và làm tan rã 4 quân đoàn ngụy gồm 13 sư đoàn bộ binh, lính nhảy dù, lính thủy đánh bộ, 6 sư đoàn không quân, 22 trung đoàn hải quân, toàn bộ lực lượng pháo binh, thiết giáp, thu toàn bộ vũ khí, thiết bị và phương tiện chiến tranh của địch. Tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự ngụy, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Theo Trường Sơn – Có một thời như thế
Đại tá NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
Ghi chép chiến dịch 4.1975

daibieunhandan.vn

Ngày 29/4/1975: Tổng tiến công trên toàn bộ mặt trận

(VOV) – Trong ngày 29/4/1975, ta đã giải phóng Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An và Vũng Tàu  

Ngày 29/4/1975, tổng tiến công trên toàn bộ mặt trận, ngăn chặn và tiêu diệt các tập đoàn chủ lực bên ngoài, thọc sâu vào bên trong, cùng lực lượng tại chỗ đánh chiếm các địa bàn quan trong ở vùng ven, làm tê liệt hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất.

Bộ đội Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất (Ảnh: Báo ảnh Việt Nam)

Ở hướng đông, ta tiếp tục phát triển tiến công căn cứ Nước Trong, nam căn cứ Long Bình, đánh chiếm phần lớn thị xã Vũng Tàu. Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến tới cầu xa lộ Đồng Nai.

Quân đoàn 4 đánh chiếm căn cứ Yên Thế, tranh chấp Hố Nai, sân bay Biên Hòa.

Ở hướng bắc và tây bắc, Quân đoàn 1 tiến tới Bắc Lái Thiêu, Quân đoàn 3 chiếm căn cứ Đông Dù, Trảng Bài phát triển tiến công trại huấn luyện Quang Trung, Bà Quẹo.

Ở hướng tây nam và nam, Đoàn 232 chiếm chi khu Đa Huệ thị xã Hậu Nghĩa, có đơn vị tiến vào được Bà Quẹo, Bà Lác.

Trong ngày 29/4/1975, ta đã giải phóng Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An và Vũng Tàu./.

Theo Ngày này năm xưa, NXB Lao Động 1998

Ngày này cách đây 36 năm, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn

Trận chiến đấu cuối cùng vì độc lập, tự do (25/04/2011)

Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh   Ảnh: T.L

Tốc độ phát triển của chiến sự làm Tổng hành dinh tại Hà Nội phải thay bản đồ mới, khi những ký hiệu xanh, đỏ thể hiện tình hình ta và địch tại các trọng điểm trở nên dày đặc, chi chít. Thời cơ giành toàn thắng đã đến gần.

Lúc này lực lượng địch đã bị căng ra rất mỏng, lực lượng dự bị còn rất ít. Trong nội đô chỉ còn dựa vào lực lượng cảnh sát và phòng vệ dân sự. Chính quyền Sài Gòn cũng có những động thái muốn hoãn binh, lập chính phủ mới đi đến giải pháp chính trị, cố tránh một cuộc tiến công lớn vào Sài Gòn nhằm cứu vãn chế độ, rồi tìm cơ hội phản công lại…

Tại Tổng hành dinh, đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe báo cáo, đề đạt các phương án tác chiến giải phóng Sài Gòn. Các nhận định được thống nhất: Hướng Đông và Tây-Tây Bắc là nơi địch có lực lượng mạnh. Ở hướng Tây và Tây-Nam địch bố trí phòng thủ yếu hơn. Địch đang dồn lực lượng ra đối phó với ta vòng ngoài nên nội đô rất yếu. Nếu đánh thiệt hại nặng vòng ngoài thì bên trong có thể có tình hình đột biến. Thế mạnh chiến lược của ta là trong ngoài cùng đánh, quần chúng bên trong nổi dậy. Phương án định ra là: chọn hướng Tây Bắc là hướng tiến công chủ yếu. Hướng Đông là hướng quan trọng. Hướng Đông Nam là hướng thọc sâu. Cần thực hiện đánh bao vây chia cắt, đột kích thật mạnh từ bên ngoài với tác chiến, phá hoại, nổi dậy từ bên trong, không cho địch co cụm vào nội đô, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chính trị, quân sự, kinh tế chủ yếu. Năm mục tiêu quan trọng được xác định là dinh Tổng thống ngụy quyền, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất.

Tổng hành dinh đã cử ngay cán bộ vào trao đổi trực tiếp với Bộ chỉ huy mặt trận. Thực hiện kế hoạch đã thống nhất, trên chiến trường, quân ta nhanh chóng cơ động lực lượng chủ lực, binh khí kỹ thuật tiếp cận chiến trường, tạo uy thế tuyệt đối về lực lượng so với địch. Đẩy mạnh đánh chia cắt bao vây quân địch. Các đơn vị quân khu 8, 9, các đơn vị đặc công, biệt động vùng tăng cường đánh địch áp sát thành phố Cần Thơ và ngăn chặn các con đường huyết mạch xuống đồng bằng sông Cửu Long… Phát huy sức mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công giải phóng một số khu vực quan trọng, mở thông từ Đông Nam Bộ sang Tây Nam Bộ, đánh thông hành lang Tây Ninh – Kiến Tường, làm chủ một phần sông Vàm Cỏ Tây tạo thế thuận lợi cho lực lượng phía Nam tiến công vào Sài Gòn.

Thế trận tại chỗ đã bày xong. Các lực lượng quen thuộc chiến trường sẽ đảm nhiệm các hướng có địa hình phức tạp, dành những hướng gần nhất phía Bắc và phía Đông cho các lực lượng từ xa đến. Ở hướng Bắc, ta bố trí quân đoàn 1. Hướng Tây, quân đoàn 3. Hướng Nam, trung đoàn 88 và 24 được tăng cường trung đoàn 271B. Sư đoàn 5, sư đoàn 8 áp sát Mỹ Tho. Hướng Đông, quân đoàn 4 sau khi giải phóng Xuân Lộc áp sát Trảng Bom, quân đoàn 2, sư đoàn 3 và lữ đoàn 52 (Quân khu 5) tiến sát Long Thành, Vũng Tàu, Nước Trong. Sáu trung đoàn đặc công và hàng chục đội biệt động đã sẵn sàng từ vùng ven đến nội thành.

Tại Tổng hành dinh, trên tấm bản đồ Chiến dịch Hồ Chí Minh, các mũi tên lớn màu đỏ vây chặt hang ổ cuối cùng của địch.

Giờ G đã điểm, cả chiến trường như nổ tung. Các phương tiện thông tin trong và ngoài nước hoạt động sôi sục. Tin chiến thắng tràn ngập báo đài… Tối 27-4, hướng Tây Bắc sư đoàn 316 chặn địch ở Phú Mỹ và Đông Trảng Bàng. Hướng Tây Nam ta áp sát đường số 10, chặn địch trên đường số 4 chia cắt Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long, mở đầu cầu vượt sông Vàm Cỏ Đông, chiếm lĩnh vùng ven. Hướng Đông ta tiến công căn cứ Nước Trong, chi khu quân sự Long Thành và thị xã Bà Rịa. 17 giờ ngày 28-4 phi đội Quyết Thắng đã tiến công sân bay Tân Sơn Nhất bằng máy bay thu được của địch.

Sau hai ngày tiến công ta đã cơ bản thực hiện được kế hoạch, bao vây cô lập Sài Gòn, chiếm được một số mục tiêu quan trọng như Trảng Bom, Long Thành, Đức Thạnh. Sân bay Tân Sơn Nhất bị tê liệt. Lực lượng vũ trang và nhân dân vùng ven đã phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công và nổi dậy tiến công các căn cứ địch xung quanh thành phố. Hệ thống chỉ huy của quân ngụy đều rối loạn. Chính quyền thay đổi. Nhiều nhân vật lớn của Sài Gòn vội vã chạy ra nước ngoài. Các nhân viên quân sự, dân sự của Mỹ tháo chạy bằng máy bay lên thẳng… Đêm 28-4, Tổng hành dinh thức trắng đêm. Tổng bí thư Lê Duẩn điện khẩn vào chiến trường: … “tiếp tục tiến công vào Sài Gòn với khí thế hùng mạnh nhất…”.

Chiến trường vẫn tiếp diễn với các cuộc chiến đấu ngày càng ác liệt, khẩn trương hơn. Tối 29-4, hướng Tây Bắc, quân đoàn 3 đã tiến công tiêu diệt được căn cứ Đồng Dù, bắt sống tư lệnh sư đoàn Lý Tòng Bá. Nhân dân Củ chi nổi dậy chiếm quận lỵ. Hướng Bắc, quân đoàn 1 đã chiếm được thị trấn Tân Uyên, bao vậy Phú Lộc, tiến xuống Lái Thiêu. Hướng Tây Nam, đoàn 232 cũng đã chiếm thị xã Hậu Nghĩa, chi khu quân sự Đức Hòa, thị xã Tân An, thị trấn Bến Lức. Hướng Đông, cuộc tiến công của ta có khó khăn hơn khi địch chống cự dữ dội. Quân đoàn 4 bị kìm chân đang nỗ lực chọc thủng phòng tuyến cố thủ của địch.

Theo kế hoạch, 5 giờ 30 ngày 30-4 các hướng sẽ đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Do tình hình phát triển thuận lợi, cánh quân phía Đông do tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy xin nổ súng trước, lúc 18 giờ 29-4, sớm hơn 12 tiếng đã được chuẩn y. Tổng bí thư Lê Duẩn đã nói với đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Đánh, đánh, đánh thôi anh ạ! Lúc này, cánh quân nào phát triển thắng lợi là tạo thắng lợi chung cho toàn chiến dịch”. Và như vậy, trên thực tế trận tiến công cuối cùng vào Sài Gòn – Gia Định là lúc 18 giờ ngày 29-4.

Ngày 30-4, trên tấm bản đồ chiến sự, các mũi tên đỏ đã phát triển rất nhanh về trung tâm thành phố. Lực lượng thọc sâu của quân đoàn 2 trên cánh quân phía Đông vượt qua sông Đồng Nai. Pháo binh của ta ở Nhơn Trạch pháo kích dữ dội sân bay Tân Sơn Nhất. Các đơn vị đầu tiên đã tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn. Quân đoàn 4, sau một thời gian bị kìm chân đã dũng mãnh tiến công tiêu diệt được Trảng Bom, tràn lên đánh chiếm Hố Nai, tiêu diệt quân đoàn 3 ngụy, tiến thẳng vào nội đô. Sư đoàn 10, quân đoàn 3 tiến công mạnh vào ngã tư Bảy Hiền. Quân đoàn 1 đánh vào Lai Khê, Phú Lộc, Lái Thiêu thẳng vào Gò Vấp. Đoàn 232 cũng xốc tới Biệt khu thủ đô và Tổng nha Cảnh sát. Trung đoàn 1 và 2 Gia Định áp sát sân bay Tân Sơn Nhất mở tuyến vào ngã tư Bảy Hiền. Bộ đội đặc công chiếm giữ được cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Biên Hòa không để địch kịp phá hoại ngăn bước tiến của quân ta. Ở vùng ven đô, nội đô, nhân dân nổi dậy phối hợp với bộ đội tiến công địch. Nhiều quận, phường, xóm đã được giải phóng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã điện gấp vào chiến trường: “Ủy ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh: …Quân giải phóng đang tiến vào giải phóng thành phố; Quân đội ngụy quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng; Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp…”

10 giờ ngày 30-4, xe tăng của ta đã tiến vào nội đô; Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng… 11 giờ 30 đơn vị thuộc cánh quân phía Đông đã cắm cờ trên dinh Độc Lập. Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Kế hoạch tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn toàn thắng lợi.

Tại Tổng hành dinh các cán bộ nghẹn ngào xúc động. Cả đất nước như trào dâng niềm vui phấn khởi. Tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường, làng quê, thôn xóm. Ước mơ nước nhà độc lập, thống nhất, dân ta sống trong hạnh phúc, hòa bình mà Bác hằng mong đã thành sự thật.

