Đẹp thay sức sống “Như có Bác trong ngày vui Đại thắng”!

(Dân trí) -Sức sống của Như có Bác trong ngày vui Đại thắng đã vượt quá tưởng tượng của tác giả bởi ca khúc nói đúng điều mà công chúng cần cất lên; nhịp điệu bài hát là nhịp đập của triệu, triệu trái tim VN – khát khao chiến thắng vươn lên trong Hòa bình, Thống nhất!

Thời khắc lịch sử: Xe tăng của ta húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. (Ảnh tư liệu)

Hơn 30 năm đã qua, nhưng những ngày này tôi vẫn thấy rạo rực cái không khí Tháng Tư của Đất nước, của Đài Tiếng Nói Việt Nam ngày ấy! Trên tường, trên bảng của từng phòng làm việc đánh dấu liên tục đường tiến của đại quân ta đang thắt chặt Sài Gòn…

Tiếng nói của các phóng viên Cao Nham, Đào Lộc Bình trong mục “Sổ tay chiến sự” cất lên hào sảng thu hút triệu triệu trái tim. Những bản nhạc Tiến về Sài Gòn, Giải phóng miền Nam… là tiếng kèn thúc giục trên mọi nẻo đường!

Xôn xao bao kỷ niệm, tôi gọi ngay cho tác giả bài hát Như có Bác trong ngày vui Đại thắng. Không ngờ, ông rất nhiệt tình mời đến nhà chơi nói chuyện, bởi “chuyện hơn 30 năm làm sao nói qua điện thoại”.

Như có Bác trong ngày vui Đại thắng: “Trúng, trúng rồi!”

“Ngày ấy, so với phóng viên thời sự, các anh được hừng hực bám sát bước chân các đoàn quân tiến về Sài Gòn thì chúng tôi lặng lẽ, âm thầm chuẩn bị” – Nhạc sĩ Phạm Tuyên là người phụ trách Âm nhạc của Đài ngày nào nhớ lại….

Thực ra, ngay từ đầu tháng 3, Tổng biên tập Trần Lâm đã họp với các nhạc sĩ bàn việc sáng tác ca khúc phục vụ tiến quân, bởi vậy ngay khi Đà Nẵng giải phóng 29/3, tôi đã có ngay Chào Đà Nẵng giải phóng theo nhịp sắc bùa, nhưng hầu như tốc độ sáng tác không theo kịp tốc độ tấn công thần tốc của chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ông Bùi Quang Thu (trưởng ban Biên tập Đối nội) là người chịu trách nhiệm về làn sóng thời sự của Đài gặp nhạc sĩ Pham Tuyên “đặt hàng” với trăn trở: “Lần này chiến thắng thật vĩ đại, cho nên ông phải làm một cái gì đó thật hoành tráng, đừng viết lắt nhắt. Phải có cái gì cho thật xứng tầm …”

Dù tâm trí bị hút vào những tin tức thời sự, chưa thật sự muốn làm “cái bề thế” như lời người đồng nghiệp, nhưng đêm về anh vẫn cặm cụi phác thảo một “đại giao hưởng” 4 chương: 1. Miền Bắc lũy thép, 2. Miền Nam thành đồng, 3. Tiến công và nổi dậy, 4. Toàn thắng.

Chất liệu âm nhạc không thiếu. Lời ca hào sảng, phơi phới theo lối xã luận không thiếu… Thế nhưng “Cứ ngồi vào đàn thì nó cứ lý trí làm sao ấy!”.

Thế rồi, đêm 28 tháng 4, khi nghe bản tin cuối cùng trong ngày nói về phi công quân đội Sài Gòn Nguyễn Thành Trung “quay lại” ném bom sân bay Tân Sơn Nhất và dinh Độc Lập thì lòng anh rạo rực!

Anh nghĩ đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến và có lẽ chỉ ngày một ngày hai! Anh hình dung ngay: ngày mai khi Đài báo tin chiến thắng thì từ mọi ngóc ngách xóm xã, nhà nhà, người người đổ ra đường hân hoan reo mừng trong niềm vui tột độ! Trong khí thế ấy liệu có ai ngồi yên để theo dõi bản giao hưởng, hợp xướng 4 chương?

Tính thời sự báo chí của một nhạc sĩ làm việc ở Đài cùng với con tim rung lên theo nhịp đập của những bước chân chiến sĩ đang tiến đến khúc khải hoàn ca toàn thắng đã lóe sáng trong anh “Tiếng reo vui tưng bừng Việt Nam – Hồ Chí Minh” – điệp khúc ấy tự nhiên vang lên!

Anh ngồi vào đàn và viết một mạch đến sau 23h đêm thì hoàn thành! Chép lại bản nhạc sạch sẽ, ngủ một giấc ngon lành, anh cảm thấy như đã trả được một “món nợ tinh thần” trăn trở suốt mấy tháng ròng.

Thế nhưng, sáng hôm sau đem lên Hội đồng duyệt nhạc của Đài, có ý kiến cho rằng “Có lạc quan hơi sớm, lạc quan tếu không?”. Có ý kiến lại cho là đơn giản quá, ngắn quá! Tuy vậy, Hội đồng cũng thông qua và đưa vào kế hoạch dàn dựng, thu thanh để kịp phục vụ kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5.

Bất ngờ, giữa trưa 30/4, nhạc sỹ được Ban biên tập Đài triệu tập khẩn cấp. Gặp ngay chân cầu thang tòa nhà hành chính, Tổng biên tập Trần Lâm hỏi ngay “Ông đã có bài hát gì về chiến thắng chưa? Lần này là Đại Thắng ! Cờ giải phóng đã cắm lên Dinh Độc lập rồi đấy”.

Xúc động đến trào nước mắt, nhạc sĩ rụt rè: “Tôi chỉ có một bài hát ngắn thôi!”. Tổng biên tập yêu cầu nhạc sỹ hát ngay, vừa hát xong, với nhạy cảm của một nhà báo, ông vỗ tay và thốt lên:

“Trúng rồi, trúng rồi… phải cho dạy ngay bài hát này trên Đài, mời ngay mọi người đang có mặt lên Hội trường học hát và triệu tập ngay Đoàn ca nhạc lên phòng thu M để thu thanh ngay kịp phát vào Chương trình thời sự đặc biệt vào lúc 17h chiều 30/4!”.

Đó là lúc ta chính thức công bố tin hoàn toàn giải phóng miền Nam trước thế giới.

Cả nước vang lừng “Như có Bác Hồ trong ngày vui Đại thắng”

Bài hát bừng bừng khí thế, rộn ràng niềm vui do Cao Việt Bách chỉ huy, Đặng Hùng và Tuyết Thanh lĩnh xướng được phát lên cũng là khi hàng triệu người không ai bảo ai đổ xuống đường phất cờ, đánh trống, vỗ tay hát theo.

Việt Nam – Hồ Chí Minh, Việt Nam – Hồ Chí Minh, ba mươi năm Dân chủ Cộng hòa , ba mươi năm kháng chiến thành công!!!

Trên làn sóng của Đài TNVN, trên các loa truyền thanh khắp xóm xã vang vang giai điệu “Như có Bác Hồ trong ngày vui Đại thắng…”

Bộ đội hát, nhân dân hát… đâu đâu cũng được nghe, rồi được tập, được hát theo Đài một cách hứng khởi.

Ngày 1/5 cả Hà Nội lại tiếp tục xuống đường mừng Đại thắng, các ban nhạc sinh viên, Nhạc viện, Quân nhạc đã diễn tấu Như có Bác trong ngày vui Đại thắng làm giai điệu diễu hành …

Ngày 2/5 bài hát được báo Nhân dân đăng tải trang trọng. Thực sự xúc động lòng người cả nước khi trên làn sóng Đài Phát thanh Giải phóng phát từ Sài Gòn vang lên tiếng hát của học sinh sinh viên “Như có Bác Hồ trong ngày vui Đại thắng…”

Một phần ba thế kỷ, tôi ngồi đối diện với tác giả để cùng nhìn lại. “Bây giờ đã có độ lùi cần thiết để nhìn lại tác phẩm của mình, anh thấy có điều gì khi phải nói: Giá mà …?”

