Ông Nguyễn Hữu Có: Sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn cũ là tất yếu

Từ trái sang: Các ông Triệu Quốc Mạnh, Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Hữu Có và nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trong buổi họp báo sáng 25/3 - Ảnh: Tuổi trẻ.

Nguyễn Hữu Có là chỉ huy quân sự danh tiếng, được cả Pháp và Mỹ trọng dụng. Ông được Ngô Đình Diệm phong quân hàm cấp Tướng, đảm giữ những chức vụ chủ chốt: Tổng Trưởng Quốc phòng (1966) kiêm Phó Thủ tướng của chính quyền Sài Gòn cũ.

Ông cũng là một trong số những người vào thời khắc lịch sử của mùa xuân 1975 đã có mặt ở Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn, chứng kiến những ngày cuối cùng tồn tại của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Hiện nay ông là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông.

Ông có thể cho biết sơ qua về cuộc đời binh nghiệp của mình?

Ông Nguyễn Hữu Có: Tôi khởi đầu cuộc đời binh nghiệp khá sớm, từ khi 18 tuổi, lúc đó Pháp còn ở Việt Nam. Có thể nói, con đường binh nghiệp của tôi gặp nhiều thuận lợi, được đào tạo bài bản và thăng tiến khá nhanh. Tôi đã từng vào, ra Trung, Nam, Bắc, phục vụ trong quân đội Pháp. Sau Hiệp định Geneva, được giao nhiệm vụ chỉ huy điều quân vào các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi tiếp thu những vùng đất mà quân cách mạng đã rút ra miền Bắc.

Khi chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên được thiết lập, tôi là một trong 10 sĩ quan giỏi (trong đó có Nguyễn Văn Thiệu) được lựa chọn qua Mỹ đào tạo sĩ quan chỉ huy và tham mưu.

Sau khi tham gia vào cuộc đảo chính Diệm (1963) thành công, tôi được phong Thiếu tướng, từ thời điểm này, cuộc đời binh nghiệp và uy tín quân sự lên rất nhanh. Tôi đã nắm giữ các chức vụ quan trọng – Tổng Tham mưu trưởng Quốc phòng và hơn thế nữa, còn được Hội đồng tướng lĩnh bầu làm Tổng trưởng Quốc phòng kiêm Phó Thủ tướng, được phong hàm Trung tướng. Nhưng, chính sự thăng tiến nhanh và uy tín cao trong hàng ngũ quân đội ấy của tôi đã không nhận được sự cổ vũ, thậm chí còn gây lo ngại cho chính quyền ông Thiệu. Cũng chính vì lẽ đó mà đời binh nghiệp của tôi đã phải rẽ ngang, “ba chìm, bảy nổi” ở nước ngoài, rồi buộc phải chuyển hướng, sang làm cho Tín nghĩa ngân hàng.

Ông còn nhớ gì về những ngày lịch sử của năm 1975, thời điểm khi quân cách mạng tiến vào giải phóng Sài Gòn?

Ông Nguyễn Hữu Có: Sao không nhớ, những sự kiện diễn ra ngày ấy thì ở Sài Gòn đến người dân bình thường còn quan tâm, huống chi một nhà binh lâu năm như tôi. Ngày 28/4, Thiệu từ chức, trao quyền cho Trần Văn Hương, rồi mấy ngày sau ông Hương lại chuyển quyền sang cho Tướng Dương Văn Minh.

Chiều 29/4, ông Minh cho người tới gọi tôi lên Bộ Tổng tham mưu, đề nghị tôi làm cố vấn, giúp cho Trung tướng Vĩnh Lộc (được chỉ định làm Tổng Tham mưu trưởng lâm thời) chỉ huy quân đội. Lúc này, Thiệu, Kỳ và Tướng Cao Văn Viên Tổng tham mưu trưởng đã “cao chạy, xa bay”. Tình hình Quân đội Việt Nam Cộng hòa hết sức hoang mang, náo loạn và rệu rã. Tôi nhận được điện thoại báo về là xe tăng quân cách mạng đã đến tới tận Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.

Suốt đêm đó, chúng tôi không chợp mắt. Gần sáng ngày 30, Bộ Tổng tham mưu bị Quân giải phóng nã pháo. Điện thoại báo về là Sư đoàn Đồng Dù của Tướng Lý Tòng Bá đã bỏ chạy, Lý Tòng Bá đã bị bắt. Điện từ hướng Biên Hòa cũng toàn hung tin, lính đào ngũ bỏ trốn rất đông, tình hình Biên Hòa căng thẳng, nhưng Tướng Lê Minh Đảo vẫn hứa cố giữ Biên Hòa để bảo vệ cho Sài Gòn. Cần Thơ và các tỉnh miền Tây báo lên là tình hình có khá hơn, chưa thấy lực lượng cách mạng và quân đội vẫn trong tình thế sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 30/4, khi Tướng Dương Văn Minh lên Đài phát thanh kêu gọi đầu hàng, đề nghị tất cả các binh lính hạ súng, toàn bộ quân đội cộng hòa, cả lực lượng ở miền Tây cũng sa sút tinh thần, tôi không nhớ chính xác tên hai tướng ở miền Tây sau khi nghe tin thất bại đã tự tử. Sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn cũ là tất yếu. Chiến thắng 30/4/1975 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam.

Cuộc sống của ông và gia đình sau giải phóng ra sao? Có bị ai ngăn trở, hay gây khó dễ không?

Ông Nguyễn Hữu Có: Sau giải phóng, tôi đi học tập cải tạo 12 năm và hiện sống với gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh. Không có ai cản trở gì đến cuộc sống của chúng tôi. Chúng tôi có tới 12 người con, hiện các con tôi đã lập gia đình, có con cháu và các cháu cùng sống với chúng tôi. Các con tôi tuy làm những công việc khác nhau, nhưng đủ sống, có cháu còn khá giả.

Các con và cháu tôi đều được đi học, gia đình tôi sống hòa thuận, vui vẻ, quan hệ tốt với khu phố, được tặng không ít bằng khen, giấy khen vì những thành tích khác nhau. Tôi và vợ vẫn qua lại bên Hoa Kỳ chơi, không hề bị cấm đoán. Sắp tới, chúng tôi lại sang Hoa Kỳ thăm người nhà. Năm 2004, tôi được mời tham gia công tác Mặt trận, là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh. Tôi vẫn thường xuyên được mời tới tham dự các cuộc gặp mặt với các vị lãnh đạo cao cấp của Quốc hội, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể và luôn nhận được sự thăm hỏi, động viên của các cấp chính quyền.