Thắng lợi vang dội của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã làm nức lòng quân và dân cả nước và bạn bè khắp năm châu. Niềm vui hòa trong nước mắt khi nghĩ đến biết bao đồng chí, đồng đội, đồng bào đã ngã xuống cho ngày hôm nay, bao cán bộ, chiến sĩ, nhân dân đã vĩnh viễn ra đi trước giờ toàn thắng.

M.Ngọc Hà (Tổng hợp)

Đại Đoàn Kết

Bộ Chính trị đồng ý: Lấy tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn là chiến dịch Hồ Chí Minh

Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh (ngồi từ trái qua: Đại tướng Văn Tiến Dũng, đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Phạm Hùng)

Ngày 14-4-1975, thể theo lời đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch Sài Gòn – Gia Định và nguyện vọng của đồng bào, chiến sĩ cả nước, trong bức điện số 37 TK, Bộ Chính trị đã đồng ý lấy tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn là chiến dịch Hồ Chí Minh.

4 giờ 30 sáng 14-4-1975, hải quân ta bất ngờ đổ bộ nhanh chóng tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, giải phóng đảo Song Tử Tây, kéo cờ Tổ quốc lên đỉnh cột cờ của đảo, khởi đầu cho việc đánh chiếm các đảo Trường Sa do quân ngụy đóng giữ.

Tiếp đó vào ngày 25-4, quân ta đánh chiếm đảo Sơn Ca. Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Ngày 28-4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng.

Cùng ngày 14-4, quân ta nổ súng đánh Phan Rang. Trận tiến công diễn ra quyết liệt. Được không quân hỗ trợ, dựa vào hệ thống công sự và địa hình thuận lợi, quân địch ngoan cố chống cự. Trong hai ngày đầu tiên ta chỉ đánh chiếm được một số vị trí ngoại vi của Phan Rang.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Chuyện kể về “đường mòn Hồ Chí Minh” trên biển: Huyền thoại những con tàu

Cửa biển Thạnh Phong - đường vào các bến tiếp nhận vũ khí Bắc - Nam năm xưa

Trong 10 năm từ 1962 đến 1972, tại bến Đồ Sơn (Hải Phòng) đã có gần một trăm lượt con tàu bí mật của Đoàn 125 xuất phát, vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, phương tiện và hàng trăm cán bộ chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần làm nên nhiều chiến công vang dội. Bến Đồ Sơn còn được gọi mật danh là “K.15”.

Nơi xuất phát những con tàu bí mật vào Nam

Ngày 18/8/1960, một con tàu gỗ gắn máy thủy động cơ xuất phát từ Cồn Tra (xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, Bến Tre) mở đường đầu tiên (thời kỳ chống Mỹ) ra Bắc để xin chi viện vũ khí. Trên tàu này gồm có 8 đồng chí, do ông Lê Công là Bí thư chi bộ kiêm thuyền trưởng. Mật khẩu vượt biển vào lãnh hải miền Bắc xã hội chủ nghĩa là: “Đơn vị 106B đi tìm anh 3D”. Sau 4 ngày đêm vượt trùng dương, tàu của ông Lê Công đến miền Bắc an toàn, cuộc hải hành trên được hoàn toàn giữ kín. Sau khi ở lại Bắc gần hai năm để học đường lối, chủ trương của Đảng các thành viên trên tàu Lê Công được đưa đến bến Đồ Sơn (K.15) chờ bố trí tàu vận chuyển vũ khí vào Nam.

Vàm Khâu Băng - Thạnh Phong (Thạnh Phú, Bến Tre) - nơi bà Nguyễn Thị Định xuống tàu, xuất phát đầu tiên ra miền Bắc (năm 1946) xin chi viện vũ khí

Tại Cà Mau, ngày 20/7/1961, ông Bông Văn Dĩa (người Cà Mau) được Khu ủy Khu 8 và Tỉnh ủy Cà Mau cử ra Bắc cũng bằng con đường biển trên để liên hệ Trung ương chở vũ khí vào Cà Mau. Cũng giống như tàu của ông Lê Công, số chiến sĩ trên tàu của nhà cách mạng Bông Văn Dĩa được bố trí đến bến Đồ Sơn, chờ lệnh xuất phát về Nam.

Tại bến Đồ Sơn, đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ gắn máy mang tên “Phương Đông 1” chở 30 tấn vũ khí do thuyền trưởng Lê Văn Một và Chính trị viên Bông Văn Dĩa chỉ huy, xuất phát lên đường vào Nam. Trước khi xuất phát, đích thân các nhà lãnh đạo Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà đến bến cảng Đồ Sơn động viên cán bộ, chiến sĩ trên tàu. Đồng chí Phạm Hùng nói: “Các đồng chí là những người đầu tiên mở ra con đường biển Bắc – Nam này. Nó cũng giống như trên Trường Sơn kia, các đồng chí là những người tiên phong đi khai sơn phá thạch”. Sau 5 ngày vượt biển Đông, ngày 16/10/1962, tàu đến cửa Bồ Đề và cặp bến Vàm Lũng (xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau) an toàn. Đây là chuyến chở vũ khí đầu tiên vào Nam bằng đường biển và con đường vận tải chiến lược trên biển Đông chính thức ra đời. Sau này, ông Bông Văn Dĩa được tuyên dương Anh hùng các LLVT Nhân dân.

Kế đến, ngày 11/11/1962, tàu của ông Lê Công được lệnh trở vào Nam, chở theo 75 tấn vũ khí. Ngày 18/11/1962, tàu cặp bến an toàn tại Vàm Lũng (Cà Mau). Đây là chuyến thứ hai chở vũ khí vào Nam thành công sau chuyến đầu tiên “Phương Đông 1” của ông BôngVăn Dĩa. Tàu trên còn có mật danh là “Phương Đông 2”.

Sau những chuyến tàu chở vũ khí đầu tiên do chính các chiến sĩ từ miền Nam xin chi viện, từ cuối năm 1962 đến 1972, tại Đồ Sơn (Hải Phòng) đã có gần 100 lượt tàu của Đoàn 125 HQ xuất phát “chở hàng” chi viện cho chiến trường miền Nam. Điểm đến là các bến: Tân Ân (Cà Mau), Thạnh Phong (Bến Tre), Vũng Rô (Phú Yên), Lộc An (Xuyên Mộc, Bà Rịa-Vũng Tàu), Đức Phổ, Sa Kỳ, Ba Làng An (Quảng Ngãi). Tất cả đã vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí và hàng trăm cán bộ cốt cán; góp phần làm nên nhiều chiến thắng vang dội. Hiện nay, di tích còn lại của bến Đồ Sơn (K.15) là 15 trụ bê-tông cầu cảng, cách mép bờ khoảng 30m. Còn trên bờ còn lại là một số nền móng kho hàng, bể nước.

Những bến tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam ít được nhắc đến

Ngoài những bến đã được báo chí nhắc đến nhiều như Thạnh Phong (Bến Tre), Vàm Lũng (Cà Mau), Vũng Rô (Phú Yên)… thì bến đến Lộc An và các bến đến tại Quảng Ngãi vẫn lặng lẽ theo năm tháng dù rằng trước đó, các bến tiếp nhận này đã góp phần rất lớn vào các chiến công tại miền Đông Nam bộ và Khu 5.

Bia lưu niệm bến đến Thạnh Phong - đường Hồ Chí Minh trên biển - tại đầu Vàm Khâu Băng do Lữ đoàn 125 HQ xây dựng

Bến Lộc An nay thuộc xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa-Vũng Tàu). Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đoàn 125 HQ đã tổ chức 3 chuyến tàu cặp bến thành công, vận chuyển 109 tấn vũ khí, kịp thời trang bị cho quân dân các tỉnh miền Đông, Khu 6 tham gia các chiến dịch, góp phần làm nên chiến thắng như trận Bình Giã, Đồng Xoài, Dầu Tiếng, Bầu Bàng (1965). Có thể kể đến” Chuyến 1: Ngày 26/9/1963, chiếc tàu gỗ mang số hiệu 41 gồm 12 chiến sĩ do thuyền trưởng Lê Văn Một (vào Nam lần hai) và Chính trị viên Đặng Văn Thanh chỉ huy, chở 18 tấn vũ khí vào bến Lộc An. 3 giờ sáng ngày 2/10/1963, tàu cặp bến an toàn, lực lượng địa phương (Đoàn 1500) đã chờ sẵn ở bến để bốc hàng. Lúc này thủy triều bắt đầu rút làm tàu mắc cạn, gần đó là đồn địch (đồn Phước Hải); nhưng cán bộ, chiến sĩ tàu 41 đã mưu trí, dũng cảm bảo vệ an toàn con tàu và bến bãi. Chuyến 2: Ngày 29/11/1964, tàu mang số hiệu 56, gồm 16 chiến sĩ do thuyền trưởng Nguyễn Quốc Thắng và chính trị viên Trần Quốc Tuấn chỉ huy. Tàu 56 chở 44 tấn vũ khí, cặp bến Lộc An an toàn, và chuyến hàng chiến lược này đã kịp thời trang bị cho các đơn vị chủ lực miền Đông, Khu 6 tham gia mở đợt 2 chiến dịch Bình Giã (1/1965). Chuyến 3: Vẫn tàu 56. Tàu do thuyền trưởng Lê Quốc Thân và Chính trị viên Trần Quốc Tuấn chỉ huy, chở 47 tấn vũ khí xuất phát vào ngày 27/1/1965 và cặp bến Lộc An an toàn vào đêm 1/2/1965. Số vũ khí chở vào lần này tiếp tục trang bị cho quân dân Khu 6 tham gia giai đoạn 3 chiến dịch Bình Giã. Ngày 7/3/1965, chiến dịch Bình Giã kết thúc thắng lợi đã làm thất bại cơ bản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ – ngụy, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng miền Nam.