Là một người điềm đạm, nho nhã, luôn có cái nhìn cái thâm trầm chuẩn mực, nhạc sĩ Phạm Tuyên nở một nụ cười kín đáo: “Ngay từ lúc 16h ngày 30/4 năm ấy khi bài hát thu thanh xong, nhiều người trong đó các vị lãnh đạo hỏi tôi anh có cần bổ sung sửa chữa gì không? Tôi đã lắc đầu bởi tôi nghe bài hát của chính mình mà cứ tưởng như nó đã có sẵn từ bao giờ rồi!

Ngay cả ông bạn đòi hỏi tôi phải làm một cái gì cho thật hoành tráng lúc này cũng bảo tôi “như thế này là đủ và tốt lắm rồi, chẳng cần gì phải dài dòng văn tự nữa!”. Hơn một phần ba thế kỷ nhìn lại, tôi không thấy có gì cần bổ sung sửa đổi mà chỉ muốn nói vì sao tôi đã làm được bài hát “biên niên sử” này”.

Nhiều người từng nhắc đến chi tiết: nhạc sỹ đã bắt đầu cầm bút sáng tác bài hát này chỉ từ khi nghe bản tin đêm phát vào lúc 21h 30 đến sau 23h – chưa đầy 2 tiếng đồng hồ…

Đúng là chỉ chưa đầy 2 tiếng đồng hồ, nhưng nó được chắt lọc từ những gì mà Phạm Tuyên đã đánh đổi để cầm súng, cầm bút, cầm đàn chiến đấu suốt 30 năm trường kỳ kháng chiến – chống Pháp, chống Mỹ, mới thốt lên được câu rất đỗi tự nhiên: Việt Nam – Hồ Chí Minh, 30 năm Dân chủ – Cộng hòa, kháng chiến đã thành công

Cả nước tưng bừng trong cờ hoa rực rỡ và giai điệu “Như có Bác Hồ trong ngày vui Đại thắng”

Thành công rực rỡ vượt xa tưởng tượng

Được nhà nước tặng thưởng huân chương lao động có lẽ cũng là sự kiện đặc biệt đối với bài Như có Bác trong ngày vui Đại thắng.

Tôi xin ghi lại nguyên văn câu chữ trong tấm bằng huân chương do Chủ tch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh ký “Thưởng nhạc sĩ Phạm Tuyên – Phó Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật Ủy ban Phát thanh-truyền hình Việt Nam đã có thành tích xuất sắc trong việc sáng tác bài hát Như có Bác trong ngày Đại thắng – góp phần cổ vũ kip thời cho ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”.

Nhà nước ghi nhận, đánh giá công lao là một điều hết sức vui mừng, nhưng có lẽ điều quan trọng đối với một tác phẩm nghệ thuật chính là sức sống của nó trong lòng công chúng. Sau 1/3 thế kỷ có những điều đã vượt ra quá tầm nghĩ của người sáng tác.

Tôi nói với anh: Thời còn Bác, sau mỗi khi kết thúc hội nghị, meetting thì thường Bác Hồ bắt nhịp Bài ca kết đoàn nhưng từ ngày giải phóng miền Nam thì chẳng có văn bản nào chỉ đạo, nhưng từ trung ương đến tỉnh huyện, xóm xã, bất cứ cuộc hội họp nào từ to đến nhỏ đều mở đầu là Quốc ca, kết thúc là Như có Bác trong ngày vui Đại thắng.

Trẻ con ngày trước đến mẫu giáo bài hát đầu đời là “bé bé bằng bông, bé đi sơ tán”, nhưng sau giải phóng, một trong những bài hát phổ biến nhất chính là Như có Bác trong ngày vui Đại thắng.

Bài hát còn vượt ra khỏi biên giới nước nhà để lan tỏa ở khá nhiều nước như Nga, Đức, Cuba , Trung Quốc… và thật đáng vui khi ta được biết từ năm 1979, Hội Âm nhạc lao động Nhật Bản đã dịch ra tiếng Nhật và in phổ biến xuống tận 49 tỉnh thành.

Còn có một điều rất quý giá với nhạc sỹ Phạm Tuyên là năm 1976 – Kỷ niệm 1 năm giải phóng miền Nam – thống nhất Tổ quốc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lấy tên bài hát Như có Bác trong ngày Đại thắng để đặt tên cho một bài viết trên báo Nhân Dân, nêu bật ý nghĩa cũa chiến thắng vĩ đại ấy.

Sức sống của bài hát đã vượt quá tưởng tượng của tác giả bởi điều quan trọng nhất chính là ca khúc đã nói đúng điều mà công chúng cần cất lên; nhịp điệu của bài hát chính là nhịp đập của triệu, triệu trái tim Việt Nam – khát khao chiến thắng vươn lên trong Hòa bình, Thống nhất!

 Nguyễn Lương Phán

dantri.com.vn

Bức điện hỏa tốc

(Dân trí) – “Hỏa tốc – Chính phủ Sài Gòn đầu hàng” – Chiến tranh đã kết thúc. Hòa bình đã về với đất nước đã chịu quá nhiều đau khổ. Lúc này chúng ta có thể tạm ngừng mọi công việc để chúc mừng hòa bình, chúc mừng bức điện hỏa tốc đặc biệt này.

Văn phòng UPI đặt tại tầng 7 khách sạn Bán Đảo, sếp văn phòng Alăng Daosơn đứng ngoài hành lang, dáng vẻ phấn chấn, nôn nao khác thường. Anh chăm chú theo dõi hàng đàn máy bay trực thăng khổng lồ, có lẽ có tới sáu, bảy chục chiếc, ầm ầm bay tới bay đi. Chúng từ biển Đông vào Sài Gòn, bốc những người Mỹ di tản và những người cộng tác với Mỹ đang tập trung trên mái bằng của 13 tòa nhà cao tầng nằm rải rác trên đường phố Sài Gòn, đưa họ ra các tuần dương hạm đậu ngoài biển theo phương án của cuộc hành quân “cơn lốc”.

Cuộc hành quân mang mật danh “cơn lốc” bắt đầu thử nghiệm vào đêm 20/4/1975. Sáng ngày 21/4/1975, tuyến phòng thủ cuối cùng ở Xuân Lộc sụp đổ. Cửa Đông Nam Sài Gòn bỏ ngỏ. Lập tức cuộc hành quân “cơn lốc” triển khai với quy mô lớn, có 60 máy bay vận tải khổng lồ C.130 – C.141 và hàng trăm máy bay khác tham gia. Tướng Xmít nói với nhân viên dưới quyền khi tiễn đưa họ di tản: “Các bạn đã biết, thế là hết. Tôi biết thế là hết”.