Là tín hữu của đạo Tin lành, ông có được tự do hoạt động tôn giáo không?

Ông Nguyễn Hữu Có: Gia đình tôi theo đạo Tin lành, chúng tôi được tự do đi lễ nhà thờ, không bị ai bắt bớ, cấm đoán, cấm giảng đạo. Theo tôi không có hiện tượng vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam, nếu cấm thì làm sao giờ ở miền Nam có tới 270 nhà thờ của Hội thánh Tin lành. Chỉ có những hình thức hoạt động truyền đạo thế nào, nhất là ở nơi công cộng thì chính quyền các cấp phải có quy định rõ hơn và phải có giải thích cho dân.

Ông có ý kiến gì về Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về người Việt Nam ở nước ngoài?

Ông Nguyễn Hữu Có: Theo tôi, Nghị quyết đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo bà con kiều bào ở nước ngoài, nếu thực hiện đúng thì nhiều người sẽ trở về, đóng góp cho đất nước. Trường hợp của ông Nguyễn Cao Kỳ là minh chứng khá rõ. Chỉ có một số ít bà con ở nước ngoài còn chưa hiểu rõ, nhưng nếu được tuyên truyền và hiểu đúng thì họ cũng sẽ trở về. Nhân chuyến thăm của tôi sắp tới sang Hoa Kỳ, qua đó, chúng tôi sẽ cố gắng giải thích thêm cho bà con ở bên đó để không còn sự hiểu lầm và cho họ biết rằng, đất nước ta đã phát triển về mọi mặt kinh tế – xã hội, rất cần có sự đóng góp của kiều bào ở nước ngoài thuộc đủ mọi ngành nghề, sẽ rất có lợi cho Tổ quốc.

Rất cảm ơn ông, chúc ông và gia đình sức khoẻ, hạnh phúc, thành đạt và chuyến đi may mắn.

(Theo VOV)

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối Kỳ (Kỳ cuối)

Di tản hoảng loạn và sụp đổ

Di tản hoảng loạn và sụp đổ

Ngày 28/4/1975, tướng Pháp Francois Vanuxem ghé thăm Dương Văn Minh tại nhà riêng để hối thúc Minh tạo dựng chính quyền mới.

Tướng CIA Charles Timmes buổi chiều cùng ngày cũng đã tới nhà Dương Văn Minh 3 lần. Timmes hỏi Minh về thành viên nội các mới, đề nghị thiết lập đường dây nóng nối văn phòng của Minh với ĐSQ Mỹ. Timmes hỏi quan điểm của Minh về tương lai thế nào? Dương Văn Minh mỉm cười, sau đó hạ giọng nói rằng vẫn còn một cơ hội cho đàm phán với Hà Nội vì Sài Gòn, Tây Ninh, và đồng bằng sông Cửu Long chưa hoàn toàn rơi vào tay đối phương.

Timmes hỏi tiếp đại ý: Nếu những vùng này rơi nốt vào tay Bắc Việt thì điều gì sẽ xảy ra? Tổng thống Minh sẽ làm gì? ĐSQ Mỹ sẵn sàng chấp nhận Minh cư trú chính trị? Nghe hỏi câu này, Dương Văn Minh lại mỉm cười và lắc đầu nói: “Người Việt Nam là nhân dân tôi mà. Tôi không đi đâu cả”. Sau đó, Minh đề nghị Charles Timmes giúp dàn xếp cho con gái của mình (kết hôn với một đại tá quân đội Sài Gòn) cùng các cháu ngoại của Minh đi di tản.

Chiều 28/4, trời Sài Gòn bỗng nổi cơn giông sấm chớp ầm ầm. Khoảng 16 giờ hơn 200 nghị sĩ, tướng lĩnh về hưu, và các quan chức cao cấp khác tập trung tại phòng khánh tiết Dinh Tổng thống để chúc mừng tân Tổng thống. Trong bài phát biểu của mình, Dương Văn Minh là Tổng thống Chính quyền Sài Gòn đầu tiên chính thức thừa nhận sự tồn tại của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CMLT).

Minh kêu gọi ngừng bắn ngay tức khắc để thương lượng trong khuôn khổ “Hiệp định Paris” đồng thời cam kết thành lập một chính phủ rộng rãi bao gồm mọi cá nhân theo tinh thần hòa giải. Minh cam kết sẽ trả lại tự do cho những tù nhân chính trị nhằm đáp ứng đòi hỏi trước đây của Chính phủ CMLT về việc xóa bỏ hoàn toàn bộ máy đàn áp của Chính quyền Sài Gòn.

Đại sứ Graham Martin theo dõi tường thuật trực tiếp bài diễn văn của Dương Văn Minh qua phiên dịch. Khi Minh kết thúc bài phát biểu, khoảng 18 giờ thì một phi đội gồm 5 chiếc máy bay A–37 được trang bị pháo MK 81 bắn phá phi trường Tân Sơn Nhất.

Khu vực đỗ máy bay của không lực Chính quyền Sài Gòn đã bị trúng 6 quả bom làm ít nhất 3 chiếc AC – 119 và một số chiếc C–47 bị phá hủy hoàn toàn. Hai quả bom khác rơi đúng điểm giữa tòa nhà Phòng tác chiến và tháp chỉ huy. Sau này được biết viên phi công chỉ huy tốp máy bay ném bom này là Nguyễn Thành Trung – một cựu sĩ quan không lực của Chính quyền Sài Gòn. Trước đó 3 tuần, cũng chính phi công này đã cùng đồng đội lái 3 máy bay A–37 ném bom xuống Dinh Tổng thống.

Trong khi đó, sau loạt bom đầu tiên, ĐSQ Mỹ tin rằng kẻ đứng đầu vụ ném bom Tân Sơn Nhất không ai khác là viên tướng hay nhiễu sự Nguyễn Cao Kỳ. Nhưng sau đó, thông qua người bạn thân của Kỳ là nhà báo Robert Shaplen viết cho tờ The New Yorker (Người New York) CIA mới biết Kỳ không liên quan.