Nhưng các bến đến tại Quảng Ngãi mới thật mang nhiều ấn tượng. Tại đây, Đoàn 125 HQ đã tổ chức 4 chuyến (2 chuyến vào bến Đức Phổ, 1 chuyến vào bến Sa Kỳ, 1 chuyến vào bến Ba Làng An). Cả 4 chuyến đều gặp địch, cán bộ, chiến sĩ trên tàu đã anh dũng chiến đấu, hủy tàu để không lọt vào tay địch và sau đó anh em thủy thủ vượt ngược Trường Sơn ra miền Bắc trở về đơn vị. Chuyến 1 (vào Đức Phổ – Quảng Ngãi): Ngày 19/11/1966, tàu mang số hiệu 41 được lệnh chở 59 tấn vũ khí vào Đức Phổ, trên tàu có 17 chiến sĩ, do thuyền trưởng Hồ Đắc Thanh và Chính trị viên Đặng Văn Thanh chỉ huy. Trên đường vượt biển, gặp thời tiết xấu nên tàu phải dừng lại nhiều lần trên biển. Đến đêm 23/11, tàu tiếp tục đi và đêm 26/11 tàu đến bến qui định, thả hàng trong điều kiện sóng to gió lớn. Rạng sáng 27/11, lúc tàu chuẩn bị quay ra thì bị mắc cạn. Để giữ bí mật, Chi ủy và chỉ huy tàu quyết định hủy tàu. Có điều tàu nổ không đúng thời gian đặt chất nổ làm 2 chiến sĩ hy sinh là Trần Nhợ và DươngVăn Lộc. Trong khi đó 15 thành viên còn lại, đã vào được đến bờ, sau đó tất cả đi bằng đường bộ, vượt dãy Trường Sơn và mãi đến 4 tháng sau mới trở về đơn vị an toàn. Chuyến 2 (vào Sa Kỳ): Ngày 14/3/1967, tàu 43 do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng và Chính trị viên Trần Quốc Tuấn, được lệnh chở 50 tấn vũ khí vào Sa Kỳ – Quảng Ngãi. 2 giờ sáng ngày 18/3/1967, khi tàu còn cách Sa Kỳ vài chục hải lý, anh em trên tàu thấy tàu địch bám theo tàu ta, còn trên không thì máy bay địch quần thảo, thả pháo sáng liên hồi, làm sáng rực cả một vùng biển đêm. Trước tình hình nguy cấp trên, anh em thủy thủ trên tàu quyết định phá vòng vây đưa tàu vào bến. Khi phá vòng vây, 3 tàu chiến địch bám theo, tàu 43 buộc phải nổ súng và cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra sau đó. Tàu chiến địch gọi điện cho nhiều máy báy đến yểm trợ. Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra 3 giờ liền, tàu ta bị trúng đạn nặng, tình thế mỗi lúc thêm bất lợi, nếu tiếp tục chiến đấu, trời sẽ sáng và nhất định địch sẽ tăng cường lực lượng vây tàu ta. Nhận định vậy nên cấp ủy và chỉ huy tàu quyết định hủy tàu để không lọt vào tay địch. Hủy tàu xong, anh em thủy thủ bơi vào bờ an toàn rồi tìm đường trở ra Bắc. Chuyến 3 (vào Ba Làng An): Ngày 6/7/1967, tàu 148 gồm 18 đồng chí, do đồng chí thuyền trưởng Nguyễn Tấn Ích và Chính trị viên Huỳnh Ngọc Trạch chỉ huy, chở 56 tấn vũ khí vào Quảng Ngãi. Vào đêm 11/7, trên đường đi, tàu 148 gặp máy bay và tàu chiến địch bao vây, tàu 148 đánh trả và cơ động vào bến Ba Làng An. Địch đánh tàu ta bị thương nặng, Chính trị viên Huỳnh Ngọc Trạch và thuyền phó Phạm Chuyên Nghiệp hy sinh trong lúc chiến đấu. Ta không phá hủy được tàu và địch cho quân đến kéo tàu đi. Anh em thủy thủ còn lại bơi được vào bờ rồi đi bộ trở ra miền Bắc. Chuyến 4 (chuyến lần thứ hai vào Đức Phổ): Ngày 27/2/1968, tàu 43 gồm 16 đồng chí được lệnh chở 37 tấn vũ khí vào bến Đức Phổ (Đội tàu 43, sau chuyến đi lần trước đã chiến đấu anh dũng với địch, hủy tàu và trở lại miền Bắc anh em trong tàu được nhận một tàu mới, vẫn mang tên 43). Tàu 43 vẫn do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng và Chính trị viên Trần Quốc Tuấn chỉ huy. Ngày 29/2, khi tàu 43 đến gần bến Đức Phổ, cách bờ khoảng chục hải lý thì gặp cùng lúc 6 tàu địch và trực thăng tấn công tàu ta. Anh em trên tàu tổ chức đánh trả. Ta bắn rơi 1 trực thăng của địch, trong khi ta đã hy sinh 3 đồng chí: Vũ Văn Ruệ, Võ Nho Tòng và Phạm Văn Rai. Biết lực lượng địch đông, nếu tiếp tục chiến đấu địch có khả năng cướp tàu ta, nên chỉ huy lệnh cho anh em rút lên bờ và hủy tàu. Anh em còn lại trở về miền Bắc an toàn. Đây là lần thứ hai anh em chỉ huy, thủy thủ tàu 43 lại đi bộ, vượt Trường Sơn trở ra Bắc.

Đài kỷ niệm những con tàu không số tại ngã ba Thạnh Hải - Thạnh Phong

Từ năm 1968 đến 1972, Đoàn 125 HQ chuyển hướng, tập trung vận chuyển vũ khí Bắc – Nam vào sâu tận biển Nam bộ, chủ yếu đến bến Thạnh Phong (Bến Tre) và Tân Ân (Cà Mau). Đến ngày 21/11/1970, tàu 176 do đồng chí Lê Xuân Ngọc làm thuyền trưởng và đồng chí Trần Thành Trung là Chính trị viên chỉ huy bị lộ khi sắp vào bến Thạnh Phong (hủy tàu, ta hy sinh 10 đồng chí) từ đó, các tàu vận chuyển chuyển hẳn vào cặp bến ở các bến thuộc xã Tân Ân. Tại các bến ở Thạnh Phong và Cà Mau, còn là nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt, anh dũng của cán bộ, chiến sĩ vận tải Đoàn 125 HQ anh hùng và quân dân địa phương với máy bay, tàu chiến, các cuộc hành quân qui mô lớn của địch để bảo vệ tàu và hàng. Các trận chiến đấu đó là những tấm gương cao đẹp về phẩm chất và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cán bộ, chiến sĩ Hải quân, đồng thời nói lên tính chất khốc liệt, đầy khó khăn nguy hiểm của công tác vận chuyển vũ khí bằng đường biển chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần đưa đến ngày đại thắng 30/4/1975.

Phan Lữ Hoàng Hà
(Nguồn: tư liệu thống kê của Đoàn 125 HQ)

Các binh đoàn chủ lực của quân đội ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn

(CATP) Mùa xuân năm 1973, sau những thất bại nặng nề cả về quân sự, chính trị và ngoại giao, đế quốc Mỹ buộc phải ký hiệp định Paris về Việt Nam, ngừng ném bom miền Bắc, rút toàn bộ hơn nửa triệu quân Mỹ và hàng vạn quân các nước chư hầu về nước, Tuy nhiên với bản chất phản động, Mỹ ngụy tráo trở không thi hành hiệp định Paris, ngang nhiên lấn chiếm ra các vùng giải phóng, tiếp tục tàn sát đồng bào và đàn áp các phong trào yêu nước của ta.

Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh (hàng ngồi từ trái qua phải: đại tướng Văn Tiến Dũng, đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Phạm Hùng)

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đã họp tháng 6-1973 đề ra Nghị quyết 21, phân tích tương quan lực lượng giữa ta và địch có sự thay đổi về chất. Đảng ta chủ trương tiếp tục đẩy mạnh chiến lược tiến công không những ở vùng rừng núi mà còn tấn công mạnh ở các vùng đồng bằng và đô thị miền Nam.

Bộ Chính trị đã chỉ thị cho Bộ Quốc phòng gấp rút tổ chức các binh đoàn chủ lực cơ động lớn trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh, tạo nên những quả đấm mạnh, sử dụng vào những thời cơ quan trọng nhất tiêu diệt lớn quân địch, làm thay đổi cục điện chiến tranh giải phóng nhiều địa bàn chiến lược, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Quân đoàn 1 (tức Binh đoàn Quyết Thắng) được thành lập đầu tiên vào ngày 24-10-1973 tại miền Bắc, là quân đoàn chủ lực cơ động binh chủng hợp thành và là binh đoàn dự bị chiến lược của Bộ Tổng tư lệnh. Tiếp sau đó, năm 1974 thành lập Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) tại Trung Bộ và thành lập Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) tại Nam Bộ. Đầu năm 1975 thành lập Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) tại Tây Nguyên. Từ sau khi thành lập các binh đoàn lớn, tình hình chiến trường ngày càng sôi động, ta ngày càng thắng lớn.

Trận mở đầu của chiến dịch Đông Xuân 1975, ngày 10-3-1975 ta tấn công giải phóng Buôn Mê Thuộc, ngay sau đó tấn công giải phóng Pleiku, Kontum, toàn bộ Tây Nguyên và Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.

Ngày 19-3-1975 ta tấn công giải phóng Quảng Trị. Đến 25, 26-3-1975 giải phóng Huế và 29-3-1975 đập tan Khu liên hiệp quân sự Đà Nẵng, giải phóng toàn bộå các tỉnh Trung Bộ và đảo Trường Sa.

Xe tăng Lữ đoàn 203 chiếm phủ Tổng thống ngụy: Ảnh tư liệu

Như vậy chỉ trong vòng 19 ngày, từ 10-3 đến 29-3-1975, quân ta đã tấn công với lực lượng áp đảo trong thế chẻ tre, tiêu diệt hoàn toàn Quân đoàn 1 và 2 của địch, xóa sổ Quân khu 1 và 2, hệ thống phòng tuyến của địch từ miền Trung, Tây Nguyên vào Nam Bộ bị ta cắt đứt làm đôi, tiêu diệt vài vạn tên, bắt sống hàng vạn, thu nhiều chiến lợi phẩm. Ngô Quang Trưởng, trung tướng Tư lệnh Quân khu 1 của địch và các cố vấn Mỹ hoảng sợ vội vã dùng trực thăng chạy về Sài Gòn.

Chiến sự chuyển biến rất nhanh, tin vui thắng trận dồn dập, do đó cuối năm 1974 ta chủ trương giải phóng miền Nam trong hai năm (1975 và 1976) thì đến ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị họp đã quyết định chuyển sang phương án thời cơ, chuyển từ tấn công sang tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975 không cần đợi đến năm 1976 nữa.

Trước yêu cầu của trận quyết chiến cuối cùng là giải phóng Sài Gòn, Bộ Tổng tư lệnh đã bố trí các lực lượng lớn áp sát các tỉnh xung quanh Sài Gòn và kịp thời quyết định tung lực lượng dự bị chiến lược Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) từ miền Bắc hành quân thần tốc vào chiến trường miền Nam từ cuối tháng 3-1975. Đây là một cuộc trường chinh xuyên Việt, vượt Trường Sơn bao la hùng vĩ của một binh đoàn lớn, vài ngàn xe ôtô, xe tăng, pháo binh và khối lượng lớn binh khí kỹ thuật đồ sộ thì quả là muôn vàn khó khăn, gian khổ – đường Trường Sơn khi đó là đường đất đỏ, nhiều đèo dốc hiểm trở, qua nhiều sông suối, bụi đường mù mịt, xe sau không nhìn thấy xe trước, phải bật đèn ban ngày để nối đuôi nhau chạy, cái gạt nước trở thành gạt bụi liên tục, cóá đoạn bụi làm ngập tới nửa bánh xe rất khó đi, bụi dính vào người không nhận ra mặt người đó là ai.

Đang trên đường hành quân, qua đường dây thông tin các cánh quân của ta đã nhận được mệnh lệnh của đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc thần tốc hơn nữa, táo bạo táo bạo hơn nữa, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng”. Mệnh lệnh được phổ biến đến từng chiến sĩ, khí thế các đơn vị lên rất cao.

Ngày 14-4-1975 Bộ Chính trị đã đồng ý đề nghị của Bộ Tư lệnh chiến dịch, đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn là “Chiến dịch hồ chí minh” làm cho mọi người phấn khởi, nhảy lên reo hò, quyết chiến thắng.

Tiếp đó hàng loạt các sự kiện mới làm nức lòng quân dân ta. Ngày 16-4-1975 ta đập tan phòng tuyến “tử thủ” Phan Rang của địch, giải phóng Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy, bắt sống trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh tiền phương Quân khu 3 ngụy và chuẩn tướng không quân Phạm Ngọc Sang. Ta thu được 40 máy bay của địch còn nguyên vẹn tại sân bay Thành Sơn.

Ngày 20-4-1975 ta tấn công phá vỡ phòng tuyến Xuân Lộc của địch cách Sài Gòn 80km, cửa ngõ Sài Gòn đã được mở toang.
Ngày 21-4-1975 Nguyễn Văn Thiệu từ chức vội vơ vét nhiều vàng bạc rồi chuồn và trao quyền tổng thống cho Trần Văn Hương. Sau đó gặp bế tắc, ngày 26-4-1975 Trần Văn Hương lại trao chức tổng thống cho Dương Văn Minh.

Ngày 22-4-1975 đại tướng Tổng tư lệnh quân đội ngụy Cao Văn Viên cũng run sợ vội đáp máy bay sang Mỹ. Đến lúc này tình hình địch rất hoảng loạn, mạnh ai người đó chạy, tùy nghi di tản, thật là cảnh thảm bại của bè lũ bán nước.

Ngày 27-4-1975, quân ta ở tất cả các hướng bắt đầu nổ súng tấn công các vùng ven để mở cửa vào Sài Gờn.

Ngày 28-4-1975 ta dùng máy bay địch thu được ở sân bay Phù Cát do Nguyễn Thành Trung chỉ huy phi đội ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 20 máy bay địch, làm cho địch hết sức hoang mang.

Từ 18 giờ ngày 29-4-1975 đến ngày 30-4-1975, ta đồng loạt tổng tấn công vào nội thành Sài Gòn bằng lực lượng năm quân đoàn chủ lực, đánh theo năm hướng, đánh chiếm năm mục tiêu chủ yếu của địch là: Bộ tổng tham mưu quân ngụy, dinh Độc lập, sân bay Tân Sơn Nhất, Tổng nha cảnh sát và Biệt khu thủ đô của ngụy. Ta kết hợp chặt chẽ giữa quân chủ lực với quân địa phương, bộ đội đặc công và phong trào nổi dậy vô cùng mạnh mẽ của quần chúng nhân dân Sài Gòn và các vùng ven.