(Ảnh tư liệu)

Chiều 28/4/1975, quân giải phóng dùng máy bay F5 chiếm được của Mỹ oanh tạc sân bay Tân Sơn Nhất, không khí hoảng loạn tăng lên. Tướng Xmít, Pônga phụ trách chi nhánh CIA tại Sài Gòn, Mácbốt, Luman Phó đại sứ Mỹ đề nghị đại sứ Matin cho thực hiện phương án 4. Matin khăng khăng cho rằng dùng máy bay lên thẳng (phương án 4) lúc này chưa cần thiết, chỉ làm mất vinh dự người Mỹ mà thôi. Khốn nỗi, thực tế lại phũ phàng đối với tình cảm và sự tính toán của viên đại sứ già…

Ba giờ sáng ngày 29/4/1975, pháo tầm xa của quân giải phóng bắn tới tấp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đường bay bị bóc, nhà để máy bay tan nát, cơ quan DAO trúng đạn, tướng Xmít và Mácbốt bị hơi nổ quật ngã suýt chết, hai hạ sĩ quan thủy quân lục chiến MácMahon và Giót trúng đạn chết ngay tại chỗ. Sân bay Tân Sơn Nhất bị khóa, đó là giới hạn cuối cùng, là mệnh lệnh “người Mỹ cút nhanh nếu không muốn mang số phận tù binh chiến tranh”. Viên đại sứ ngoan cố không tin, bắt tướng Xmít cùng mình ngồi xe có trang bị chắn đạn ra Tân Sơn Nhất, thị sát tại chỗ, sân bay vẫn đang còn trong thảm họa. Tiếng súng lớn, súng nhỏ ran ran khắp nơi, nhiều đám cháy không được cứu chữa thả sức tung cao ngọn lửa, nhiều đoạn đường bay bị bóc tung lên, một chiếc F5B của Sài Gòn buộc phải hạ cánh cấp tốc chềnh ềnh giữa đường bay, phi công sợ quá đã bỏ máy bay mà chạy tháo thân. Hai chiếc C.130 bay đến nhưng không có đường băng hạ cánh đành ngóc đầu bay đi. Matin ủ rũ quay về sứ quán, đành chọn giải pháp cuối cùng thực hiện phương án 4 của cuộc hành quân, một phương án có thể gọi nôm na là “chuồn cho nhanh”.

Sự kiện này khiến cả văn phòng UPI nhộn nhịp, khẩn trương hẳn lên. Các máy móc, thiết bị kỹ thuật thông tin liên tục làm việc. Các phóng viên hối hả đến, hối hả đi: các nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ cặm cụi bên máy thu, máy phát, máy têlêtíp… Im lặng – Im lặng, chỉ có tiếng vận hành của máy là nghe rõ, 5 giờ sáng ngày 30/4/1975, bộ phận đài nhận được bức điện: “Phu nhân Lêdi đã lên không trung với Cóttu”. A lạy chúa! Lêdi 09 là mật danh máy bay lên thẳng chở Matin, Cóttu là bí danh của Matin. Vậy là… Mỹ đã rời bỏ cuộc chơi, các phóng viên mang nét mặt quan trọng hối hả đến rồi với nét mặt bồn chồn khẩn trương ra đi. Họ đi lùng tin, đón tin… để ngay lập tức chuyển  về đại bản doanh của họ ở bên kia đại dương hoặc châu lục địa nào đó với những tin tức đáng giá bằng chính tính mạng của họ.

Thế là đã rõ. Mọi người trong văn phòng UPI đều cùng một ý nghĩ như vậy, họ chỉ ngồi chờ lời tuyên bố được chính thức tuyên bố trên Đài phát thanh. Một sự kiện trọng đại sắp xảy ra, Alăng Daosơn dang rộng hai cánh tay như muốn hỏi các bạn đồng nghiệp: Các bạn có hiểu tầm quan trọng của sự kiện sắp xảy ra sẽ dẫn tới điều gì trên hành tinh không? Hàng triệu, hàng tỷ người trên khắp hành tinh đang nín thở chờ nghe tin tức của sự kiện này. Một mẩu tin được ưu tiên bậc nhất. Một mẩu tin được gửi đi bằng “bức điện hỏa tốc”. Máy sẽ reo lên 10 lần dấu hiệu (K) dấu hiệu này tới máy nào khiến nhân viên trực máy ấy xốn xang, họ lập tức gạt ngay mọi làn sóng họ đang tiếp nhận hoặc gửi đi để đón nhận tần số K dẫn tới – các hãng thông tấn Mỹ, chỉ mới phát một “bức điện hỏa tốc” khi xảy ra sự kiện Tổng thống Kennơdi bị ám sát.

Hôm nay, ở Sài Gòn này, trong khoảnh khắc thiêng liêng sắp tới nào đó, chỉ họ và chính họ, những phóng viên hãng UPI gửi đi “bức điện hỏa tốc” thứ hai của nước Mỹ. Làn sóng điện của máy têlêtíp của hãng UPI tại Sài  Gòn sẽ tung lên không gian một tần số quen thuộc nhưng vô cùng hấp dẫn. Rồi chừng 40 giây sau, chuông của 7.700 máy têlêtíp khắp trên hành tinh sẽ reo lên 10 lần, những nhân viên kỹ thuật của 7.500 cơ sở hồi hộp, nín thở  tiếp nhận  các tín hiệu. Rồi hàng triệu, hàng tỷ người trên hành tinh nín thở lắng nghe, lắng nghe… Lạy Chúa!

Bất chợt, một phóng viên cất tiếng phá tan sự im lặng thiêng liêng.

- Nếu bức điện hỏa tốc chưa gửi đi hết mà một Việt cộng xộc vào tay lăm lăm khẩu súng AK thì tính sao?

Alăng Daosơn thản nhiên trả lời, hầu như anh đã dự tính mọi tình huống có thể xảy ra:

- Chúng ta sẽ đứng lên xếp thành hàng ngang, làm thành bức tường bảo vệ cậu đánh têlêtíp, và làm như Acsimét xưa kia. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta đã cân nhắc mọi lẽ nếu xảy ra rủi ro ngoài dự kiến, chúng ta sẽ chấp nhận. Nhưng, không có thì giờ bàn chuyện dông dài, các bạn cho máy luôn ở tư thế sẵn sàng làm việc.

Văn phòng trở lại im lặng, các máy ghi âm đã bấm nút đèn hiện ở máy Thu thanh do Pônvôn điều khiển nhấp nháy, chỉ có tiếng lách tách từ 3 chiếc máy têlêtíp là vẫn điều đặn tung lên không gian những bản tin mới.

Bỗng Pônvôn kêu lên:

- Tướng Minh bắt đầu nói. Tổng thống nói dài, nhưng điều cơ bản nhất đã rõ. Alăng Daosơn bước lại đứng sau người nhân viên đánh máy, bức điện hỏa tốc hiện dần thành văn bản.

Zczc. VHAo25, NX1
BBHUPI NTDNSE
Zcz NVN

Hỏa tốc
Sài Gòn –  Chính phủ Sài Gòn đầu hàng.
Zczc MNVN

Alăng Daosơn cầm bức điện giao cho nhân viên người Việt Nam điều khiển têlêtíp tốt nhất để chuyển đi. Anh nhân viên người Việt Nam sững sờ khi đọc hết bức điện, rồi khẩn trương thận trọng gõ vào máy. Bức điện hỏa tốc được đánh nhắc lại ba lần để tránh mọi sự nhầm lẫn hoặc giả mạo.

Tất cả lặng người vì giây phút trọng đại nhất của nghề nghiệp phóng viên chiến tranh vừa diễn ra.

Alăng Daosơn phá tan sự im lặng:

- Cảm ơn chúa! Chiến tranh đã kết thúc. Hòa bình đã về với đất nước đã chịu quá nhiều đau khổ. Lúc này chúng ta có thể tạm ngừng chốc lát mọi công việc, để ra quầy rượu chúc mừng hòa bình, chúc mừng sự nghiệp vẻ vang của phóng viên chiến tranh vì đã đánh bức điện hỏa tốc đến khắp châu lục để mọi người biết được bản tin đặc biệt này.

Phạm Thành Nghi (cung cấp tư liệu)

dantri.com.vn

Thèm giấc ngủ trong tiếng reo mừng chiến thắng

Trung tướng Nguyễn Ân (Ảnh: Internet)

Dù chiến tranh đã lùi xa nhưng với Trung tướng Nguyễn Ân, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 thời kỳ 1973-1975 những giây phút trong buổi trưa lịch sử 30/4/1975 không thể nào phai mờ trong tâm trí ông.

Trong giây phút thảnh thơi, khi cả nước rộn ràng kỷ niệm ngày thống nhất đất nước, vị Trung tướng già hồi tưởng lại câu chuyện lịch sử cách đây 35 năm.