Các máy bay A – 37 nói trên đã cất cánh từ sân bay Phan Rang mà quân đội Bắc Việt mới chiếm được. Đến thời điểm này, nội đô Sài Gòn đâu đâu cũng thấy các quan chức chính quyền và binh lính bỏ nhiệm sở đi di tản. Cảnh sát chính quyền Sài Gòn phải áp dụng giới nghiêm 24 giờ/ngày để ngăn cản mọi sự tụ tập ra đi.

Sau vụ phi công Nguyễn Thành Trung ném bom phi trường Tân Sơn Nhất, chỉ huy phụ trách hậu cần Erich Von Marbod tới gặp Nguyễn Cao Kỳ nhờ cho lính lái toàn bộ số máy bay dự trữ đi cất giấu tại sân bay Takli (Thái Lan). Kỳ nhận lời nhưng không thực hiện. Kết quả là không một chiếc máy bay nào được đưa sang sân bay Takli cất giấu trước khi quân giải phóng dội tên lửa xuống phi trường Tân Sơn Nhất sáng 29/4/1975.

Tối 28/4 những người di tản đã làm náo động cả thành phố với những đoàn xe hơi, xe thùng bất chấp lệnh giới nghiêm cứ ùn ùn kéo về tòa ĐSQ Mỹ, phi trường Tân Sơn Nhất và các trung tâm di tản khác. Vào lúc này, phía quân đội Bắc Việt đã xác định xong các mục tiêu cuối cùng của họ. Sáng 29/4, các đơn vị quân đội Bắc Việt từ các hướng được lệnh tiến thẳng vào Sài Gòn. Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 203 quân đội Bắc Việt đã vượt qua Biên Hòa đang ào ạt tiến về Sài Gòn từ phía Đông theo đường quốc lộ số 1.

Suốt đêm 28 và cả ngày 29/4, Sài Gòn rơi vào tình trạng di tản hoảng loạn. Các máy bay vận tải quân sự C–130 và các máy bay trực thăng bay kín bầu trời hối hả chở người Mỹ và các quan chức, binh lính Chính quyền Sài Gòn cùng gia đình họ ra tàu sân bay Mỹ ngoài khơi.

Đường phố Lê Quí Đôn, nơi có trụ sở Phòng Thông tin Hoa Kỳ chật cứng những người chạy di tản. Trưa 29/4 (giờ Sài Gòn) tại Washington lúc đó là nửa đêm, Tổng thống Mỹ Gerald Ford căng thẳng và mệt mỏi. Dưới tầng lầu, Ngoại trưởng Henry Kissinger đọc lướt các bức điện từ Sài Gòn dồn dập truyền về. Bức điện mới nhất từ tướng Homer Smith, Trưởng Phòng Tùy viên quân sự Mỹ (DAO) tại Sài Gòn, khẳng định quân đội chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ và Bộ chỉ huy của nó không còn tồn tại nữa.

Vào lúc này, tại tổng hành dinh Bộ tổng tham mưu liên quân quân đội Chính quyền Sài Gòn, tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ đi bộ lững thững một mình trong những căn phòng trống rỗng. Trước đó, vào buổi sáng cùng ngày, Kỳ đã bố trí xong xuôi cho vợ con đi di tản. Kỳ điện thoại lên sở chỉ huy không quân, ai đó nhắc ống nghe nói rằng mọi người đã bỏ nhiệm sở chạy hết lên Phòng Tùy viên quân sự Mỹ chờ đi di tản.

Kỳ vừa đặt ống nghe xuống thì tướng Ngô Quang Trưởng, nguyên tư lệnh quân khu 1 bước vào dáng vẻ tiều tụy và cay đắng. Kỳ bước tới vỗ vai Trưởng nói: “Đi theo tôi”. Sau đó Kỳ và Trưởng lên chiếc trực thăng riêng của Kỳ bay thẳng ra tàu sân bay Mỹ USS Midway đỗ ngoài khơi.
Tại khuôn viên Phòng Tuỳ viên quân sự Mỹ, tướng Phú cựu tư lệnh quân khu 2 trong bộ quân phục là phẳng phiu tới gặp Tuỳ viên quân sự Homer Smith xin cho vợ con ông ta đi di tản. Phú không xin bất cứ điều gì cho mình. Sau khi vợ con Phú đã lên máy bay, Phú quay ra, rút súng tự dí vào đầu mình bóp cò tự sát. Tại Dinh Tổng thống, tư lệnh hải quân Diệp Quang Thủy tới mời Tổng thống Dương Văn Minh lên tàu thủy đi di tản. Minh buồn bã lắc đầu từ chối, nói rằng ông sẽ phải ở lại cho đến cùng.

Cuộc di tản trong hoảng loạn diễn ra hối hả đến tận sáng 30/4/1975. Sĩ quan cao cấp CIA Frank Snepp dìu Đại sứ Martin lên chiếc trực thăng đậu trên nóc tòa nhà ĐSQ Mỹ. Martin run lẩy bẩy bước lên máy bay, dường như lúc này ông ta đã trở nên quá yếu đuối. Chiếc trực thăng chở Đại sứ Mỹ Martin rời Sài Gòn lúc 5 giờ sáng ngày 30/4. Khoảng 5 giờ 30, lữ đoàn xe tăng 203 quân đội Bắc Việt vượt cầu Tân Cảng tiến vào thành phố.

Chiếc trực thăng cuối cùng chở người di tản từ nóc nhà ĐSQ Mỹ cất cánh lúc 7 giờ 53 phút, trễ hơn nhiều so với hạn chót mà Washington đặt ra là 3 giờ 45 phút. Đến trưa cùng ngày, Chính quyền Sài Gòn sụp đổ, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Từ tàu sân bay USS Denver, Frank Snepp nghe đài BBC đưa tin: “Quân đội Bắc Việt đã tiến vào Sài Gòn. Họ đã đổi tên nơi đây là thành phố Hồ Chí Minh”.

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 14)

Vị Tổng thống 3 ngày và những quyết định khó hiểu

Vài chục phút trước khi hai viện Quốc hội Chính quyền Sài Gòn bỏ phiếu bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống thay Trần Văn Hương, Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon tự mình thực hiện nỗ lực cuối cùng mặc dù tuyệt vọng về một giải pháp thương lượng hòa bình.

Tướng Dương Văn Minh

Merillon đã bí mật tới Trại Davis ở trong phi trườngTân Sơn Nhất để trực tiếp tham khảo ý kiến các đại diện Cộng sản trong phái đoàn quân sự hỗn hợp.