Cụ thể tại hướng Bắc, Quân đoàn 1 tổ chức thành hai mũi. Mũi thứ nhất Sư đoàn 312 tấn công Bình Dương, tiêu diệt Sư đoàn 5 ngụy, không cho chúng co cụm về Sài Gòn. Tên chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Sư trưởng Sư 5 phải bắn vào đầu tự sát, trên ngực có mảnh giấy viết chữ to: “Nhục nhã, nhiều tiền quá, nhục nhã quá”. Tên đại tá Tỉnh trưởng Bình Dương là Nguyễn Văn Của, run sợ vội lệnh cho thuộc hạ lũ lượt 7.000 tên và hàng trăm xe pháo ra đầu hàng. Giải phóng hoàn toàn Thủ Dầu Một và toàn tỉnh Bình Dương vào lúc 10 giờ 30 ngày 30-4-1975.

Mũi thứ hai Sư đoàn 390 được tăng cường tổ chức thành sư đoàn bộ binh cơ giới mạnh, toàn sư đoàn tiến quân trên 300 xe ôtô và hàng trăm xe tăng, thiết giáp, từ Sông Bé thần tốc táo bạo thọc sâu thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy (nay là Quân khu 7), Tiểu khu Gia Định và khu Binh chủng Gò Vấp.

Tại hướng Đông, Quân đoàn 2 sau khi đánh chiếm Bà Rịa, Long Thành đã qua Nhơn Trạch, Long Bình, tiến thẳng đánh chiếm dinh Độc Lập, 2 xe tăng hạng nặng của ta dẫn đầu đã húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập, bộå đội ta chạy lên lầu hạ cờ ba que của ngụy, giương cao lá cờ giải phóng. Quân đoàn 2 kết hợp với Lữ đoàn thiết giáp đã xông vào bắt sống toàn bộ nội các ngụy, bắt Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ ngày 30-4-1975.

Tại hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 đánh chiếm Tây Ninh, Đồng Dù rồi qua ngã tư Bảy Hiền tấn công đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.

Tại hướng Đông Bắc, Quân đoàn 4 sau khi phá tan phòng tuyến Xuân Lộc đã tiến công giải phóng Trảng Bom, thành phố Biên Hòa, đánh chiếm sân bay Biên Hòa rồi tiến thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ quốc phòng ngụy.

Tại hướng Nam, Đoàn 232 đánh từ Mỹ Tho, Long An rồi tiến thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm Tổng nha cảnh sát ngụy (nay là Bộå Công an) và đánh chiếm Biệt khu thủ đô ngụy (nay là Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố).

Đến trưa 30-4-1975, sau khi giải phóng Sài Gòn không còn tiếng súng, dân chúng đổ ra đường rất đông, đầy cờ hoa, reo hò vang trời đón mừng đoàn quân giải phóng, đón mừng các anh Bộ đội Cụ Hồ.

Sau chiến thắng cả bốn quân đoàn chủ lực và các sư đoàn đều được Nhà nước phong tặng danh hiệu vẻ vang “Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang”.

Giờ đây 36 năm đã trôi qua (30-4-1975 – 30-4-2010), nhớ lại những giờ phút hào hùng của 50 ngày đêm tổng tiến công và nổi dậy của chiến dịch Mùa Xuân 1975 trên toàn miền Nam, chúng ta lại nhớ đến công ơn trời biển của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, nhớ lời của Bác: “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Sự thật đã diễn ra đúng như lời tiên đoán của Bác, đó là mong ước và cũng là mệnh lệnh của Bác để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

TRẦN VŨ HÒA

Chiến thắng Xuân Lộc – biểu hiện của sự linh hoạt, sáng tạo trong việc chuyển cách đánh

Bị thất bại thảm hại ở Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng, đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, Mỹ – ngụy quyết “tử thủ” Sài Gòn bằng cách dựng lên các tuyến phòng thủ, nhất là ở những khu vực then chốt vùng ngoại vi; trong đó, thị xã Xuân Lộc được chúng xác định là “cánh cửa thép” phía Đông. Ở đây, địch bố trí một lực lượng lớn gồm: Sư đoàn 18 bộ binh mạnh nhất của Quân đoàn 3, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn thiết giáp, 9 tiểu đoàn bảo an của tiểu khu Long Khánh. Đồng thời, chúng tổ chức lực lượng dự bị chiến lược (dù, thủy quân lục chiến) và toàn bộ lực lượng pháo binh của Quân đoàn 3, không quân từ 2 sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất sẵn sàng chi viện bảo vệ Xuân Lộc. Đối với ta, ngày 7-4-1975, Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền thông qua Kế hoạch tiến công quân sự trên mặt trận Sài Gòn, giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 4 (thiếu Sư đoàn 9) và Sư đoàn 6, chủ lực Quân khu 7 đánh chiếm thị xã Xuân Lộc, tạo thế bao vây, áp sát Sài Gòn.

Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh họp chỉ đạo tác chiến. Ảnh tư liệu

Theo kế hoạch ban đầu, ta tổ chức tiến công thẳng vào Thị xã, tiêu diệt Sư đoàn 18 ngụy, giải phóng Xuân Lộc, mở cửa ngõ phía Đông tiến vào Sài Gòn. Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, trận chiến đấu đã diễn ra gay go, quyết liệt. Do pháo binh của ta chưa phát huy được tác dụng; trong khi pháo binh và không quân địch đánh phá ác liệt, cộng với một lực lượng lớn quân ngụy đã được tăng cường cho Xuân Lộc1, nên Quân đoàn 4 tổ chức tiến công nhiều lần vào Thị xã nhưng không thành công, bị tổn thất lớn (chỉ riêng trong hai ngày 9 và 10-4, Sư đoàn 341 đã có 1.100 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, bị thương, đạn pháo tiêu thụ lớn, hơn một nửa số xe tăng bị bắn hỏng). Mặt khác, kế hoạch tiến công không thành công do ta chưa dự tính hết sự phát triển phức tạp của tình huống, chưa đánh giá hết tính chất ngoan cố và khả năng kháng cự của kẻ địch ở thế cùng đường, nhưng đang còn sức. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Miền và Quân đoàn 4 đã kịp tổ chức nghiên cứu đánh giá lại tình hình một cách khách quan, khoa học; nhanh chóng quyết định chuyển phương pháp tác chiến, từ tiến công thẳng vào Thị xã sang bao vây, chia cắt, tiêu diệt viện binh địch, nhằm phát huy sở trường, thế mạnh của ta, khoét sâu điểm yếu và hạn chế tối đa điểm mạnh của địch.

Qua nghiên cứu, ta nhận định: địch tuy bị thiệt hại, đang hoang mang, lúng túng, nhưng lực lượng của chúng còn tương đối mạnh. Chúng quyết tâm bảo vệ Thị xã, bởi Xuân Lộc có vị trí đặc biệt quan trọng trong tuyến phòng thủ Biên Hòa – Bà Rịa – Vũng Tàu. Nếu để mất Xuân Lộc, đồng nghĩa với việc Sài Gòn thất thủ và cũng là “dấu chấm hết” đối với chế độ “Việt Nam cộng hòa”… Mặt khác, ở đây, địch lại có hệ thống công sự, trận địa kiên cố, vững chắc; hệ thống đường giao thông thuận lợi, bảo đảm cho lực lượng dự bị chiến lược của chúng dễ dàng cơ động từ Biên Hòa lên theo đường số 1, từ Bà Rịa ra theo đường số 2, 20 để chi viện, ứng cứu, giải tỏa và rút chạy về Sài Gòn. Tiến công thẳng vào Thị xã, là ta đánh vào nơi địch rất mạnh, lại trong công sự vững chắc, chúng có thể trong đánh ra, ngoài đánh vào; còn ta không phát huy được sở trường và thế mạnh, nên trận chiến đấu khó thành công. Do đó, nhanh chóng chuyển sang bao vây, chia cắt Xuân Lộc với Sài Gòn, kéo viện binh địch ra để tiêu diệt quyết định hoàn toàn đúng đắn là điều kiện tiên quyết bảo đảm trận chiến đấu giành thắng lợi; đồng thời là điều kiện, thời cơ để các lực lượng phát huy sở trường, thế mạnh tiêu diệt địch, nhất là sử dụng trọng pháo tiến công mãnh liệt vào các căn cứ, sân bay, trận địa pháo, khống chế và tiêu diệt từng cụm pháo binh và một bộ phận lớn địch ngoài công sự; tạo điều kiện, thời cơ cho ta tiến lên giải phóng Xuân Lộc, chọc thủng tuyến phòng thủ phía Đông, tiến vào trung tâm (Sài Gòn) tiêu diệt cơ quan đầu não của chúng.

Tượng đài chiến thắng Xuân Lộc - Long Khánh (Ảnh: sưu tầm)

Nhằm bảo đảm giành thắng lợi, Bộ Chỉ huy Mặt trận đã sử dụng lực lượng một cách hợp lý. Rút kinh nghiệm các đợt tiến công trước, ta sử dụng lực lượng của Sư đoàn 6 (Quân khu 7) cùng với lực lượng của Trung đoàn 95 (Sư đoàn 325, Quân đoàn 2), đơn vị có nhiều kinh nghiệm đánh chia cắt chiến trường ở Tây nguyên và đại đội xe tăng mới được tăng cường cho mặt trận đánh chiếm chi khu Túc Trưng, Kiện Tân, tiêu diệt Trung đoàn 52 (Sư đoàn 18) ngụy; đồng thời, có nhiệm vụ đánh địch từ Biên Hòa ra chi viện. Quân đoàn 4 sử dụng pháo binh bắn mãnh liệt vào các vị trí của hai trung đoàn 43, 48 (Sư đoàn 18) và Lữ đoàn 1 dù của địch; đồng thời, các đơn vị bộ binh phát huy thế mạnh của chủ lực Miền, đang triển khai đội hình chiến đấu ở Xuân Lộc – Dầu Giây, thông thuộc địa hình, tiêu diệt viện binh địch từ Biên Hòa đến, Xuân Lộc ra, không cho chúng hợp quân. Cùng với đó, ta sử dụng trọng pháo ở trận địa Hiếu Lâm và hỏa lực mang vác của Đoàn Đặc công 113 liên tục bắn phá sân bay Biên Hòa, nhằm khống chế và hạn chế đến mức thấp nhất không quân địch hoạt động. Thực hiện cách đánh này, ta đã tránh đánh vào nơi địch mạnh, có công sự, trận địa kiên cố, vững chắc, mà đánh địch ở ngoài công sự, nơi ta chuẩn bị trước; phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, hạn chế điểm mạnh và khoét sâu những điểm yếu cốt tử của chúng. Theo phương án tác chiến của Bộ Tư lệnh Miền, các đơn vị nhanh chóng hoàn tất mọi công tác chuẩn bị, triển khai lực lượng, bày thế trận và sẵn sàng đón đánh địch.