Tiến về Sài Gòn sau một tuần không ngủ

Câu chuyện bắt đầu với mốc thời gian 24/4/1975. Lúc đó, ông Nguyễn Ân đang là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, một trong những đơn vị chủ lực đánh vào Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

“Sau khi giải phóng Đà Nẵng, do yêu cầu của Bộ Chính trị, đơn vị của tôi sẽ nổ phát súng đầu tiên vào sào huyệt cuối cùng của địch tại Sài Gòn. Ngày 24/4/1975, đơn vị chúng tôi bắt đầu hành quân từ Đà Nẵng vào Sài Gòn. Và cho đến ngày 26/4, toàn bộ lực lượng đã ở vị trí tập kết để sẵn sàng chiến đấu.”

Đơn vị do Trung tướng Nguyễn Ân chỉ huy lúc đó tiến đánh Sài Gòn theo hướng Đông. Khi lên đường, mỗi chiến sỹ phải mang theo một tuần gạo ăn, lương khô. Cũng do nhận biết được sự ác liệt trong những ngày tổng tiến công nên các chiến sỹ ngồi trên xe thay phiên nhau ngủ để đảm bảo sức khỏe.

“Do phải thường xuyên nắm bắt tình hình để có những điều chỉnh tức thời khi hành quân nên trên đường vào Sài Gòn, mình không thể chợp mắt một phút nào,” Trung tướng Ân kể lại.

Ngày 26/4/1975, đơn vị do Trung tướng Nguyễn Ân chỉ huy nổ tiếng súng đầu tiên mở màn cho cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn. Với nhiệm vụ chiếm giữ căn cứ Nước Trong, Tổng kho Long Bình, Trung tướng Ân và các chiến sỹ đã nhanh chóng làm chủ được tình thế.

“Khi chiếm được khu Tổng kho Long Bình, toàn đơn vị nghỉ ngơi để chuẩn bị tiến vào Sài Gòn theo đường 15. Long Bình là địa bàn khá cao nên để lấy được nước nấu ăn chúng tôi phải đi mất gần 5 cây số. Vì không có nước, chẳng  ai được tắm rửa mặc dù người dính đầy đất bụi, có người còn có cả máu…”

Ngày 28/4/1975, mũi tiến công do Trung tướng Nguyễn Ân dẫn đầu chiếm lĩnh được đường 15. Tuy nhiên, khi vào đến khu vực Thủ Đức, địch chống trả rất quyết liệt. “Rất nhiều chiến sỹ đã ngã xuống ngay trước cửa ngõ Sài Gòn. Địch kháng cự mạnh mẽ. Chỉ đến khi đơn vị pháo binh của Sư đoàn 304 đánh tan hải quân của địch tại sông Sài Gòn thì chúng tôi mới tiến vào được nội đô…,” Trung tướng  Ân bồi hồi nhớ lại.

Giấc ngủ trong tiếng reo mừng chiến thắng

Thẳng hướng Đông, mũi tiến công của Trung tướng Nguyễn Ân là một trong những đơn vị đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập, sào huyệt cuối cùng của địch tại Sài Gòn.

“Khi chúng tôi tiến vào Sài Gòn, quân giải phóng đi đến đâu người dân đổ ra đường ăn mừng chiến thắng đến đó. Toàn thành phố như vỡ òa trong niềm vui chiến thắng.”

“Tuy nhiên có một điều mà tôi thấy Bộ Chính trị của ta khi đó đã rất đúng là kéo quân địch ra ngoài nội đô Sài Gòn để đánh. Khi tiến vào Sài Gòn, toàn thành phố vẫn khá yên bình, lực lượng địch bị tiêu diệt hết ở vòng ngoài nên cũng không đủ sức để kháng cự nữa. Quân ta đều thẳng tiến về các mục tiêu cuối cùng mà đã được phân công.”

Sau khi Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304 chiếm được Dinh Độc Lập và bắt sống được Dương Văn Minh, quân và dân hò reo mừng ngày thống nhất hai miền Nam-Bắc.

Tuy nhiên, do mang trọng trách chỉ huy nên Trung tướng Nguyễn Ân phải chuẩn bị mọi thủ tục để tiếp quản Sài Gòn và đặc biệt là giữ “an toàn” cho Dương Văn Minh.

“Toàn Sài Gòn lúc đó vẫn ầm ầm tiếng súng ở khắp mọi nơi nhưng đó là tiếng súng ăn mừng chiến thắng của quân ta. Dương Văn Minh nghe thấy nhiều tiếng súng sợ hãi, không dám ra ngoài.”

“Sau khi đã hoàn thành các thủ tục để chờ lãnh đạo đến bàn giao, tôi và anh Nguyễn Hữu An lúc đó là Tư lệnh Quân đoàn II rủ nhau đi xem các phòng ốc trong Dinh Độc Lập để nắm bắt tình hình,” Trung tướng Ân kể tiếp.

“Cho đến 7 giờ tối, khi lãnh đạo phía ta đã tiếp quản hoàn toàn các đơn vị bắt đầu chia nhau về từng nơi để nghỉ ngơi. Tôi và một số người khác sang bên trụ sở Bộ Nội vụ lúc đó để tắm nhờ.

“Sau khi tắm xong, tôi chỉ nghĩ kiếm tạm cái gì ăn rồi đi ngủ. Suốt một tuần liền không được chợp mắt nên ai nấy đều thèm ngủ. Mỗi anh em ăn tạm bát mỳ rồi đều tìm chỗ ngả lưng. Tôi lên giường và nhanh chóng thiếp đi mặc dù ở ngoài hàng nghìn người đang hò reo ‘giải phóng Sài Gòn rồi,’ ‘hòa bình muôn năm,’ ‘Bác Hồ muôn năm’…” ông Ân bồi hồi nhớ lại ký ức ngày 30/4 lịch sử./.

Ngọc Cương (Vietnam+)

Vỡ òa thời khắc lịch sử

Sáng 30- 4-1975, trời Hà Nội mát dịu và lất phất mưa. Người đi đến công sở như mọi ngày bình thường. Chung quanh Câu lạc bộ Thống Nhất vẫn đông người, nhất là bà con miền Nam.

Có những giờ phút ấy… (Bài 2)

Các loa công cộng mắc trên cây sấu, cây xà cừ chung quanh bờ hồ Hoàn Kiếm vẫn tiếp tục phát tin và nhạc quân hành. Loa mắc ở thân cây, thân cột điện, loa đặt ở cửa sổ nhà cao tầng đến nỗi ta ngồi trên xe hoặc đi bộ chung quanh Bờ Hồ cũng dễ dàng nghe trọn ven một bản tin mà ai cũng thích nghe, nghe chăm chú, nghe mê mải. “Tiến về Sài Gòn, ta tiến về Sài Gòn” Bằng giọng xúc động, chị phát thanh viên đọc đi đọc lại tư liệu “Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” đăng ở báo Nhân Dân số ra ngày 29-4-1975, mở đầu bằng câu: Nhà Bè nước chảy chia hai/ Ai về Gia định, Đồng Nai thì về; càng làm cho Hà Nội, cho miền Bắc thấy Sài Gòn, thấy miền Nam thật gần gũi, thật thiết tha.

Và thời điểm lịch sử tất yếu mà lạ lùng đã đến! Tất cả như gọi nhau đổ ra sân nhà, ngõ phố, đổ ra đường! Trên các đường phố, các khu tập thể, chung quanh Hồ Gươm… như choáng ngợp trước tin chiến thắng vĩ đại:

- Bà con ơi! Đồng bào, đồng chí ơi! Anh chị em ơi! Sài Gòn đã được giải phóng rồi!

- Cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam kéo lên ở dinh Độc Lập rồi! Ngụy quyền Sài Gòn đầu hàng rồi!