Thật ngạc nhiên, các quan chức đại diện quân sự Bắc Việt và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chỉ nhắc lại lập trường cứng rắn mà Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát trước đó. Trong khi nói hòa bình chỉ trở lại khi có sự rút hoàn toàn quân đội Mỹ, các quan chức này không hề cam kết sẽ thương lượng với Dương Văn Minh. Thế là hy vọng cuối cùng của Đại sứ Merillon tan thành mây khói.

Trong khi đó, một nguồn tin Hungaria tại phái đoàn Uỷ ban Quốc tế về Kiểm soát và Giám sát (ICCS) nói với chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar rằng đã hết thời hạn cho mọi khả năng thương lượng. Polgar thực sự bị sốc và không thể tin ở tai mình nữa.

Tại sao thời hạn lại hết đúng vào thời điểm Dương Văn Minh được bầu làm Tổng thống thay Trần Văn Hương? Phải chăng phía Chính quyền Sài Gòn chưa làm hết sức mình để phía cộng sản tin rằng mọi đòi hỏi của họ sẽ được đáp ứng? Liệu đây có phải là quan điểm thực sự của Hà Nội hay không?

Tại Washington, mặc dù các cơ quan tình báo Mỹ chưa nắm bắt được đầy đủ tình hình trên chiến trường Việt Nam nhưng Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger vẫn gửi cho Đại sứ Mỹ Martin một bức điện yêu cầu chuẩn bị cho việc di tản lớn.

Tối ngày 27/4/1975, Dương Văn Minh chủ động đề nghị và được ĐSQ Mỹ chấp thuận có cuộc gặp khẩn cấp với Đại sứ Graham Martin. Tham tán Chính trị ĐSQ Mỹ Joe Bennett dàn xếp cuộc gặp này tại nhà riêng của Dương Văn Minh. Khi Đại sứ Martin vừa tới nơi, Dương Văn Minh đã nói thẳng với Martin rằng vì mục đích lấy lòng cộng sản, Minh muốn toàn bộ nhân viên Mỹ làm việc trong Phòng Tuỳ viên Quân sự ĐSQ Mỹ (DAO) phải rời khỏi Sài Gòn vào thời điểm Dương Văn Minh nhậm chức ngày 28/4/1975.

Quyết định khó hiểu này của Minh khiến Martin kịch liệt phản đối. Khi đó Martin đã nói với Minh rằng chính bản thân Martin đã thông qua Đại tá Summers và phái bộ Mỹ tại ủy ban Quốc tế về Kiểm soát và Giám sát thông báo với Hà Nội rằng DAO sẽ chính thức đóng cửa vào ngày 30/4/1975.

Theo cảm nhận của Martin thì phía Hà Nội cũng đồng ý điều này, Do vậy không cần thiết phải đóng cửa DAO sớm hơn. Nghe Đại sứ Martin nói vậy, Dương Văn Minh cuối cùng cũng đồng ý lùi thời hạn thêm 24 tiếng đồng hồ nữa để DAO bắt đầu rút các nhân viên Mỹ. Điều này phải được hoàn tất vào ngày 30/4.

Sau này, Dương Văn Minh thừa nhận là sự nhượng bộ để cho DAO lùi thời gian rút các nhân viên quân sự Mỹ là một sai lầm chính trị nghiêm trọng nhất trong cuộc đời ông. Vì nếu ngay sau đó, cộng sản quyết định kết thúc sớm chiến dịch và đòi toàn bộ cố vấn quân sự Mỹ phải lập tức rút khỏi Sài Gòn thì sự chậm trễ ra đi của DAO chỉ tổ chuốc lấy tai họa.
Trong khi Ngoại trưởng Kissinger và Dương Văn Minh còn chưa thống nhất được quan điểm với Đại sứ Martin về việc di tản, CIA đã quyết định thực hiện vận chuyển ra nước ngoài những nhân vật chủ chốt. Tại Washington, CIA còn liên hệ với Bộ Quốc phòng Mỹ để xin dành riêng một chiếc máy bay cho CIA Sài Gòn sử dụng.

Tối ngày 27/4/1975, chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar và các cộng sự của ông đã tổ chức một chuyến bay hoàn toàn bí mật sang Philippines. Trong số những người rời Sài Gòn trong chuyến bay này có cả một số nhân vật cộm cán trong Chính quyền Sài Gòn như cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, tướng Nguyễn Khắc Bình, em họ cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là Hoàng Đức Nhã…

Vào lúc đêm khuya cùng ngày, sĩ quan cao cấp CIA Frank Snepp nhận được điện thoại của sĩ quan trực ban yêu cầu đến ĐSQ Mỹ gấp để xử lý tin mới nhất về lập trường của Hà Nội công bố trên Đài Tiếng nói Việt Nam.

Nội dung bản tin này có thể đoán được là rất gay gắt, nói rằng sự cải tổ Chính quyền Sài Gòn bằng việc Tổng thống Trần Văn Hương bị phế truất, Dương Văn Minh lên thay thế là một âm mưu rất thâm độc. Việc thay thế đó chẳng qua là chỉ nhằm mục đích thay Thiệu và Hương bằng tay sai của chúng nhằm cứu vãn Chính quyền Sài Gòn.

Thế là đã rõ. Nếu chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar còn cần bằng chứng để chứng minh mọi cơ hội thương lượng đã hết và Dương Văn Minh cũng không được Hà Nội chấp nhận thì bản tin này chính là điều mà Polgar cần. Frank Snepp liền nhấc máy điện thoại cho Polgar về bản tin của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, từ đầu dây bên kia Polgar gầm lên rồi cúp máy.

Trong khi đó, tại tư dinh của mình ở số 100 đường Hồng Thập Tự, Dương Văn Minh vẫn đang “đánh vật” với việc lựa chọn các ứng cử viên vào nội các mới. Tình hình Sài Gòn khi đó căng như mặt trống. Các lực lượng cộng sản đang tiến vào thành phố từ nhiều hướng.

Phát ngôn viên báo chí của Dương Văn Minh thúc giục ông ta hãy dừng việc thành lập nội các rồi tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Nhưng tướng Minh không đồng ý đầu hàng trong hoàn cảnh đó. Bản thân Minh vẫn còn cảm thấy quân đội chính quyền Sài Gòn còn có thể là thứ để mặc cả cho một giải pháp chính trị.