Với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, các đơn vị đã tích cực chiến đấu tiêu diệt lớn quân địch ở vòng ngoài, chia cắt Xuân Lộc với Biên Hòa, Bà Rịa. Trận đánh diễn ra đúng như dự kiến và thế trận đã bày sẵn của ta. Xuân Lộc bị bao vây và toàn bộ các căn cứ của địch trong Thị xã đều bị trọng pháo của ta bắn mãnh liệt. Bị bất ngờ, địch vội vàng điều Lữ đoàn 3 kỵ binh, thiết giáp từ Biên Hòa ra phản kích, ứng cứu theo đường số 20, nhưng chưa kịp đứng chân đã bị lực lượng của Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95 được pháo binh chi viện đánh lui, chiếm ngã ba Dầu Giây (mặc dù, lực lượng này vừa hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm xong các vị trí, tiêu diệt Trung đoàn 52 (Sư đoàn 18) ngụy, sau đó mới phát triển tiến công theo đường số 20). Trong lúc đó, Quân đoàn 4 tiếp tục sử dụng pháo binh tiêu diệt các trận địa pháo; đồng thời, chi viện cho bộ binh tiêu diệt địch đến ứng cứu theo đường số 1, chia cắt Xuân Lộc với Biên Hòa, cắt đứt đường số 2 từ Xuân Lộc đi Bà Rịa và tiêu diệt địch từ Xuân Lộc ra ứng cứu cho vòng ngoài. Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, đêm 20-4, quân địch ở Xuân Lộc rút chạy theo đường số 2 về Bà Rịa đã bị lực lượng của Quân đoàn 4 và các lực lượng vũ trang Quân khu 7 chặn đánh dọc đường, tiêu diệt một bộ phận quan trọng, buộc chúng phải bỏ lại nhiều xe, pháo, súng đạn. Trong trận đánh, chúng ta đã tổ chức phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng có hỏa lực mạnh (pháo binh và hỏa lực mang vác) với lực lượng bộ binh tiêu diệt lớn địch ở ngoài công sự và đẩy lùi nhiều đợt phản kích của chúng; bao vây, chia cắt Xuân Lộc, buộc địch phải bỏ chạy về Sài Gòn. Thị xã Xuân Lộc được giải phóng, Quân đoàn 4, Quân đoàn 2, Sư đoàn 3 (Quân khu 5) và các lực lượng vũ trang địa phương hình thành mũi vu hồi chiến dịch rất hiểm ở phía Đông – Đông Nam Sài Gòn, góp phần quan trọng tạo nên thắng lợi vang dội của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trong tương lai, nếu chiến tranh xâm lược xảy ra đối với nước ta, đó sẽ là cuộc chiến tranh tổng lực, sử dụng vũ khí công nghệ cao, với quy mô, cường độ lớn. Vì thế, ngay trong hòa bình, chúng ta cần phải đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc. Trong đó, phải chú trọng những địa bàn chiến lược, làm cơ sở phát triển thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, phải tập trung xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, có tổ chức, biên chế tinh, gọn, hợp lý; đặc biệt coi trọng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tập trung đầu tư, nghiên cứu phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam lên tầm cao mới; ưu tiên phát triển nghệ thuật vận dụng các hình thức chiến thuật, phương pháp tác chiến của các quân chủng, binh chủng, nhất là của các binh đoàn chủ lực đáp ứng yêu cầu của chiến tranh hiện đại. Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc nghiên cứu các cuộc chiến tranh vừa qua trên thế giới, từ đó phát triển nền khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Chiến thắng Xuân Lộc năm xưa, mà điểm nhấn là chuyển cách đánh kịp thời, sáng tạo là bài học hết sức quý báu đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XNCN ngày nay.

Trung tá, ThS. NGUYỄN KHẮC LUYỆN
Trường Sĩ quan Lục quân 1

———————-

1- Địch đã huy động 50% quân chủ lực, 60% pháo binh, hầu hết xe tăng của Quân đoàn 3 và lực lượng dự bị chiến lược tương đương một sư đoàn (cả dù và thủy quân lục chiến); sử dụng từ 60 đến 70 lần chiếc máy bay đánh phá trong một ngày.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975)

Từ 26 đến 30-4-1975: Chiến dịch Tổng công kích giải phóng Sài Gòn-Gia Định – Chiến dịch Hồ Chí Minh

Ta bước vào chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với tư tưởng “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Ta huy động vào chiến dịch này một lực lượng lớn hơn bất cứ chiến dịch nào trước đây, bao gồm cả lực lượng vũ trang và chính trị.

Những ngày đầu chiến dịch

Thời cơ nối tiếp thời cơ, chiến dịch mở ra chiến dịch, hội nghị Bộ chính trị ngày 31/3/1975 xác định “Từ giờ phút này trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân dân ta đã bắt đầu”. Các nghị sĩ Mỹ theo dõi tình hình miền Nam quả quyết, đã quá muộn để làm bất cứ việc gì nhằm lật ngược tình thế ở Việt Nam.

Ngày 1/4/1975 chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu được chuẩn bị theo tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” với tốc độ “một ngày bằng 20 năm”. Ngày 14/4/1975 Bộ chính trị phê chuẩn đề nghị của bộ chỉ huy chiến dịch đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, phương án chiến dịch được thông qua lần cuối.

Như một bức tranh hoành tráng, xe pháo và tàu thuyền đủ loại, bộ đội và dân nhân du kích, dân công và Thanh niên xung phong, những ngả đường tấp nập…, cả dân tộc từ Bắc chí Nam đang hành quân, hậu phương đang dốc toàn lực ra tiền tuyến, nửa miền Nam vừa được giải phóng cũng góp sức vào chuẩn bị giải phóng nửa còn lại.

Đầu tháng 4/1975 Trung ương cục miền Nam ra chỉ thị cho quân dân Nam bộ và Nam Trung bộ (B2) hãy “táo bạo đánh các điểm theo chốt… khi có thời cơ”. Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn quyết định mở chiến dịch chia cắt địch trong toàn B2 để bao vây cô lập dịch ở Sài Gòn. Điện của Bộ chính trị và Quân ủy trung ương nhắc nhở cần chuẩn bị thêm trước khi làm ăn lớn. Chỉ thị của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn căn dặn phải biết tập trung lực lượng đầy đủ vào các trận then chốt.

Ngày 8/4/1975, ta cho ném bom Dinh Độc Lập¹. Ngày 9/4/1975 ta tiến đánh địch ở Xuân Lộc. Ngày 16/4/1975 ta đập tan phòng tuyến phòng thủ từ xa của địch ở Phan Rang. Ngày 17/4/1975 Phnôm-pênh giải phóng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Campuchia đã kết thúc thắng lợi. Trong khi đó ở Lào chính phủ liên hiệp đóng cửa sứ quán ngụy Sài Gòn và ngụy Phnôm-pênh, sau đó vua Lào ra lệnh giải tán quốc hội, cuộc đấu tranh của quân và dân Lào bước hẳn sang thời kỳ chính trị hiệp thương để giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 18/4/1975 tổng thống Mỹ. G.Ford ra lệnh di tản người Mỹ² khỏi Việt Nam. Ngày 20/4/1975 Mỹ buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Ngày 23/4/1975 Mỹ tuyên bố chiến tranh kết thúc, không thể giúp chính phủ Nam Việt Nam. Ngày 24/4/1975 Mỹ – Hương đề nghị xin ngưng bắn… Diễn biến dồn dập ấy diễn ra cùng lúc với 5 cách quân gồm 270.000 bộ đội chủ lực và 180.000 người khác phục vụ chiến dịch đang từng bước chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công vào Sài Gòn.

Diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh tại Sài Gòn

Tại Sài Gòn, sáng ngày 30 tháng 4, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (tướng Vĩnh Lộc tổng tham mưu trưởng đã bỏ chạy) và Nguyễn Hữu Có, lên gặp Dương Văn Minh báo cáo tình hình quân sự, đã thúc đẩy Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu (thủ tướng) đi đến quyết định đơn phương ngừng bắn, chờ “bàn giao trong vòng trật tự”. Dương Văn Minh họp bộ hạ và đưa ra ý kiến “tuyên bố thành phố bỏ ngỏ”. Sau khi bàn luận, Vũ Văn Mẫu viết bản tuyên bố kêu gọi đơn phương ngưng bắn và bàn giao chính quyền cho cách mạng. Bản tuyên bố được phát trên đài phát thanh Sài Gòn lú 9 giờ 30 phút.

Trên tất cả các hướng vào Sài Gòn, quân ta tiếp tục tiến công theo mệnh lệnh của Bộ Chính trị “tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống đối của chúng”.

Địch dùng pháo từ phía Đông xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa bắn ra cắt đội hình lữ đoàn xe tăng 20. Một phân đội của lữ đoàn rẽ vào đánh diệt chúng ở liên trường Thủ Đức (ở Cây Mai). Tại đây chiếc xe 707 đã phải chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và người cuối cùng. 9 giờ 30 phút đoàn xe tăng tiến thuận lợi qua cầu Rạch Chiếc do Z23, lữ đoàn 316 đặc công biệt động đang chiến giữ. Phía trước là cầu Sài Gòn, ở đây tiểu đoàn 4 Thủ Đức đã chiến đấu quyết liệt, giằng co với địch từ đêm 29 rạng 30 tháng 4, đến 7 giờ sáng ngày 30 tháng 4 mới chiếm lại được đầu cầu phía Đông. Đoàn xe tăng lữ đoàm 203 đến đầu cầu Sài Gòn, 2 xe dẫn đầu đội hình tăng tốc vượt qua được nửa cầu thì bị xe tăng địch ở phía Tây vòm cầu bắn cháy. Đội hình xe tăng ta phải dừng lại ở đầu cầu phía Tây. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn xe tăng Ngô Văn Nhỡ cầm cờ hiệu và điện đài chỉ huy tốp xe dẫn đầu vượt cầu lại bị trúng đạn địch và hy sinh trên tháp pháo. Lữ đoàn phó Trần Minh Công lên chỉ huy vượt cầu. Địch tiếp tục bắn hỏng thêm 2 xe tăng. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và chính trị viên Vũ Đặng Toàn chỉ huy đại đội 4 vượt qua cầu. Địch lui về ngã tư Hàng xanh, ta bám sát và bắn cháy một xe tăng của chúng tại đây. Các lực lượng tại chỗ bao vây, vận động vô hiệu hóa một số xe khác. Địch ở cầu Thị Nghè ngoan cố chống cự, ta bắn cháy thêm 1 xe tăng, 1 xe thiết giáp.

Qua cầu Thị Nghè, nữ chiến sĩ liệt động Nga (lữ đoàn 16) lên xe tăng cùng Phạm Duy Đô làm nhiệm vụ dẫn đường. Lữ đoàn 203 tiến vào Dinh Độc Lập theo đường Hồng Thập Tự và Đại lộ Thống Nhất do xe tăng 483 của trung úy Bùi Quang Thận dẫn đầu. Một số chiến sĩ biệt động đã có mặt trước dinh Độc Lập. Trong Dinh cũng đã có mặt một số cán bộ tình báo đường dài của ta: Tô Văn Cang, Vũ Ngọc Nhạm một cơ sở binh vận (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh). Chiếc xe tăng 843 húc cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, tiến thẳng vào cửa Dinh. Ngay tức khắc chiến sĩ lái xe Jeep Bùi Ngọc Vân cầm cờ chạy lên tầng 2 phất mạnh trước dân chúng đang reo vui ở cổng Dinh Độc lập. Trong lúc đó, Bùi Quang Thận nhảy ra khỏi xe, cùng một số chiến sĩ tiến thẳng lên ban công thượng của tòa nhà, giật bỏ lá cờ vàng 3 sọc và kéo cờ giải phóng lên cột cờ cao nhất của Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút. Đại đội trưởng Phạm Duy Đô chạy thẳng vào trong Dinh quan sát và trở ra báo cáo ngay với trung tá chính ủy lữ đoàn 203 Bùi Văn Tùng xác nhận sự có mặt của tổng thống và nội các ngụy quyền tại Dinh. Trung tá lữ trưởng Nguyễn Tấn Tài lệnh điều chỉnh đội hình xe tăng bao vây Dinh đề phòng địch phản kích, đồng thời phái một bộ phận ra đánh chiếm cảng Sài Gòn.

Đại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng một số cán bộ, chiến sĩ ta được Nguyễn Hữu Hạnh dẫn đường tiến thẳng vào phòng khánh tiết gặp Dương Văn Minh và nội các Vũ Văn Mẫu. Tiếp đó, các đồng chí Bùi Văn Tùng và Nguyễn Tấn Tài vào phòng khánh tiết. Hai cán bộ tình báo của ta cũng đã có mặt tại đây từ sáng với tư cách là người của lực lượng thứ ba đến vận động Dương Văn Minh sớm đầu hàng: Vũ Ngọc Nhạ, Tô Văn Can. Dương Văn Minh đứng dậy nói: “Chúng tôi đang đợi các ông để bàn giao”. Ta tuyên bố: “Các ông đã bị bắt làm tù bình, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao”.

Dương Văn Minh chấp nhận, trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phan Xuân Thệ và đến đài phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của Dương Văn Minh.