Đây đó người ta bàng hoàng reo lên trong dòng lệ. Hà Nội cười. Hà Nội khóc. Trái tim Tổ quốc đang đập những giờ phút xúc động nhất. Sau đó chúng tôi lặng đi. Nhiều người thút thít khóc. Ở giây phút thiêng liêng này ai cũng nghĩ tới bao đồng bào, đồng chí, cán bộ chiến sĩ đã hy sinh, góp phần làm nên chiến thắng hôm nay.

Đó là giữa trưa 30-4. Một đời người không dễ mấy ai được sống thời diểm đẹp đẽ ấy của đất nước- thời điểm mà mỗi người hằng thiết tha, ước mơ, chờ đợi, trong suốt mấy mươi năm trời.

Sau những giờ phút chói lòa của buổi trưa 30-4, đường phố Hà Nội tiếp tục tràn ngập những dòng người mỗi lúc một đông. Gặp người thân là ôm chầm. Chưa quen, người ta cũng có thể bắt chuyện cười nói vui vẻ. Những bà cụ bán nước chè thuốc lá ở vỉa hè, ông bán phở, chị bán hàng rong cũng tung khăn, tung nón trước sự kiện diễn ra lớn quá, tuyệt trần quá! Chưa bao giờ họ tỏ rõ tình cảm mãnh liệt giữa đường phố như ngày này. Tất cả nỗi khát khao được chứa đựng từ lâu như dồn cho ngày hôm nay. Ai nấy như muốn hòa thân xác mình, trộn tâm hồn, tình cảm của mình với thành phố Sài Gòn, với miền Nam, với đất nước quang vinh.

Đêm 30-4, chung quanh hồ Hoàn Kiếm thật sự là một ngày hội lớn, thật sự là một hội hoa đăng của muôn người, muôn trái tim hướng lòng mình về thành phố Sài Gòn, về miền Nam, về Cà Mau xa xôi mà gần gũi. Bên những chứng tích của cuộc chiến đấu vừa qua, người Hà Nội đã tự hào chia máu, chia lửa, chia gạo với miền Nam để làm nên chiến thắng hôm nay. Chúng tôi, trong đó có mấy anh bạn người Sài Gòn chen những đợt sóng người đầy màu sắc mà nói về bến Nhà Rồng, cột cờ Thủ Ngữ, nói về Hóc Môn, Bà Điểm, Củ Chi, nói về dòng Bến Nghé, Nhà Bè, nói về Dinh Độc Lập, Tòa đại sứ Mỹ. Giờ này trong ấy đang cùng Hà Nội, đang cùng cả nước vui niềm vui lớn. Một người nói: “Chúng ta không hổ thẹn với trống đồng, không hổ thẹn với những người đã nằm xuống vì sự nghiệp cao đẹp của họ”.

Rồi tôi nghĩ đến Côn Đảo, Phú Quốc và bao nhiêu nhà tù khác ở miền Nam. Không hiểu cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ta đã biết được cái tin lớn lao này chưa? Tính mạng của anh chị em ấy ra sao? Ngổn ngang bao nỗi vui và lo lắng.

Đêm 30-4, anh em bạn bè người nước ngoài ở Hà Nội cũng cùng xuống đường chung hưởng chiến thắng với ta. Bằng phong cách riêng, họ ca hát, nhảy múa, tặng hoa cho người Việt nam. Các bạn cán bộ, công nhân viên ở Đại sứ quán Cu Ba, bên cạnh khu tập thể của tôi,, một nách kẹp chai rượu, một nách ôm đàn hát những bài hát vui, hoặc nói đôi câu tiếng Việt: “Hồ Chí Minh”, “Giải phóng!”. “Sài Gòn!”, “Chúc mừng!”. Đêm hôm đó, các cán bộ Đại sứ quán Cu Ba ở đường Lý Thường Kiệt nhảy múa ca hát suốt đêm, để mừng Việt Nam, mừng Sài Gòn.

Mấy ngày sau đó, chúng tôi nhận được tờ báo Sài Gòn giải phóng- tiếng nói của nhân dân Sài Gòn- Gia Định xuất bản số đầu tiên từ Sài Gòn gửi ra bằng máy bay! Tờ báo lịch sử in giữa lòng Sài Gòn giải phóng ấy đến với chúng tôi vào lúc bảy giờ rưỡi tối. Mọi người nâng niu chuyền nhau. Chao ơi! Ảnh Bác Hồ mỉm cười phóng lớn một phần tư trang báo được viền bằng hoa văn đỏ. Những con chữ tít lớn cũng đỏ, trang nghiêm mà vui như muốn nhảy ra. Màu đỏ là màu tươi nhất, thắm nhất trong suốt hai trang báo: “Sau 50 ngày đêm tiến công và nổi dậy liên tục, sáng ngày 1- 5- 1975, quân và dân ta hoàn toàn làm chủ toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam; Sài Gòn trong những giờ phút lịch sử!…”. Tòa soạn báo đặt tại 174 đường Hiền Vương và in tại Tân Minh ấn quán, 432 Hồng Thập Tự, Sài Gòn 3.

Sau đó, tờ báo được được đưa lên phòng thư ký tòa soạn và khai thác ngay để ngày mai bạn đọc Hà Nội, bạn đọc toàn miền Bắc cùng chung vui với miền Nam, với Sài Gòn.

Đó là món quà đầu tiên mà chúng tôi nhận được từ Sài Gòn sau giải phóng.

Trần Thanh Phương

Đại Đoàn Kết

“Việt Nam, thiên anh hùng ca hôm qua và hôm nay”

Xe tăng quân giải phóng tiến vào giải phóng Nha Trang. (Ảnh tư liệu TTXVN)

Ngày 30/4, báo Granma, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cuba, đã có bài viết ca ngợi tinh thần chiến đấu kiên cường của dân tộc Việt Nam chống đế quốc Mỹ nhân kỷ niệm 35 năm ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2010).

Theo phóng viên TTXVN tại Havana, dưới tiêu đề: “Việt Nam, thiên anh hùng ca của ngày hôm qua và hôm nay,” bài viết của nữ nhà báo nổi tiếng Cuba Marta Roja đã ôn lại những giờ phút oanh liệt của quân và dân Việt Nam vào ngày 30/4/1975 lịch sử.

Bài báo có đoạn viết: “Dân tộc Việt Nam, một trong những dân tộc nghèo nhất và chịu nhiều khổ đau nhất, đã chiến thắng đế quốc Mỹ trong một cuộc chiến không cân sức khi mà quân đội Mỹ đã sử dụng tới những vũ khí tối tân nhất, thậm chí những vũ khí đó còn có khả năng hủy diệt chính những người lính Mỹ. Đây cũng là thất bại quân sự và chính trị lớn nhất trong lịch sử của đế quốc Mỹ.”

Theo nữ nhà báo Marta Roja, những nỗ lực của Lầu Năm Góc ngăn cản miền Bắc chi viện cho miền Nam, bom napal, chất độc màu da cam, hay các cuộc ném bom rải thảm của máy bay B52 không thể ngăn cản những giá trị và trí tuệ của một dân tộc quyết tâm bảo vệ tự do và thống nhất đất nước như những gì mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ và người sáng lập ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã ghi lại trong di chúc của Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng chắc chắn rằng sau khi Việt Nam giành thắng lợi, nhân dân Việt Nam sẽ xây dựng đất nước mười lần tươi đẹp hơn.

Bài báo khẳng định sức mạnh của ý chí cách mạnh và tinh thần đoàn kết không gì phá vỡ nổi, tinh thần quyết chiến quyết thắng, sự quyết tâm đáng khâm phục của những người con Việt Nam từ đàn ông tới đàn bà, từ các cụ già tới những em nhỏ đã làm nên chiến thắng vĩ đại nhất trong lĩnh vực quân sự của thế kỷ 20.

Bài báo nhấn mạnh: “Chủ nghĩa anh hùng quật cường của dân tộc Việt Nam không những được thể hiện trong chiến tranh mà còn cả trong hòa bình, là một tấm gương. Sự phát triển vĩ đại của dân tộc Việt Nam đoàn kết xứng đáng được kính trọng.”