Minh ra lệnh cho Phó Tổng thống mới được bổ nhiệm Nguyễn Văn Huyền công bố kết quả cuộc gặp bí mật tối qua với Đại sứ Mỹ. Khoảng giữa trưa Huyền công bố rằng chính phủ mới của Dương Văn Minh sẽ “không phản đối” nếu các cố vấn quân sự Mỹ rút khỏi Việt Nam trong 24 giờ tới.

Suốt buổi sáng 28/4/1975, Dương Văn Minh vùi đầu vào việc nâng lên, đặt xuống các nhân vật thất sủng trên sân khấu chính trị Sài Gòn để tìm người vào nội các mới. Các ứng cử viên lũ lượt đến nhà riêng của Dương Văn Minh để xin một chân trong chính phủ. Minh chỉ bắt tay họ lạnh lùng, gật đầu mà không cam kết gì rồi mời họ vào vườn phong lan sau nhà chờ.

Đối với Minh, tất cả những ứng viên này đều không đạt yêu cầu. Người thì quá diều hâu, kẻ lại quá hèn nhát. Cuối cùng Dương Văn Minh lại đưa ra quyết định khó hiểu rằng ông sẽ tuyên thệ nhậm chức chỉ với một chính phủ 3 người gồm Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền. Liền đó, Minh tạm hoãn việc bổ nhiệm các bộ trưởng.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 13)

Trần Văn Hương xin làm Tổng thống thêm nửa ngày

Người Mỹ và các quan chức Chính quyền Sài Gòn di tản từ sân bay Tân Sơn Nhất

Ngày 26/4/1975, dòng người di tản từ Biên Hòa chạy về hướng Sài Gòn đã đông kín xa lộ 4 làn đường. Xa lộ này từng là niềm tự hào của các kỹ sư Mỹ nay trở thành một dòng chảy xe cộ nối đuôi nhau san sát.

Các lực lượng an ninh Chính quyền Sài Gòn cố gắng lập nhiều trạm kiểm soát cách nhau khoảng 3 km nhằm ngăn chặn các lực lượng đối phương trà trộn để thâm nhập vào Sài Gòn. Nhưng chẳng bao lâu toàn bộ những trạm kiểm soát đó bị dẹp hết sang lề đường. Cùng ngày, các tướng lĩnh trong đó có Cao Văn Viên và Trần Văn Đôn đã đến Dinh Tổng thống và dành trọn buổi sáng để thuyết phục Trần Văn Hương từ chức.

Cuối cùng khoảng đến gần trưa, Hương mới đồng ý sẽ từ chức một cách miễn cưỡng. Hương đặt điều kiện là sự từ chức phải theo qui định của Hiến pháp. Trần Văn Hương nói chẳng có cơ sở và điều kiện nào để ông ta chuyển giao quyền lực thẳng cho Dương Văn Minh. Theo Hương, Quốc hội Chính quyền Sài Gòn phải hợp pháp hóa điều đó bằng cách tổ chức một cuộc bỏ phiếu chính thức để bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống. Sau đó, Trần Văn Hương viết một lá thư gửi Quốc hội giải thích quan điểm của mình. Trong lá thư này, Hương viết: “Nếu các vị không thể quyết định thay tôi bằng tướng Minh, và nếu chúng ta không thể thương lượng thành công thì Sài Gòn sẽ biến thành một biển máu và chúng ta sẽ vẫn còn phải đấu tranh vì danh dự quốc gia”.

Đại sứ Mỹ Graham Martin cũng tin rằng Hà Nội có thể chấp nhận một giải pháp hòa bình dễ dàng. Trong khi đó, thật trớ trêu, lời bình luận tiêu cực về tuyên bố mới nhất của Hà Nội tại Sài Gòn lại xuất phát từ Đại sứ Quán Pháp. Tham tán ĐSQ Pháp Pierre Brochand trong một cuộc nói chuyện với chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar chiều 26/4 nói rằng ông ta đã nhanh chóng mất niềm tin ở các triển vọng hòa bình và còn sợ rằng thậm chí cả cơ hội thương lượng đầu hàng cũng đã mất do sự chần chừ của các nhà chính trị Sài Gòn.

Trong khi các quan sát viên ở Sài Gòn và Washington tranh cãi nhau về ý định thực sự của Hà Nội thì quân đội Bắc Việt đã rầm rộ tiến quân trên con đường đầy bụi ở phía bắc quân khu 3. Rạng sáng ngày 26/4, quân đội Bắc Việt đã từ Lộc Ninh tiến về phía Nam chiếm trại biệt kích quân đội Sài Gòn ở Bến Cát, cách Sài Gòn khoảng 40 km về phía Bắc. Chính từ một căn lều mái lá ở đây, tướng Văn Tiến Dũng đã cùng với các cộng sự của ông chỉ huy phối hợp giai đoạn cuối cùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Trận tổng tiến công vào Sài Gòn của quân đội Bắc Việt đã bắt đầu rồi mà các nhà chính trị Sài Gòn vẫn còn bế tắc trong các cuộc tranh cãi. Đến cuối ngày 26/4 các phe phái trong Quốc hội Chính quyền Sài Gòn vẫn còn tranh cãi chưa ngã ngũ về vấn đề liệu có thể và bằng cách nào để cải tổ chính phủ cho phù hợp và có thể thương lượng được với Hà Nội. Các nghị sĩ thuộc phe Nguyễn Văn Thiệu thì cương quyết chống lại việc Dương Văn Minh ứng cử tổng thống vì sợ tướng Minh khi đã có quyền trong tay thì họ sẽ bị trả thù.

Các nghị sĩ thuộc cánh hữu thì muốn bầu Nguyễn Cao Kỳ làm Tổng thống thay cho Trần Văn Hương. Cuối cùng, sự bế tắc tuyệt vọng trong Quốc hội đã khiến cả Hạ và Thượng viện Sài Gòn nhất trí trả vấn đề này lại cho Tổng thống Trần Văn Hương. Quốc hội đã thông qua với 100% phiếu thuận một nghị quyết chung cho phép Hương tiến hành bất cứ hành động nào mà ông ta thấy cần thiết để đối phó với cuộc khủng hoảng. Nghị quyết này không nêu rõ việc thay đổi Tổng thống mà Trần Văn Hương đề nghị trước đây.