Từ sáng ngày 30 tháng 4 cho đến lúc này tại trung tâm Sài Gòn đã có 34 điểm nổi dậy của quần chúng và lực lượng tại chỗ.

Sau 11 giờ 30 phút ở 41 điểm chủ lực ta chưa tới, quân chúng và lực lượng tại chỗ tiếp tục nổi dậy.

Ở quận 3, tại phường cư xá Đô Thành, lúc 12 giờ ngày 30 tháng 4 khi lực lượng võ trang ta tiến công quận 3, anh Tư và anh Công, người địa phương, cùng một cán bộ biệt động của Z15 (lữ đoàn 316) dùng loa hô hào nhân dân nổi dậy giành chính quyền, kêu gọi sĩ quan và binh lính địch nộp vũ khí đầu hành. Ngay chiều 30 tháng 4 hàng trăm đồng bào xin nhận công tác theo yêu cầu của cách mạng, hàng trăm người khác tự động ra đường thu gom vũ khí, quân trang, quân dụng của địch. Đồng bào treo đầy cờ giải phóng trước nhà riêng, công sở và tự nguyện góp cấp thời lương thực thực phẩm cho bộ đội.

Tại phường Bàn cờ quận 3, các đông chí cơ sở mật của ta: Chị Bảy, anh Châu, anh Ba Đông, phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, chiếm giữ các kho tàng của địch, giữ gìn trật tự, an ninh, làm vệ sinh đường phố. Đồng bào thu gom được 3.000 súng các loại đem nộp cho cách mạng. 16 giờ ngày 30 tháng 4, phường Bàn Cờ tổ chức mít tinh, có 13.000 người dự lễ mừng chiến thắng và giới thiệu những người tốt vào chính quyền mới. Đến 17 giờ, thành lập xong các bạn phụ trách phường, khóm và tổ chức chuyên việc đăng ký ngụy quân, ngụy quyền ra trình diện.

Ở hướng xa lộ Biên Hòa, Z27 sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiếm giữ cầu Rạch Chiếc cho lữ đoàn 203 đi qua, theo lệnh trên, tiến chiếm nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy Zetcô (nay là liên hợp công trình 4) và giữ nhà máy điện Thủ Đức. Nhờ đó, điện ở thành phố chỉ gián đoạn có vài giờ trong ngày 30 tháng 4.

Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, sau khi lữ đoàn 203 xe tăng qua cầu Sài Gòn tiếp tục tổ chức đánh chiếm các đồn bót địch trên trục lộ 33 đoạn từ ngã ba Bình Trưng đến ngã ba Phú Hữu, cùng cán bộ địa phương phát động quần chúng nổi dậy trừng trị ác ôn, giải phóng hai xã Bình Trưng và Phú Hữu.

Tại nhà máy nước Thủ Đức, từ những ngày 27 và 28 tháng 4, nòng cốt công nhân đã lập đội bảo vệ nhà máy. Hàng trăm công nhân và kỹ sư liên tục bám giữ máy, không cho địch phá, bảo đảm cung cấp đầy đủ nước cho thành phố cả nước và sau khi giải phóng. Ngày 30 tháng 4, khi xe tăng ta tiến gần đến, đồng chí Muống, đứng đầu ủy ban khởi nghĩa nhà máy, lãnh đạo công nhân tung tin hù dọa địch và tự mình leo lên nóc nhà máy treo một lá cờ lớn. Địch ở đây rất đông: thường xuyên có một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn cao xạ, 1 đại đội bảo an và ngày 30 tháng 4, còn kéo về đây thêm khoảng 40 xe tăng và thiết giáp… nhưng trước thế tiến như vũ bão của ta và khí thế công nhân tại chỗ, tất cả địch ở đây đã phải bỏ chạy.

Toàn bộ lực lượng địch ở Thủ Đức tan rã. Quần chúng xông vào chiếm giữ các căn cứ quân sự của địch, tiến chiếm trụ sở quận. Toàn bộ ngụy quyền quận bỏ chạy.

Với mọi chuẩn bị từ trước, khi đại quân ta tiến vào Sài Gòn, cơ sở cách mạng và quần chúng lao động nội thành kịp thời nổi dậy chiếm lĩnh, làm chủ và bảo vệ các cơ sở kinh tế, chính trị văn hóa quan trong, bảo đảm mọi sinh hoạt bình thường của một thành phố mới giải phóng.

Ở nhà máy điện Chợ Quán, ngay lúc địch đang tồn tại và thiết quân luật, công nhân đã thay phiên nhau đi sửa chữa đường dây, ổn định dòng điện. Anh em kêu gọi binh lính ngụy quay về với chính nghĩa, ủng hộ hành động nổi dậy của công nhân.

Tại xưởng Ba Son, công nhân tháo gỡ hết chất nổ địch gài, bảo vệ nguyên vẹn nhà máy. Ở các hãng Esso, Shell, công nhân thành lập các ủy ban công nhân võ trang bảo vệ kho xăng Nhà Bè.

Công nhân các xí nghiệp Vimytes, Sicovina, Vinatexco, Biopharma và hàng loạt hãng, xưởng khác bất chấp công an, mật vụ, đã nổi dậy chiếm xưởng bảo vệ máy móc.

Các cơ sở cách mạng và quần chúng nổi dậy chiếm lĩnh, cắm cờ trụ sở khóm hai phường Huyện Sĩ, ngã ba Thủ Khoa Huân, đường Lê Thánh Tôn, chợ Bến Thành, cư xá Đô Thành, ty cảnh sát quận 3, sở văn hóa… Một trí thức, cơ sở của ta, đã giữ gìn và trao lại nguyên vẹn cho cách mạng toàn bộ phòng báo chí Phủ tổng thống ngụy của Hoàng Đức Nhã (đặt tại số 116 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai).

15 giờ ngày 30 tháng 4 tất cả cán bộ Thành ủy cánh A (luồn vào từ đêm 29 tháng 4) đã có mặt trong thành phố, tập kết nhận nhiệm vụ kế tiếp tại khu trường Pétrus Ký.

Cán bộ, chiến sĩ cánh B của Thành ủy có mặt cùng nhân dân thực hiện nổi dậy giành chính quyền, giành quyền làm chủ từ ấp, xã đến thị trấn ngoại thành, cũng đã hội tụ về nhận nhiệm vụ tại dinh tỉnh trưởng Gia Định.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, riêng quân dân Sài Gòn – Gia Định đã diệt và làm tan rã 31.000 tên địch, bắt sống 12.619 tù binh, chiếm 9 căn cứ quân sự, 5 chi khu, 21 phân chi khu và trụ sở tề… thu 12.275 súng và gần như toàn bộ hồ sơ các cơ quan từ Phủ tổng thống trở xuống. Số ngụy quân lần lượt ra trình diện là 40 vạn và số công an cảnh sát là 10 vạn.

17 giờ ngày 30 tháng 4, tiếng súng đã thực sự chấm dứt ở “thủ đô” ngụy quyền, trừ một số mục tiêu quân sự. Thành phố hơn 3 triệu dân vừa qua cuộc chiến tranh 30 năm, vẫn nguyên vẹn đã chuyển sang trạng thái bình yên đến độ gây ngạc nhiên cho mọi người trên thế giới đang có mặt: nước vẫn chảy đều trong các đường ống; dòng điện chỉ tạm ngừng trong 2 giờ rồi mọi nhà lại sáng; công nhân nhà máy vẫn sẵn sàng cho máy chạy; chợ búa, quán xá vẫn sẵn sàng mở; đường phố vẫn đông người, xe cộ… Người dân Sài Gòn – Gia Định náo nức cắt dàn cờ hoa để xuống đường ngày 1-5 mừng cuộc toàn thắng và chờ đêm hội pháo hoa.

Chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

Sài Gòn là đô thị lớn nhất Việt Nam, nằm giữa miền Trung và miền Đông Nam Bộ, là trung tâm các đầu mối giao thông chiến lược cả về đường bộ, đường thủy và đường không. Các vùng nông thôn rừng núi, trung du đồng bằng và ven biển bao xung quanh thành phố có mối quan hệ mật thiết về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa. Trong thành phố, nhà cửa san sát với những cao ốc nhiều tầng, dân cư đông và tập trung ở mật độ cao. Những đặc điểm nêu trên làm cho Sài Gòn giữ một vị trí địa lý đặc biệt quan trọng.

Đối với địch, nhất là trong chiến tranh xâm lược của Mỹ, Sài Gòn là thủ đô, trung tâm, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả miền Nam. Nơi đây là sào huyệt của tổ chức chính quyền trung ương ngụy và các đảng phái chính trị, tôn giáo, văn hóa, nơi tập trung cơ cấu chỉ đạo, chỉ huy quân sự của toàn bộ cuộc chiến tranh với từng vùng chiến trường, nơi phát ra và chỉ đạo thực hiện các chủ trương chiến lược, các kế hoạch, biện pháp và thủ đoạn chiến lược, chiến thuật trên toàn chiến trường miền Nam và Campuchia. Chúng tập trung ở Sài Gòn và vùng phụ cận một bộ phận quan trọng lực lượng, sinh lực và phương tiện chiến tranh lớn cùng hệ thống phòng thủ nhiều tầng, từ xa, tập trung các cơ sở kinh tế công nghiệp, thương mại, đáp ứng phần lớn âm mưu cướp vét sức người sức của “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”; đồng thời xây dựng, bố trí các cơ sở dự trữ vật chất, phương tiện chiến tranh lớn nhất ở Đông Dương. Đối phó với phong trào cách mạng quần chúng, ngoài mạng lưới kềm kẹp đồ sộ và nghiêm ngặt, địch tiến hành đánh phá thường xuyên và ác liệt, tinh vi trên mọi phương tiệnc hính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế, nơi chúng thực hiện một cách tập trung, đầy đủ nhất chủ nghĩa thực dân kiểu cũ (từ năm 1945 đến năm 1954) và kiểu mới (từ năm 1945 đến năm 1975). Thành phố Sài là nơi thực dân Pháp nổ súng tiến công mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược và là nơi đế quốc Mỹ cố giữ đến phút cuối cùng của cuộc chiến tranh, là điểm mở đầu và kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc Pháp và Mỹ trong 30 năm qua.

Đối với ta, thành phố Sài Gòn là nơi tập trung số lượng dân cư đông đảo nhất ở miền Nam, nơi có lực lượng học sinh sinh viên, nhân sĩ trí thức, tư sản dân tộc và đặc biệt là lực lượng công nhân công nghiệp (vốn có quan hệ huyết thống gần gũi với nông dân vùng nông thôn Nam Bộ và với công nhân các đồn điền cao su). Nhân dân Sài Gòn có truyền thống yêu tự do, bất khuất chống ngoại xâm rất sâu sắc và liên tục trong suốt lịch sử 300 năm của thành phố. Mọi biến động ở thành phố Sài Gòn, do vị trí trung tâm của nó, đều có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình toàn miền Nam, cả nước và trên thế giới. Sài Gòn trở thành trung tâm đấu tranh chính trị của cả miền Nam trong cả hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là địa điểm quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc chiến tranh cách mạng xét về mặt mục tiêu cơ bản của công cuộc giải phóng hoàn toàn đất nước của dân tộc ta.

Những đặc điểm nêu trên tác động sâu sắc đến toàn bộ tiến trình cuộc kháng chiến diễn ra trên địa bàn Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định.

Tiếng súng gây hấn ngày 23 tháng 9 năm 1945 là hành động kết thúc quá trình chuẩn bị trở lại xâm lược Đông Dương của giới tư bản quân phiệt Pháp từ khi nước Pháp còn bị phát xít Đức chiếm đóng. Chuẩn bị và xác định ngay từ đầu quyết tâm kháng chiến, quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã đứng dậy tiến hành cuộc đấu tranh toàn dân chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời nỗ lực đặt nền móng và phát triển mọi nhân tố của một Nhà nước Dân chủ Cộng hòa mới được thành lập. 15 tháng đầu kháng chiến của quân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định vào Nam Bộ, Nam Trung Bộ đã giáng một đoàn phủ đầu vào dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, làm xáo trộn kế hoạch chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của chúng, tạo ra khoảng thời gian quý báu để nhân dân cả nước có điều kiện xây dựng lực lượng mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài diễn ra trên phạm vi toàn quốc.