Bà Marta Roja là người từng có nhiều năm làm phóng viên tại Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ và hiện là Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Cuba-Việt Nam, cũng là phóng viên nước ngoài cuối cùng đã thực hiện cuộc phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người đi xa./.

Bản anh hùng ca của “bảy cô gái Quang Trung”

(Ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn: Internet)

Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng câu chuyện về bảy cô gái Quang Trung, Phủ Lý, Hà Nam anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẫn được nhiều người dân truyền tai nhau qua nhiều thế hệ.

Họ đều là những cô gái chưa đến tuổi 20 nhưng ý chí quyết chiến quyết thắng luôn cháy bỏng, từng ngày từng giờ mong muốn đánh đuổi quân xâm lược. Câu chuyện về họ xứng đáng là những bản hùng ca về tuổi trẻ của thị xã Phủ Lý thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Bảo vệ Tổ quốc, tiếc gì tuổi xanh

Vào những năm 1960, địa bàn Phủ Lý được xác định là điểm huyết mạch trên bản đồ quân sự vì có đường sắt, Quốc lộ 1A chạy qua, lại là ngã ba để đi tới vùng tản cư Bút Sơn và kho vũ khí Ba Sao của quân đội ta. Do đó, máy bay Mỹ ngày đêm đánh phá thị xã Phủ Lý rất ác liệt.

Khi đó, hầu hết thanh niên trai tráng của thị xã đều đi theo tiếng gọi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” ở nhà toàn phụ nữ và trẻ em. Trong tình thế cấp bách đó, tháng 5/1964 phố Quang Trung, Phủ Lý đã thành lập đội tự vệ tình nguyện gồm bảy chị em.

Người cao tuổi nhất là Tiểu đội trưởng Bùi Thị Hường mới 19 tuổi, nhỏ nhất là chị Bùi Thị Cường 16 tuổi, còn lại các chị Hời, Chính, Oánh, Hồng, Định đều độ tuổi 17, 18. Đội lấy tên “Bảy cô gái Quang Trung” với nhiệm vụ chính là cộng tác với đội pháo 37 ly trực tiếp tham gia chiến đấu và cứu tải thương.

Bà Đặng Thị Hồng, hiện trú tại xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, một thành viên trong đội bồi hồi kể về trận đánh ác liệt nhất vào sáng ngày 1/10/1966. Mặc dù đã xác định trước máy bay Mỹ sẽ bắn phá ác liệt nhưng các chị vẫn bị ngợp bởi sự khủng khiếp của nó.

Vào lúc 5 giờ 30 phút, các vị trí chiến đấu đã sẵn sàng, bảy chị em được giao nhiệm vụ cố thủ một ụ pháo 37 ly trên đê sông Đáy. Khoảng một tiếng sau, bầu trời chợt tối sầm lại, gần 20 máy bay Mỹ ập đến gầm rú trên bầu trời trút xuống hàng tấn bom. Bên dưới, pháo phòng không kiên cường bắn trả.

Tiếng máy bay địch gầm rú, tiếng bom nổ, tiếng pháo phòng không nhả đạn hòa lẫn vào tiếng người kêu rú, tiếng rên của người bị thương tạo nên một thứ âm thanh hỗn độn rất khó tả, vẫn còn ám ảnh đến bà cho đến tận bây giờ.

Không cầm được nước mắt, bà Hồng nói trong sự nghẹn ngào: “Lúc đó, hai ụ pháo 37 ly gần đó đã bị hạ. Quay sang nhìn, chỉ thấy xác của hai đồng chí bộ đội đã bị phạt mất đầu vẫn trong tư thế tay ôm ghì ụ pháo. Còn ụ bên kia đã bị nổ tung. Nòng pháo, thây người, chân tay đứt lìa và máu hòa lẫn vào nhau thật hãi hùng. Tiểu đội phó Đặng Thị Oánh chỉ kịp trấn tĩnh chị em: ‘Một sống hai chết các cậu. Chiến đấu!’ Và chúng tôi ôm ghì ụ pháo nhằm máy bay địch mà nã.”

Đâu cần chị em có, đâu khó có chị em

Sự tàn khốc của chiến tranh vẫn còn được ghi rõ trong cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam: Quý 3 năm 1965, Mỹ cho 1662 tốp máy bay thâm nhập, đánh phá vào các trọng điểm kinh tế, quốc phòng, trong đó có 16 lần đánh vào các tuyến giao thông vận tải. Tháng 11/1965, Mỹ cho 303 tốp máy bay đánh phá Quốc lộ 1A và đường 21, rồi đến ngày 01/8/1966, không quân Mỹ thả trên 1.000 quả bom xuống thị xã Hà Nam.

Nguy hiểm luôn rình rập như thế vẫn không ngăn nổi ý chí của những cô gái chưa đến tuổi 20. Những chiến công mà các chị lập nên thật đáng nể, nơi địch bắn phá ác liệt nhất, nơi nguy hiểm nhất là các chị có mặt. Các đoạn đường, cầu vừa bị máy bay địch bắn phá, liền được sửa chữa ngay.

Địch cứ bắn phá, các chị cứ sửa chữa. Bao nhiêu đoạn đường đã được nối lại, bao nhiêu chiếc cầu được vá lại các chị cũng không nhớ rõ. Những nơi chiến sự xảy ra ác liệt nhất, bảy chị em lại lao đến cứu tải thương. Đêm đến, các chị làm “cọc tiêu sống” chỉ dẫn cho từng chiếc xe men qua miệng hố bom, bờ sông để nối nhau vào tiền tuyến.

Mỗi lần cứu tải thương là mỗi lần cái chết rình rập mà bà Bùi Thị Cường cùng các đồng đội không thể nào quên. Bà  Cường nhớ lại, sau trận đánh rạng sáng 1/10/1966, bảy chị em được lệnh rút lui về để cứu tải thương.

Sáng 2/10/1966, khi máy bay Mỹ ném bom ác liệt, nhận được tin báo có một đồng chí bộ đội thông tin liên lạc bị trọng thương cần đưa về hậu phương để chữa trị khẩn cấp, bảy chị em cùng nhau cáng đồng chí bộ đội thông tin ra bờ sông để lên thuyền sang sông. Lúc này máy bay Mỹ đang thả bom rất dày, đặc biệt cầu Hồng Phú và sông Đáy đang là mục tiêu bắn phá của địch.

Khi ra đến bờ sông, rất nhiều chiếc thuyền ba lá đã bị bom dội nổ tung, giữa lòng sông bom giặc thả dày đặc, từng cột nước tung lên trắng xóa, khiến đứng ở bờ bên này không thể nhìn rõ sang bờ bên kia. Tình thế nguy kịch nhưng không thể chần chừ, các chị đã quyết định đưa người bị thương lên thuyền sang sông về hậu phương. Tính mạng của người chiến sĩ đang “ngàn cân treo sợi tóc,” bảy chị em người trèo, người bơi đẩy đưa chiếc thuyền băng qua từng cột nước.

Nhớ lại tình cảnh đó bà Hồng vẫn chưa hết bàng hoàng: “Thuyền đi đến giữa sông cũng là lúc nguy hiểm nhất, các chị em không dám ngẩng đầu nhìn lên trời mà chỉ biết nhìn thẳng bờ bên kia mà lái thuyền. Nếu nhìn lên trời có cảm tưởng mưa bom đang trút thẳng xuống đầu mình. Có những đoạn bom dội cách thuyền mấy chục mét, nuớc bắn rát cả mặt. Sang đến bên kia, vừa đưa chiến sĩ bị thương lên bờ đi được một đoạn thì chiếc thuyền ba lá bị trúng bom nổ tan tành.”

Cũng nhờ sự mưu trí, dũng cảm của các chị mà không ít đồng chí bộ đội được chữa trị kịp thời. Sau này, khi ra mặt trận không ít chiến sĩ viết thư về cảm ơn mà các chị còn không nhớ là ai.