Trong lúc mọi việc đang rối bời, Trần Văn Hương lại gây chuyện. Hương thông báo cho Chủ tịch Thượng viện Trần Văn Lắm rằng trong khi Hương sẵn sàng bổ nhiệm Dương Văn Minh là người kế nhiệm, nhưng quyết định trình điều này ra phiên toàn thể của Quốc hội để thông qua. Như vậy nếu có sai sót gì thì không phải là một mình Hương chịu trách nhiệm. Ngay sau đó, Trần Văn Lắm triệu tập 134 nghị sĩ tới một phiên họp bất thường. Để đảm bảo chắc chắn rằng Quốc hội sẽ thông qua nghị quyết cho phép hành động nhanh, Lắm mời các tướng Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn, và Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Hảo tới thông báo tình hình.

Tuy nhiên, lại một lần nữa, sự ghen ghét, đố kỵ chính trị trong các nghị sĩ đã không cho phép Thượng viện thông qua nghị quyết nào. Các cuộc tranh cãi không phân thắng bại kéo dài đến hết buổi chiều. Mỗi lần Thượng viện giải lao, Trần Văn Lắm lại sai người của mình đi gặp Dương Văn Minh để hỏi ý kiến. Minh và những người ủng hộ ông ta thống nhất quan điểm rằng nếu Quốc hội không nhanh chóng đạt được sự đồng thuận, Tổng thống Trần Văn Hương sẽ phải bị lật đổ bằng vũ lực.

Sau nhiều giờ tranh cãi, cuối cùng Quốc hội Chính quyền Sài Gòn cũng đi tới một quyết định. Với 1/ 3 số nghị sĩ vắng mặt, cả Thượng và Hạ viện đã bỏ phiếu hoàn toàn nhất trí thông qua nghị quyết trao toàn quyền cho Dương Văn Minh làm Tổng thống theo khuyến nghị của Trần Văn Hương. Lễ tuyên thệ nhậm chức của Dương Văn Minh sẽ được tổ chức ngay ngày hôm sau. Trần Văn Hương lên diễn đàn tha thiết xin Quốc hội cho phép không tổ chức lễ nhậm chức của Tổng thống mới Dương Văn Minh vào buổi sáng hôm sau mà rời sang buổi chiều. Hương giải thích rằng ông ta muốn kéo dài thêm nửa ngày làm Tổng thống để ông có thể nói với gia đình và bè bạn rằng Trần Văn Hương đã từng làm Tổng thống Chính quyền Sài Gòn được đúng một tuần.

Sau kỳ họp bất thường của Quốc hội Chính quyền Sài Gòn, Dương Văn Minh liền bắt tay vào việc phỏng vấn các ứng cử viên vào các ghế trong nội các mới. Đây là công việc đầy khó khăn vì hầu hết các nhà chính trị ở Sài Gòn lúc đó đều ít nhiều dính líu đến phe cánh Nguyễn Văn Thiệu. Chỉ có mỗi trường hợp ứng cử viên Vũ Văn Mẫu là Dương Văn Minh quyết định chọn ngay vào chức Thủ tướng. Biết mình không còn cơ hội nào để lên chức Tổng thống nữa, tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ liền chuyển sang ủng hộ hoàn toàn Dương Văn Minh. Ngoài ra, Kỳ còn ra lệnh cho những người dưới quyền ông ta làm theo như vậy.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 12)

Cuộc ra đi trong nước mắt của kẻ thất sủng Nguyễn Văn Thiệu

Nguyễn Văn Thiệu (phải) tại Mỹ năm 1997

Khoảng 5 giờ chiều ngày 25/4/1975, chỉ huy trưởng CIA tại Sài Gòn Thomas Polgar cho gọi các sĩ quan cao cấp CIA gồm Joe Kingsley, tướng Charles Timmes, Frank Snepp,… tới văn phòng của ông có việc đột xuất.

Khi mọi người đã ổn định chỗ ngồi, Polgar hỏi một câu rất lạ: “Trong số các bạn ở đây có ai thuộc đường phố Sài Gòn để có thể lái xe ban đêm không?”.

Tất cả mọi người đều đáp lại bằng một cái gật đầu. Frank Snepp tuy cũng gật đầu nhưng thực ra là không mấy tự tin vì thành phố này có nhiều lối rẽ, đường cắt, đặc biệt là dễ nhầm tại các giao lộ xoay vòng tròn kiểu Pháp. Polgar nhìn khắp lượt rồi buông một câu cụt lủn: “Tốt”. Sau đó, Polgar giải thích là muốn nhờ một vài người giúp lái xe chở cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tối hôm đó ra phi trường để đi Đài Loan.

Chính Polgar cũng mới chỉ biết công việc đặc biệt này trước đó vài giờ. Kế hoạch đưa Thiệu di tản ra nước ngoài đã được vạch sẵn. Lúc đầu Đại sứ Graham Martin định gói việc này hoàn toàn bí mật trong lĩnh vực quân sự nên đã yêu cầu đặc biệt Phòng Tuỳ viên Quân sự Mỹ (DAO) thực hiện mọi dàn xếp cần thiết. Trong kế hoạch của DAO có cả việc thực hiện một chuyến bay của hãng hàng không Air American cất cánh bí mật từ phi trường Tân Sơn Nhất để chở Nguyễn Văn Thiệu đi.

Nhưng sau đó vì cảm tình với Polgar ở một việc khác nên tiện thể Martin giao việc này cho CIA thực hiện. Polgar đã chọn 4 người để lái xe đưa Thiệu và Khiêm ra phi trường gồm tướng Charles Timmes, Frank Snepp và hai người nữa. Khoảng 8:30 tối 25/4, bốn sĩ quan cao cấp CIA vào ga-ra chọn 3 chiếc xe hơi. Những người “lái xe cao cấp” này cho xe thẳng tiến tới tổng hành dinh quân đội Sài Gòn ở gần phi trường Tân Sơn Nhất.

Trong khu vực này có nhà riêng của cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Các “lái xe cao cấp” đều mang theo súng ngắn giấu dưới ghế. Họ nhắc nhau phải đề phòng cẩn thận khả năng có thể diễn lại kịch bản vụ ám sát từng xảy ra với Tổng thống Ngô Đình Diệm trước đó.