Từ đầu năm 1947, trong điều kiện Sài Gòn bị chiếm đóng hoàn toàn, “được bình định, ổn định” và ngày càng trở thành trung tâm chiến lược xây dựng Nam Bộ thành hậu phương dự trữ của chúng trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương, quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã từng tiếp tục xây dựng lực lượng mọi mặt, xây dựng các loại lực lượng vũ trang thích hợp, mở rộng phong trào chiến tranh du kích, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, đưa cuộc kháng chiến phát triển thành cao trào vào năm 1950.

Sau năm 1950, được sự chi viện của đế quốc Mỹ, thực dân Pháp ra sức bình định Nam Bộ, trọng tâm là Sài Gòn, Chợ Lớn – Gia Định, đẩy phong trào cách mạng vào thời kỳ khó khăn kéo dài. Quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định năng động tổ chức lại chiến trường, bố trí lực lượng, kết hợp nhiều hình thức đấu tranh, vượt qua nhiều khó khăn nhằm khôi phục, giữ vững và phát triển phong trào trong điều kiện bị địch bao vây và đánh phá ác liệt. Hoạt động kháng chiến ở Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã làm suy yếu địch từ trong hậu phương của chúng, cầm chân địch tại chỗ, tạo điều kiện cho quân và dân toàn miền đẩy mạnh đợt hoạt động hưởng ứng chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Từ sau Hiệp định Genève 1954, đế quốc Mỹ gạt Pháp và các thế lực thân Pháp, từng bước nắm quyền thống trị miền Nam Việt Nam, xây dựng ngụy quân quyền, thi hành chính sách thực dân mới. Sài Gòn trở thành thủ đô của ngụy quyền miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Sài Gòn – Gia Định đã phát động phong trào đấu tranh chính trị tiến công địch ngay từ đầu, phát triển phong trào bảo vệ hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Genève, đưa Sài Gòn trở thành trung tâm đấu tranh chính trị của toàn miền Nam. Vượt qua khó khăn thử thách trong những năm tiếp sau, đặc biệt trong các năm 1957 – 1958 – 1959, nhân dân Sài Gòn – Gia Định vẫn bền bỉ bảo tồn, gầy dựng và duy trì phong trào đấu tranh chính trị liên tục, nhằm bảo vệ quyền dân sinh, dân chủ, chống chính sách tố cộng diệt cộng, từng bước xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang ở vùng nông thôn Gia Định, phối hợp đấu tranh liên kết giữa đô thị và nông thôn nội ngoại thành, đưa dần đấu tranh chính trị phát triển lên đấu tranh chính trị có tự vệ vũ trang hỗ trợ, tiến đến thực hiện nổi dậy từng phần, giành quyền làm chủ ở một số vùng nông thôn ven sát sào huyệt địch (1960 – 1961).

Chuyển sang thời kỳ chiến tranh cách mạng, chống chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ngụy, quân và dân Sài Gòn – Gia Định bám sát đường lối chủ trương và phương châm chiến lược đấu tranh cách mạng của trên, phát huy tính năng động cách mạng, đề ra phương thức tổ chức và hình thức đấu tranh cụ thể cho các vùng hoạt động (nội đô, ven đô, nông thôn, ngoại thành), trong xây dựng các loại lực lượng và kết hợp sử dụng các hình thức đấu tranh thích hợp ở từng vùng trong thừng thời kỳ lịch sử nhất định. Các tầng lớp quần chúng nhân dân ở nội ngoại ô thành phố đều được huy động vào mặt trận đấu tranh chống Mỹ và ngụy quyền tay sai (đặc biệt lực lượng học sinh sinh viên và quần chúng lao động, phật tử) đưa phong trào cách mạng phát triển lên thế chủ động tấn công địch, góp phần làm khủng hoảng sâu sắc chế độ chính trị ngụy quyền và cùng với lực lượng nhân dân ở vùng nông thôn làm phá sản quốc sách ấp chiến lược của chúng, Giữa năm, 1965, đế quốc Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược chiến tranh, ào ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt Nam, tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ. Quân và dân Sài Gòn – Gia Định xác định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, hình thành mặt trận chống Mỹ cứu nước ngày càng rộng lớn ngay tại Sài Gòn – Gia Định. Cao trào đấu tranh chính trị chống Mỹ cùng với những trận tập kích quân sự vang dội trong nội đô và sự phát triển tiến công của Quân giải phóng ở các hướng xung quanh thành phố đã góp phần làm thất bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966 – 1967 của Mỹ ngụy. Bước sang năm 1968, ngay tại sào huyệt địch, các lực lượng cách mạng Sài Gòn – Gia Định đã tích cực chuẩn bị táo bạo cùng lực lượng toàn miền thực hành tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, đánh vào nhiều mục tiêu chiến lược quan trọng bậc nhất của Mỹ ngụy, gây cho chúng những tổn thất nặng nề, góp phần cùng cả nước làm suy sụp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Paris.

Sau đợt 2 Tết Mậu Thân 1968, dù trong điều kiện bị địch phản kích đánh phá khốc liệt, lực lượng bị tiêu hao giảm sút, cơ sở bị bể vỡ nhiều, nhưng quân và dân Sài Gòn – Gia Định vẫn vững tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, kiên trì bám trụ địa bàn, chịu đựng gian khổ hy sinh, khéo léo chuyển hướng và phương pháp đấu tranh, quay về khôi phục xây dựng cơ sở, thực lực, giữ vững và tiến tới đẩy mạnh cao trào đấu tranh chính trị dưới nhiều hình thức ở nội đô, kiên cường đánh địch càn quét, liên tục chống phá chương trình bình định nông thôn của địch, giành lại và mở nhiều lõm làm chủ, giải phóng, phát triển hệ thống thông tin giao thông liên lạc ở vùng ven, tạo lại thế tiến công mới cho đến Hiệp định Paris.

Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh, quân và dân Sài Gòn – Gia Định kịp thời đề phòng và uốn nắn những biểu hiện hòa bình chủ nghĩa sau ngày ký Hiệp định Paris, tranh thủ thời cơ, tiếp tục phát triển thực lực cách mạng, tạo thế tạo lực mới. Từ cuối năm 1974, khi thời cơ cách mạng chúng bắt đầu xuất hiện, đã tích cực xây dựng lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, phát huy hiệu lực ở cả ba mũi chính trị, quân sự, binh vận, đẩy mạnh tiến công địch trên khắp nội ngoại ô thành phố, góp phần thúc đẩy tính thế cách mạng nhanh chính chín muồi. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Sài Gòn – Gia Định kịp thời đón nhận thời cơ, tham gia tổng tiến quân và nổi dậy trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực tiến vào thành phố, đập tan bộ máy ngụy quân ngụy quyền từ cơ sở tới trung ương, làm chủ mọi sinh hoạt của thành phố ngay từ giờ phút đầu giải phóng.

Ba mươi năm chiến tranh ròng rã, quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã hoàn thành vẻ vang sứ mạng mà lịch sử giao phó “đi trước về sau”, cùng quân và dân cả nước lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trải suốt những năm chiến tranh tàn khốc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định một lòng son sắt với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, kiên cường chịu đựng và vượt qua mọi gian lao thử thách, kiên cường chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng quê hương, giải phóng đất nước. Cả trong những ngày cam go nhất của buổi đầu kháng chiến, giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1953, giai đoạn năm 1957 – 1958 – 1959, những ngày địch khủng bố ác liệt sau Tết Mậu Thân, dân và quân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định vẫn vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, lần hồi gầy dựng cơ sở (có khi đi trở lại từ con số không), sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì sự nghiệp chung, lòng không hề vướng bọn mảy may lợi ích riêng tư của bản thân mình. Trên mảnh đất Củ Chi, có những căn nhà được dựng đi dựng lại không dưới mươi lần trên nền đất cũ, có những người mẹ chít ngang đầu 8 vành tang trắng. Hàng ngàn đồng bào, chiến sĩ trải hết các nhà tù, nếm đủ các đoàn tra tấn dã man và thâm hiểm nhất mà kẻ thù có thể nghĩ ra vẫn một lòng trung trinh với sự nghiệp cách mạng. Không thể nào ghi lại được đầy đủ chiến công và sự hy sinh của toàn thể dân, quân, cán bộ, đảng viên Sài Gòn – Gia Định những chiến sĩ anh hùng cách mạng. Máu của họ thấm đẫm trên mọi góc phố, cửa ô, mọi nẻo đường, làng xóm, vườn tược. Khôn thể nào nhắc lại được đầy đủ lịch sử các địa danh Vườn Thơm, Láng Le, Bàn Cờ, Bình Mỹ, Khu 5 Hóc Môn, Rừng Sác, Bưng Sáu Xã, Tám Giác Sắt, Củ Chi… những mảnh đất mà tên gọi và sự tích chắc chắn sẽ lưu lại mãi mãi trong lịch sử cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta.

Thắng lợi của quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của toàn dân tộc trong cuộc chiến tranh 30 năm vừa qua, một cuộc chiến tranh “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ hai mươi, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời sự sâu sắc” (Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần IV)

Ba mươi năm, xương máu, mồ hôi của hàng vạn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ thành phố đổ xuống đã vun tưới thêm truyền thống chống ngoại xâm vốn được tinh cất trong suốt chiều dài lịch sử ba trăm năm của cư dân vùng đất Bến Nghé này. Đó là tình yêu quê hương đất nước, yêu độc lập tự do, là lòng trung thành vô hạn và ý nguyện dấn thân vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là ý chí bất khuyất và năng động trước mọi ngăn trở của hoàn cảnh, tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường và trí tuệ mưu lược thấm đẫm tinh thần thượng võ, nghĩa hiệp, là phẩm chất cần cù lao động sáng tạo xây dựng cuộc sống mới. Đó chính là tinh thần đoàn kết gắn bó, là tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng loại, là lối ứng xử bặt thiệp, hào hiệp, nhân nghĩa, có thủy có chung.

Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định được vinh dự mang tên Bác Hồ – Thành phố Hồ Chí Minh. Quân và dân thành phố lại tiếp tục bước vào cuộc đấu tranh mới: khắc phục hậu quả chiến tranh, sửa đổi lệch lạc trong bước đi, đổi mới sự lãnh đạo, khôi phục và phát triển lực lượng sản xuất mới, từng bước đưa thành phố tiến lên theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành phố ngày càng giàu mạnh, văn minh, đấu tranh giữ vững thành quả cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tăng cường và củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Hàng ngàn người con của thành phố đã lên đường chiến đấu anh dũng giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm tròn nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Campuchia.

Lịch sử cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài gần một phần ba thế kỷ đang lùi xa vào quá khứ. Nhưng những giá trị quyền thống và bài học lịch sử của nó thì còn lại mãi mãi với các thế hệ cư dân chủ nhân của thành phố Hồ Chí Minh – thành phố anh hùng.

(¹) Người ném bom Dinh Độc Lập là Nguyễn Thành Trung, người cán bộ nội tuyến binh vận của ta được cài vào trong lực lượng không quân quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 8.4.1975, anh đã lái máy bay F.5 xuất phát từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) bay vào ném bom trúng dinh Độc Lập và sau đó hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Sự kiện này góp phần gây hoang mang cực độ trong giới đầu sỏ ngụy quyền Sài Gòn.

Ngày 28.4.1975, không đầy 10 phút sau khi tướng Dương Văn Minh thay Thiệu nhậm chức Tổng thống, Nguyễn Thành Trung đã dẫn đường cho 4 chiếc A.37 do Mỹ chế tạo từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang), lượn vòng trên bầu trời Sài Gòn. Lúc 17 giờ 40 phút phi đội của Nguyễn Thành Trung đã ném bom và bắn đạn DK.28 vào sân bay Tân Sơn Nhất khiến 3 máy bay AC.119 và nhiều chiếc C.47 bị phá hủy. Hai trái bom nổ giữa trung tâm điều khiển và vọng kiểm soát. Máy bay phản kích của địch bay mò vì trạm hướng dẫn đã bị hỏng. Cuộc oanh tạc táo bạo, bất ngờ làm tiêu tan hy vọng “thương lượng” của “tân tổng thống” lẫn Hoa Kỳ, làm tăng thêm sự hoang mang và hỗn loạn của địch.