Thành tích của các chị đã được thiếu tướng Hồng Thanh tặng bằng khen năm 1966. Sau này, các chị được sáp nhập vào đơn vị Quyết Tiến vừa tham gia chiến đầu vừa tham gia sản xuất.

Ông Trần Hồng Quân, nguyên là trưởng đài phòng không, thị đội Hà Nam, mỗi khi nhắc đến bảy cô gái Quang Trung vẫn không giấu được vẻ thán phục: “Thật là một điều kỳ diệu. Trải qua bao mưa bom bão đạn khốc liệt của chiến tranh, các chị vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà không ai bị thương, hình ảnh của các chị mãi là niềm tự hào của người dân Hà Nam.”

Giờ đây, đội tự vệ bảy cô gái Quang Trung người còn, người mất, nhưng tình đồng chí vẫn vẹn nguyên. Cuộc sống thời bình nhiều lúc bon chen khiến mỗi người đi theo mỗi ngả, nhưng mỗi khi bùi ngùi nhớ lại những ngày cùng nhau sát cánh mỗi chị đều không giấu được niềm xúc động trào dâng.

Các chị dân quân tự vệ năm nào nay đều đã “lên ông lên bà” vẫn luôn có một ước nguyện được cùng nhau sum họp một lần để cùng cười, cùng khóc ôn lại những kỷ niệm một thời./.

Đức Phương-Đặng Hưng (Vietnam+)

Gặp lại nữ tình báo bí danh B3 – Nguyễn Thị Út

Các chiến sĩ quân giải phóng gặp gỡ nhân dân Sài Gòn trong ngày 30/4/1975. Ảnh minh họa (Nguồn: Ngọc Đản/TTXVN)

Cách đây hơn 35 năm, nữ tình báo Nguyễn Thị Út (hiện ngụ tại xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa , Long An) đã góp phần đánh bật nhiều cuộc tấn công của địch và đóng góp sức mình cho Đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Nữ tình báo Nguyễn Thị Út (tức Nguyễn Thị Ba) năm nay đã ở tuổi 94, tuy tuổi cao nhưng bà rất minh mẫn và nhớ như in những kỷ niệm thời hoạt động cách mạng.

Bà Nguyễn Thị Út sinh ra trong một gia đình đông anh em ở xã Hựu Thạnh (Đức Hòa, Long An). Bà là người con thứ mười một nên được gọi thân mật là bà Út. Sở dĩ bà có tên Nguyễn Thị Ba là do các đồng đội ghép thứ của chồng bà, tức ông Trần Văn Phước (hay gọi Ba Phước), một chiến sĩ cách mạng bị tù côn đảo.

Năm 18 tuổi, bà đi theo cách mạng vì thấy kẻ thù hành hạ, giết đồng bào dã man. Chỉ hai năm công tác, bà vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản và là một trong những người thành lập chi bộ đầu tiên ở xã Hựu Thạnh.

Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bùng nổ nhưng sau đó bị địch khống chế nên bà Út được giao nhiệm vụ đi các tỉnh để nắm tình hình và gây dựng lại cơ sở.

Năm 1945, Cách mạng Tháng 8 bùng nổ, bà được tổ chức tín nhiệm bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Hội phụ nữ Sài Gòn-Gia Định, đồng thời nhận nhiệm vụ vận động thanh niên đô thành lên đường kháng chiến.

Ba năm sau, bà được điều về Hội phụ nữ tỉnh Long An, rồi chuyển sang làm công tác mật ở Rạch Giá (Kiên Giang).

Đến năm 1958, sau khi qua khóa tập huấn nghiệp vụ tình báo tại Châu Đốc-Hồng Ngự (Đồng Tháp), bà được điều trở lại Sài Gòn với bí danh B3.

Khi được hỏi về điều khiến bà nhớ nhất trong quá trình họat động tình báo, bà Út cho biết: “ Với mâm đồ trang sức bằng vàng giả, tôi đã qua mắt được bọn giặc để bảo vệ những thông tin tối mật với các đồng chí, đặc biệt là đối với đồng chí Phạm Xuân Ẩn- nhà tình báo chiến lược, Anh hùng lực lượng vũ trang.”

Suốt 35 năm liên tục hoạt động trong vùng địch kiểm soát, khi làm giao liên bí mật ở Sài Gòn, nữ tình báo Nguyễn Thị Út luôn nêu cao tinh thần tuyệt đối trung thành với Đảng, hết lòng phục vụ sự nghiệp cách mạng, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Chính vì vậy, vào năm 1976 bà được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang.

Sau hòa bình, bà Út tiếp tục tham gia vào các hoạt động của các tổ chức hội tỉnh Long An và chính thức nghỉ vào năm 1980 vì lý do sức khỏe.

Tuy nhiên trong những ngày lễ kỷ niệm trọng đại của đất nước, bà đều tham dự để gặp lại đồng chí, đồng đội cùng ôn lại những năm tháng hào hùng.

Nữ anh hùng Nguyễn Thị Út rất tin tưởng và hy vọng vào thế hệ trẻ – những người chủ tương lai của đất nước. Bà nhắn nhủ, thế hệ sinh được ra, sống và học tập trong thời bình cần tiếp tục phát huy hơn nữa tinh thần cách mạng, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước.

Bà Út cũng rất vui mừng vì hiện nay Long An đã có một số cán bộ lãnh đạo của các huyện, thành phố, ban ngành tỉnh có tuổi đời còn rất trẻ. Và như thế Long An sẽ không ngừng phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hội nhập vào xu thế chung là công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước./.

Thanh Bình (Vietnam+)

Ngày 23/4/1975: Tỉnh Bình Tuy cũ được hoàn toàn giải phóng

Với thắng lợi của cuộc hành quân thần tốc, đột phá mở đường vào phía Nam, tiến công tiêu diệt địch ở Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân, giải phóng các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy.

Sau thắng lợi ở Phan Thiết, các lực lượng vũ trang Bình Tuy chủ động nổ súng đánh chiếm căn cứ 6 và 13 của địch.

Từ đêm 22/4/1975, quân ta đánh chiếm khu vực Láng Gòn. Quân địch ở thị xã Hàm Tân bị hoàn toàn tan vỡ, xô nhau tháo chạy ra cửa biển Tân Lý.

Với thắng lợi của cuộc hành quân thần tốc, đột phá mở đường vào phía Nam, tiến công tiêu diệt địch ở Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân, giải phóng các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy, các lực lượng vũ trang của ta đã góp phần quan trọng làm thất bại biện pháp phòng ngự từ xa của địch ở hướng đông bắc Sài Gòn./.

Theo Ngày này năm xưa, NXB Lao Động 1998

VOV News

Ngày 22/4/1975: Thời cơ mở cuộc Tổng tiến công đã chín muồi

“Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn”.

Ngày 22/4/1975, đồng chí Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị Trung ương Đảng từ Hà Nội điện cho Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh như sau:

“Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày, kịp thời phát động tiến công địch trên các hướng, không để chậm. Nếu để chậm thì không có lợi cả về chính trị và quân sự. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn.

Các anh chị ra chỉ thị ngay cho các hướng, hành động kịp thời, chú trọng kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng. Sự hiệp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động. Hiện nay, thời cơ thúc đẩy chúng ta phải có hành động nhanh nhất. Nắm vững thời cơ lớn, chúng ta nhất định toàn thắng”.

Cũng trong ngày 22/4, Bộ Chỉ huy Chiến dịch duyệt lại lần cuối kế hoạch chính thức của Chiến dịch Hồ Chí Minh./.