Khi ngồi trên xe, Frank Snepp và Joe tưởng tượng ra diễn biến của một vụ ám sát có thể đến với họ: các sĩ quan trẻ tuổi quân đội Sài Gòn bỗng chặn đoàn xe của CIA lại tại trạm kiểm soát, ra lệnh cho mọi người rời khỏi xe rồi xả súng bắn chết hết. Frank Snepp nghĩ nếu tình huống đó xảy ra, những người “lái xe cao cấp” thế nào cũng khiến vài đối thủ chết theo. Các sĩ quan CIA trên đường đi làm nhiệm vụ mà trong đầu cứ miên man tưởng tượng ra những tình huống đầy kịch tính…

Khoảng hơn 9 giờ tối, Polgar cũng tới nhà riêng Trần Thiện Khiêm bằng xe riêng có người lái. Trong khi Polgar và Timmes giải khát trong nhà, những “lái xe” đứng ngoài chờ. Đúng lúc đó, một chiếc xe Mercedes màu xám nhẹ nhàng lướt vào lối đi rồi dừng lại. Một người đàn ông tầm thước, mặc complet màu xám, mặt bóng nhẫy, tóc hoa râm chải vắt về phía sau từ trong xe bước ra.

Các “lái xe” nhận ra người đàn ông đó chính là Nguyễn Văn Thiệu. Trong ánh sáng lờ mờ, nhìn Thiệu giống như một người mẫu trang bìa trong phiên bản Viễn Đông của tạp chí “Gentleman’s Quarterly” (tạp chí ra hàng quí dành cho quí ông) hơn là một cựu tổng thống. Bước ra khỏi xe, Thiệu không hề quay cổ nhìn đám “lái xe”,bước vội tới cửa trước.

Một lúc sau, có mấy người lạ tới mang theo lỉnh kỉnh những đồ đạc và cả những chiếc va-li to tướng. Những người này bảo các “lái xe” mở cốp để họ tự xếp đồ vào. Ngay sau đó, Thiệu, Khiêm, Polgar, Timmes cùng vài người Việt Nam từ trong phòng bước ra rồi nhanh chóng tản về hướng các xe đang chờ sẵn rồi biến mất vào trong xe. Nguyễn Văn Thiệu ngồi xe do sĩ quan cao cấp CIA Frank Snepp lái.

Trong hàng ghế sau, Thiệu ngồi kẹp giữa tướng Timmes và một người nữa. Timmes bảo Thiệu ngồi thấp đầu xuống để bên ngoài không nhận ra. Không khí căng thẳng. Chặng đường đi chỉ mất khoảng 10 phút mà sao ai cũng cảm thấy dài như hàng giờ đồng hồ. Timmes chủ động nói chuyện để phá vỡ sự im lặng, chủ yếu đề cập đến quá khứ thành công của Thiệu.

Timmes giới thiệu Frank Snepp là một nhà phân tích tình báo xuất sắc của Đại sứ Quán Mỹ với Thiệu, nói rằng vì thế mà người đang cầm vô lăng là một “tay lái xe cao cấp”. Thiệu cười gượng gạo rồi nói tiếng Anh bằng một giọng lai âm tiếng Pháp rằng ở Sài Gòn người lái xe nào cũng cao cấp. Timmes chuyển đề tài, hỏi tình hình vợ con Thiệu, cựu Tổng thống Chính quyền Sài Gòn trả lời không thành thật: “Vợ con tôi đi London để mua đồ cổ”.

Qua gương chiếu hậu thấy mắt Thiệu đẫm lệ mỗi khi xe vượt qua đoạn đường có cột đèn chiếu sáng. Khi tới gần lối vào phi trường Tân Sơn Nhất, đèn pha chiếu nhanh vào bức tường ven đường có khẩu hiệu mang nội dung chính quyền Sài Gòn tri ơn lính Mỹ, Thiệu quay mặt đi rồi thở dài khiến ai trong xe cũng nghe thấy.

Tới trạm gác, Timmes bảo Thiệu ngồi thụt đầu xuống để tránh bị phát hiện. Thông thường cảnh sát bảo vệ của Chính quyền Sài Gòn thấy xe Mỹ mang biển số ngoại giao thì chỉ kiểm tra qua loa. Tuy nhiên, Timmes vẫn thận trọng vì lúc đó đã là 9 giờ rưỡi đêm, tức là sau giờ giới nghiêm một tiếng đồng hồ. Thật may mắn, xe chỉ bị kiểm tra mang tính chất chiếu lệ.

Chiếc xe chở Thiệu tiến vào phi trường, đến tận nơi đỗ máy bay. Thiệu và vài người đi cùng không làm thủ tục lên máy bay như những hành khách bình thường. Khi chiếc xe chở Thiệu vừa phanh gấp tránh một chiếc xe hơi khác trên đường băng, Polgar chạy lại mở cửa xe cho Thiệu. Trước khi bước xuống, Thiệu vươn người lên phía trước đập tay vào vai Frank Snepp nói bằng tiếng Anh: “Cám ơn”.

Giọng Thiệu nhòa đi rồi chìa một tay ra cho Frank Snepp bắt. Tay kia Thiệu đưa lên gạt hai hàng nước mắt cứ lã chã tuôn xuống hai gò má. Sau đó, Thiệu bước vội về phía chiếc máy bay bốn động cơ C – 118 của không quân Mỹ. Cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và mấy người Việt Nam đang lỉnh kỉnh đồ đeo trên vai cũng đang bước tới. Đại sứ Martin đang đứng chờ ở chân cầu thang máy bay.

Thiệu nói chuyện với Martin một lúc, cuộc nói chuyện cuối cùng giữa hai người diễn ra ngắn gọn nhưng tưởng như dài bất tận. Khi các động cơ rồ lên để máy bay chuẩn bị tiến vào vị trí cất cánh, Martin vẫn đứng đó mắt nhìn chằm chằm vào hư vô. Đại sứ Martin mang cặp kính gọng màu da, mắt hình ôvan trông ông giống như một giáo sư đại học mặc diện hơn là một người vừa tống tiễn vết tích cuối cùng của một chính sách tồi trong suốt 3 thập kỷ qua.