(²) Trong “cơn lốc kinh hoàng” của cuộc tháo chạy mệnh danh “người liều mạng” rồi “móng quặp chặt”, hàng ngàn người tranh nhau bám càng trực thăng trong cơn hoảng loạn, mặc dù từ ngày 10 tháng 4 năm 1975 Bộ chỉ huy quân Giải phóng đã tuyên bố: “Quân giải phóng lúc nào cũng sẵn sàng tạo điều kiện cho cố vấn Hoa Kỳ rút về nước bình an vô sự”.

Ngày 3 tháng 4, sau những cơn giận dữ của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Schlesiger và cố vấn Kissinger ở Washington vì sự nấn ná quá đáng của Đại sứ Martin ở Sài gòn để cố tạo ra vẻ “người Mỹ đàng hoàng ra đi”, Tổng thống Ford ra lệnh dứt khoát: “Chấm dứt cuộc di tản vào 3 giờ 30 phút, giờ địa phương, sáng 30 tháng 4″. Tuy nhiên, lệnh không thi hành được.

4 giờ 20 phút, tiếp tục cuộc tháo chạy, một máy bay CH-53 đổ xuống lầu thượng tòa Đại sứ, Martin lại nhận được điện của Nhà Trắng: “Tổng thống ra lệnh đại sứ phải đi chuyến này”. Martin vẫn chậm chạp. Một nhân viên cấp dưới tỏ vẻ bực tức: “Lệnh là lệnh, đại sứ phải lên. mà lên ngay, vì quân đội Bắc Việt Nam đã ở dưới đường. Họ sẽ nổi giận và bắn chúng ta nếu họ thấy chiếc máy bay để ở đây lâu quá”.

Nhà Trắng lại có lệnh rõ ràng: “Cầu hàng không ngừng lúc bản thân Martin đã đi”.

Nhưng chiếc CH-53 chở Martin đã rời sân thượng, tòa Đại sứ Mỹ vẫn còn 5 nhân viên, 4 lính thủy đánh bộ người Mỹ và ngót 420 người Việt Nam phần đông là nhân vật cao cấp của Thiệu, nhân viên Sứ quán Nam Triều Tiên, đứng đầu là 1 thiếu tướng… Tất cả những người này chấp nhận bỏ hành lý để thoát cho được.

Moorefield, người được Martin chọn “giúp cai trị” ở toà Đại sứ là người Mỹ cuối cùng rời Sài Gòn lúc 5 giờ 24 phút ngày 30 tháng 4. Ông ta kể lại cảnh tượng Sài Gòn lúc đó, nhìn từ bầu trời xuống: “Bình yên, phẳng lặng. Trừ một vài đám cháy ở đàng xa…”

Tom Polgar, nhân viên cao cấp ở tòa Đại sứ “Người nguy hiểm nhất đối với Martin” vì những nhận định, báo cáo lên Nhà Trắng cứ trái ngược, nhưng rất “hợp Martin” ở chỗ “chống cộng kịch liệt và ham thích nghiên cứu”, cùng ngồi với Martin trên chiếc CH-53 trong cuộc tháo chạy tán loạn, đã ghi lại nhận xét của mình ngày hôm ấy: “Đó là một cuộc chiến tranh (chiến tranh Việt Nam) lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng… Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải nhắc lại lịch sử”.

(Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến 1945-1975. NXB TP.HCM)

Lịch sử Việt Nam

Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

5 giờ sáng ngày 30/4/1975, từ các hướng, bộ đội ta – mà nòng cốt là lực lượng đột kích thọc sâu ào ạt tiến vào Sài Gòn.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu

Trên hướng Tây Bắc, sau loạt pháo bắn chuẩn bị dội bão lửa vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ tổng tham mưu ngụy, đội hình đột kích thọc sâu của Quân đoàn 3 nhanh chóng vượt qua ngã Tư Bảy Hiền, tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất. Địch trong sân bay chống trả quyết liệt. Cùng lúc, máy bay của chúng từ sân bay Trà Nóc – Cần Thơ lên ném bom xuống đường phố, làm một số cán bộ, chiến sĩ ta hy sinh. Nhưng lúc này không một trở lực nào có thể cản được bước tiến của ta. Đến 11 giờ 30 phút ngày 30/4, Quân đoàn 3 đã chiếm được Bộ tư lệnh không quân và bộ tư lệnh sư đoàn dù ngụy, bắt liên lạc được với pháo đoàn ta trong ủy ban liên hiệp quân sự 4 bên ở Đa-vít; làm chủ sân bay Tân Sơn Nhất.

Cùng thời gian này, Trung đoàn 28 và tiểu đoàn 2 xe tăng thuộc trung đoàn 273, hai đại đội công binh và trinh sát, một tiểu đoàn cao xạ đi cùng, diệt các ổ đề kháng của địch, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy. Vượt qua cổng chính, chiếc xe tăng mang số hiệu 927 và xe thiết giáp có số hiệu 001 đã vọt lên chắn trước thềm nhà Bộ tổng tham mưu, chi viện cho xe tăng 819 và 872 tiến công. Trần Lựu và Nguyễn Duy Tuân đã kéo cờ giải phóng lên cột cờ của tổng hành dinh quân ngụy đúng vào 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975. Như vậy từ các hướng, các binh đoàn chủ lực cơ động của ta được lực lượng tại chổ phối hợp chiến đấu đã phát triển khá thuận lợi.

Sáng 30/4, bầu trời Sài Gòn như vỡ ra bởi tiếng nổ của đạn pháo các cỡ, tiếng gầm rú của hàng nghìn động cơ xe máy của ta tiến vào nội đô và kẻ thù cuống cuồng tháo chạy.

9 giờ 30 phút ngày 30/4, xe của Tư lệnh Quân đoàn 2 vào tới Thủ Đức. Thấy xe tăng của tiểu đoàn 5 lữ đoàn 203 đang tập trung đột phá cụm phòng ngự của địch ở Thủ Đức, Tư lệnh quân đoàn lệnh cho tiểu đoàn 5 lập tức bám đội hình Lữ đoàn 203 đánh vào mục tiêu chính. Nhiệm vụ đánh quân địch ở Thủ Đức được giao lại cho Trung đoàn 18 Sư đoàn 325.

Tại Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất), hai cán bộ tình báo của ta cũng đã có mặt tại đây từ sáng với tư cách là người của lực lượng thứ ba đến vận động Dương Văn Minh sớm đầu hàng: Vũ Ngọc Nha, Tô Văn Can, Dương Văn Minh đứng dậy nói: “Chúng tôi đang đợi các ông để bàn giao. Ta tuyên bố: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao”.

Dương Văn Minh chấp nhận, trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phan Xuân Thệ và đến Đài Phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện.

(Tư liệu Lịch sử)

Thế trận hợp vây lớn, chia cắt hiểm

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng khẳng định giá trị lịch sử về sự phát triển, hoàn thiện của nghệ thuật chiến dịch, góp phần làm phong phú kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đây là chiến dịch tiến công lớn nhất, vượt hẳn các chiến dịch lớn trước đó cả về quy mô lực lượng, cường độ và tốc độ tiến công, nội dung tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng và mức độ hoàn thành triệt để nhiệm vụ chiến lược cũng như mục đích chính trị của chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Nữ du kích dẫn đường cho xe tăng Quân giải phóng tiến vào Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, trong một thời gian rất ngắn, ta đã tập trung lực lượng quân sự lớn chưa từng có, tạo ưu thế áp đảo, tiêu diệt và làm tan rã nhanh chóng tập đoàn phòng ngự lớn của địch tại trung tâm đầu não của chúng; đã sử dụng 5 quân đoàn chủ lực và các lực lượng dự bị chiến lược, các quân chủng, binh chủng và lực lượng tại chỗ ở Nam Bộ, hình thành thế trận bao vây lớn, chia cắt hiểm, đưa cả tập đoàn phòng ngự của địch vào tình thế bị bao vây chặt trên tất cả các hướng. Với thế trận tiến công áp đảo này, ta đã tạo được một trong những điều kiện cơ bản để thắng nhanh, đẩy địch tan vỡ rất nhanh. Ta đã kết hợp chặt chẽ việc tập trung lực lượng ưu thế tiêu diệt các sư đoàn chủ lực cơ động của địch ở tuyến phòng thủ vòng ngoài và thọc sâu bằng binh đoàn đột kích lớn, cơ giới hóa vào trung tâm thành phố, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng then chốt nhất như: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu ngụy… Đây là sự sáng tạo trong vận dụng cách đánh chiến dịch của ta, khác hẳn với mọi cách đánh chiến dịch tiến công trước đó. Ta đã kết hợp ngoài đánh vào, trong đánh ra, kết hợp quả đấm mạnh của các binh đoàn chủ lực với đánh nhỏ, hiểm của các lực lượng địa phương, làm cho địch bị phân tán, chia cắt, tổ chức phòng ngự của chúng mất hiệu lực và nhanh chóng tan vỡ.

Chiến dịch Hồ Chí Minh có những phát triển mới về lý luận. Trước hết, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nắm bắt đúng thời cơ chiến lược, hạ quyết tâm chiến dịch chính xác, kịp thời; tăng cường sự lãnh đạo tại chỗ của Bộ Chính trị đối với chiến dịch. Trước khi bước vào chiến dịch ta đã có một thế trận chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao. Đó là thế trận của hai lực lượng, ba thứ quân, thế trận bảo đảm cho thực hiện hai đòn tiến công chiến lược là tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng. Bằng một loạt các hoạt động quân sự trước chiến dịch, ta đã tạo được thế bao vây chia cắt Sài Gòn, lập được hành lang chiến lược nối từ hậu phương trực tiếp đến chiến trường, ngày càng mở rộng và hoàn chỉnh. Các lực lượng ba thứ quân đứng chân được ở những vị trí xung yếu. Bằng các đòn quân sự trước chiến dịch trên toàn Miền, ta đã làm suy giảm lực lượng địch, chia cắt chiến lược giữa đồng bằng sông Cửu Long và Sài Gòn. Để chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược, ta đã xây dựng các binh đoàn chủ lực mạnh, đạt tỷ lệ áp đảo (1,7/1 với chủ lực và 3/1 với số đơn vị tập trung). Về binh khí kỹ thuật ta đã tập trung gấp nhiều lần. Về lực lượng nổi dậy ta đã tăng cường hàng nghìn cán bộ, đảng viên và quần chúng nòng cốt… Rõ ràng cả thế và lực ta đều áp đảo.

Bộ tư lệnh chiến dịch xác định cách đánh chiến dịch, chiến thuật trong chiến dịch rất linh hoạt và sáng tạo. Đó là kết hợp với thế trận đã được chuẩn bị trước, hình thành thế trận hợp vây lớn, chia cắt hiểm, kết hợp chặt chẽ và phát huy cao độ uy lực của các binh đoàn chủ lực, của LLVT tại chỗ và nổi dậy của quần chúng. Dùng từng bộ phận lực lượng thích hợp trên từng hướng, bao vây chia cắt, chặn giữ quân địch, không cho chúng rút chạy về Sài Gòn; tiêu diệt và làm tan rã tại chỗ các sư đoàn bộ binh phòng thủ vòng ngoài của địch, đồng thời sử dụng một lực lượng chủ lực cùng lực lượng tại chỗ đánh chiếm các địa bàn then chốt ở vùng ven, mở đường cho các đơn vị được cơ giới hóa, trang bị mạnh, đánh địch trong hành tiến, thọc sâu theo các trục đường, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ tập đoàn phòng ngự lớn của địch tại trung tâm đầu não của chúng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh là điển hình về sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, cả binh chủng và quân chủng; kết hợp trên quy mô lớn ba mũi giáp công, tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng. Thắng lợi của chiến dịch không chỉ đánh dấu bước phát triển, hoàn thiện về nghệ thuật chiến dịch, mà còn để lại những bài học kinh nghiệm quý về nghệ thuật tổ chức và thực hành các chiến dịch trong điều kiện tác chiến mới.

Thạc sĩ Phạm Quang Minh

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.