Theo Ngày này năm xưa, NXB Lao Động 1998

VOV News

Chiến dịch Huế – Đà Nẵng – Bước nhảy vọt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

36 năm qua, khí thế thắng lợi hào hùng của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đỉnh cao của chủ nghĩa yêu nước vẫn vang mãi trong lòng người dân Việt Nam và các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Quân giải phóng tiến vào Huế – Ảnh: T.L

Ngày 22-2-1975, chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng, năm tỉnh Tây Nguyên là Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức được giải phóng. Tin thắng trận dồn dập bay về Bộ Tổng Chỉ huy. Không kể sớm khuya, nhân viên thông tin, cơ yếu được phân công trực trong Tổng hành dinh (khu A) đã nhận và dịch ngay những bức điện để chuyển ngay đến trực ban tác chiến bất cứ lúc nào. Trước đó, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, tối tối lại qua đường Hoàng Diệu vào hướng cửa Tây (Hoàng thành Hà Nội) và ở đó đến khuya. Những ngày này, ông ăn ngủ luôn trong phòng họp của Quân ủy Trung ương. Tại cuộc họp Bộ Chính trị, chiều ngày 24-3-1975, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng, thay mặt Bộ Tổng Tham mưu báo cáo khả năng sớm dứt điểm đánh chiếm Trị Thiên-Huế. Ông nhấn mạnh, với việc tiêu diệt 3 đến 4 trung đoàn và làm tan rã toàn bộ lực lượng còn lại, thu toàn bộ trang bị nặng của địch, đây sẽ là một chiến thắng lớn. Lực lượng địch co cụm về Đà Nẵng gồm 2 sư đoàn (Sư đoàn lính thủy đánh bộ và sư đoàn 3), 2 đến 3 liên đoàn biệt động quân. Tất cả tương đương 10 trung đoàn, chúng có thể co cụm về Đà Nẵng nhanh hơn. Ta phải nhanh chóng tiến công Đà Nẵng, diệt 2-3 sư đoàn địch nữa trong tháng 4 mới phá được ý đồ co cụm của địch về hướng Sài Gòn… Cuối cùng, Bộ Chính trị khẳng định: “Thời cơ chiến lược lớn đã tới” và đề ra quyết tâm mới: “Nắm vững thời cơ chiến lược, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp dự kiến, không kịp trở tay, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa”. Muốn vậy, cần thực hiện 2 trận quyết chiến chiến lược nữa là Huế- Đà Nẵng và Sài Gòn.

Theo quyết định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy chiến dịch Huế-Đà Nẵng. Đây là đòn chiến lược lớn thứ 2 của ta đánh vào quân đội Sài Gòn. Huế là cố đô và Đà Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp rất mạnh, nơi đặt sở chỉ huy của vùng chiến thuật I, thuộc quân khu I do tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy. Viên tướng này đã từng tuyên bố: “Tử thủ Đà Nẵng”. Trong tình hình hết sức khẩn trương, Bộ Tư lệnh chiến dịch Huế-Đà Nẵng được thành lập: Tư lệnh Lê Trọng Tấn; Chính ủy Chu Huy Mân; Phó tư lệnh Giáp Văn Cương, Nguyễn Bá Phát; Phó chính ủy Bùi Hữu nghĩa. Do được thành lập trong điều kiện các thành viên chưa có điều kiện gặp mặt nhau để nắm tình hình, chỉ đạo tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến dịch, Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu) phải trực tiếp chủ trì tổ chức cơ quan chiến dịch, gồm các cán bộ đã quen thuộc chiến trường này.

Chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng mở ra từ ngày 21-3 đến ngày 29- 3-1975 với lực lượng: quân đoàn tăng cường; diễn ra trong 2 đợt: Đợt 1 (21 đến 26-3-1975), ta tiến công chia cắt Huế-Đà Nẵng, tiêu diệt sư đoàn bộ binh 1, lữ 147 thủy quân lục chiến, liên đoàn biệt động quân của địch, giải phóng Thừa Thiên –Huế. Tiếp đó, quân ta phát triển về hướng Nam uy hiếp Bắc Đà Nẵng; Sư đoàn bộ binh 2 của ta sau khi giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi uy hiếp Đà Nẵng từ hướng Nam. Hướng Trị Thiên: các Sư đoàn 325, 324 thực hành chia cắt Đường 1A, đập vỡ hệ thống phòng ngự phía Nam Huế, phát triển vào Huế, truy kích địch về cửa biển Thuận An, Tư Hiền, cùng lực lượng địa phương chặn đánh địch ở Thuận An, Tư Hiền. Hướng Bắc: các lực lượng Quân khu Trị-Thiên đánh địch trên tuyến phòng thủ Mỹ Chánh, đánh chiếm quận lỵ Hướng Điền, phát triển về Huế, ngã ba Sình. Hướng Tây Huế (Đường 12): Trung đoàn bộ binh 6, trung đoàn 271 (Quân khu 4) theo Đường 12 B tiến về Đồng Môn, Kim Ngọc vào khu Tam giác Huế. Trên các hướng tiến công của ta, địch chống cự yếu ớt, rút chạy nhanh, nhưng ta đã chặn hết các ngả đường nên toàn bộ sư đoàn 1, lữ đoàn 147, các liên đoàn biệt động quân 14, 15, lữ kỵ binh thiết giáp 1, các tiểu đoàn bảo an, lực lượng phòng vệ dân sự cùng bộ máy ngụy quân, ngụy quyền địch từ tỉnh đến xã đều bị tiêu diệt và tan rã. Ngày 25-3-1975, thành phố Huế được giải phóng; ngày 26-3-1975, toàn tỉnh Thừa Thiên được giải phóng hoàn toàn.

Hướng Nam Quảng Ngãi: Sư đoàn bộ binh 2 tiến công tiêu diệt sư đoàn 2 ngụy, giải phóng thị xã Tam Kỳ ngày 25-3-1975. Hướng Quảng Ngãi: 7 giờ ngày 24-3-1975, các lực lượng tại chỗ nổ súng tiến công và sáng ngày 25-3-1975, ta giải phóng thị xã Quảng Ngãi, truy kích địch bỏ chạy, tiêu diệt và bắt sống các lực lượng của liên đoàn biệt động quân 11, thiết đoàn 4, trung đoàn 6 (Sư đoàn 18) địch và tiểu khu Quảng Ngãi.

Đợt 2, từ ngày 27 đến 29-3-1975. Ta phát triển tiến công tiêu diệt sư đoàn thủy quân lục chiến, sư đoàn 3, Bộ Tư lệnh quân đoàn 1 và lực lượng còn lại của quân khu 1 địch, giải phóng Đà Nẵng. Hướng Bắc có Sư đoàn 325, Tây Bắc có Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304), hướng Tây Nam có Sư đoàn 304 (thiếu trung đoàn 9), hướng nam có lực lượng vũ trang Quân khu 5… Cả 4 hướng đồng loạt tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, kết hợp với thọc sâu. Đến 15 giờ ngày 29-3-1975, ta đã đánh chiếm toàn bộ các mục tiêu quan trọng trong thành phố Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà. Kết hợp với đòn tiến công quân sự, lực lượng địa phương phát động quần chúng nổi dậy, diệt ác, phá kìm, giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng vào lúc 17 giờ, ngày 29-3-1975.

Chiến dịch Huế- Đà Nẵng là chiến dịch tiến công lớn, hình thành từ chiến dịch tiến công tổng hợp của 2 quân khu địa phương (4 và 5), có Quân đoàn 2 (binh đoàn cơ động chiến lược) làm nòng cốt, thực hành tiến công trong hành tiến với nghệ thuật bao vây, chia cắt, vu hồi, thọc sâu trên quy mô chiến dịch phá thế co cụm chiến lược của đối phương. Nghệ thuật tạo lực, tạo thế bằng hai phương thức tiến hành chiến tranh (Binh đoàn cơ động và chiến tranh nhân dân) đã tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo, kịp thời giáng những đòn quyết định tiêu diệt những tập đoàn chủ yếu của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và mục tiêu của chiến lược. Chiến dịch này là một bước nhảy vọt mới của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Hà Thành

Đại Đoàn Kết

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.