Nguyễn Văn Thiệu đã rời đất nước của mình trên một chiếc máy bay Mỹ mà không làm bất cứ thủ tục xuất cảnh nào theo qui định của cả phía Mỹ lẫn phía Việt Nam. Sau này nhớ lại, ông Graham Martin tỏ ra hối tiếc là đã bố trí cho Thiệu ra đi cửa sau trong hoàn cảnh bí mật, vội vàng như vậy. Thậm chí giấy tờ bảo lãnh danh dự cho Thiệu cũng không có. Martin cho biết khi đó chính ông đã chỉ thị cho chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar chuẩn bị giấy đảm bảo danh dự cho Thiệu nhưng Polgar không kịp làm chỉ vì không tìm đâu ra một chiếc máy đánh chữ.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 11)

Tổng thống Trần Văn Hương đón nhầm vận mệnh

Hàng đầu từ phải qua trái: Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên gặp các cố vấn Mỹ đầu tháng 4/1975

Trước thất bại liên tiếp ngoài chiến trường và chiến sự đã diễn ra ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, Chính quyền Trần Văn Hương đáng lẽ phải đoàn kết nhau lại để đương đầu với nguy cơ sụp đổ thì lại lún vào những sự ghen ghét đố kỵ và tranh giành quyền lực.

Nguyễn Cao Kỳ là kẻ cực hữu. Tại một bữa tiệc tổ chức hôm 23/4, Kỳ đã thúc giục quân đội chính quyền Sài Gòn tiếp tục chiến đấu để giúp cho một “nội các mới” có thể thương lượng được với Hà Nội. Trong khi đó, những nhân vật thực dụng hơn như các tướng Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn thì vì sợ Kỳ và phe cánh của ông ta làm đảo chính nên tạm thời đồng ý với Kỳ theo cách riêng của mình.

Tướng Dương Văn Minh thì cổ xúy cho một sự thay đổi lãnh đạo không cần theo pháp luật. Minh không bao giờ chấp nhận việc Hương bổ nhiệm nhân sự nội các. Dương Văn Minh nói với tướng Cao Văn Viên rằng chỉ khi nào có một chính phủ liên hiệp không chính thức của những người trung lập mời ra làm Tổng thống thì Minh mới nhận lời.

Trong khi đó, viên tướng già cổ lỗ sĩ Trần Văn Hương vẫn tỏ ra muốn bám giữ chức Tổng thống Chính quyền Sài Gòn. Có lần Hương nói với Đại sứ Pháp Jean Marie Marillon rằng “Thiệu đã chạy trốn vận mệnh… Còn vận mệnh lại đến với tôi”.

Để chứng tỏ mình là người có thực quyền, Hương ra lệnh dỡ bỏ tất cả những khẩu hiệu, tranh áp phích có nội dung chống cộng sản trên toàn thành phố Sài Gòn. Đồng thời, Hương cử một trợ lý của mình ra phi trường Tân Sơn Nhất để mở “các cuộc thương lượng” với đoàn Bắc Việt Nam trong phái đoàn đại diện quân sự hỗn hợp.

Sáng 24/4, Hương thể hiện đạo đức giả, chỉ thị cho tướng Cao Văn Viên yêu cầu quân đội thực hiện rầm rộ việc “rút vào phòng ngự” cốt làm cho Hà Nội tin là Chính quyền Sài Gòn thực sự chân thành mong muốn hòa bình. Khi nhận được chỉ thị này, một số tướng lĩnh dưới trướng Cao Văn Viên đã công khai phản đối Hương.

Các tướng lĩnh này không ảo tưởng về sức mạnh của quân đội Chính quyền Sài Gòn nên chủ trương đánh mạnh trên chiến trường để có cái mặc cả trên bàn thương lượng theo cách có đi có lại. Tướng Nguyễn Văn Toàn gợi ý đề nghị Mỹ cho máy bay B52 ném bom lần cuối cùng.

Cao Văn Viên bác bỏ ngay đề xuất của Toàn vì trên thực tế làm gì còn B52. Tuy nhiên, Mỹ cũng hỗ trợ quân đội Sài Gòn bằng cách cho máy bay vận tải C-130 ném bom thảm sát CBU – 55 và bom Daisy Cutter xuống Xuân Lộc.

Phía quân đội Bắc Việt lập tức đáp trả bằng những đợt pháo kích dữ dội chưa từng có xuống sân bay Biên Hòa khiến không một đường băng nào còn nguyên vẹn. Dưới làn đạn pháo dữ dội của đối phương, các phi đội máy bay chiến đấu F – 5A phải chuyển về Sài Gòn trong khi các máy bay A – 37 phải lánh nạn dưới Cần Thơ.

Lúc này tại Sài Gòn, các doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu di tản nhân viên của họ ra nước ngoài bằng các chuyến bay hợp đồng riêng….

Trong khi các đơn vị quân đội Bắc Việt đang chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng vào Sài Gòn thì Tổng thống “già” Trần Văn Hương cũng đang đưa ra những nỗ lực cuối cùng. Trong các cuộc trao đổi bí mật với đoàn Hà Nội tại phái đoàn đại diện quân sự hỗn hợp ở Tân Sơn Nhất, Hương đề xuất cho phép cử ra Hà Nội một người trung gian để thảo luận ngừng bắn.

Đề xuất này bị phía Hà Nội bác bỏ thẳng thừng. Trần Văn Hương lại đưa ra đề xuất khác rằng ông ta sẽ cho mở cửa các nhà tù để trả lại tự do cho tất cả những “tù nhân chính trị” trong đó có cả 18 nhà báo bị bắt giam hồi tháng 2/1975. Hương coi đây là cử chỉ thiện chí của mình.

Phía Bắc Việt không thèm để ý đề xuất thứ hai của Hương. Họ cũng chẳng thèm bận tâm đưa ra lời bình luận nào. Trong cơn tuyệt vọng, Hương bí mật tới gặp tướng Dương Văn Minh để thuyết phục Minh chấp nhận chức Thủ tướng trong Nội các của Hương. Nhưng Minh cũng lạnh nhạt với mọi đề xuất của Hương.

Trong khi đó, các nhân vật chính trị có máu mặt ở Sài Gòn đang tập hợp lực lượng để chống lại Trần Văn Hương. Một trong những người hăng hái nhất trong việc đòi lật đổ Hương là Trần Quốc Bửu – lãnh tụ công đoàn từng cộng tác bí mật nhiều năm với CIA.

Một nhà sư công khai đề nghị Hương từ chức để nhường ghế Tổng thống cho Dương Văn Minh. Còn tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ thì tổ chức một cuộc biểu tình ở ngoại ô Sài Gòn với sự tham gia của 5.000 tín đồ Thiên Chúa giáo, hô những khẩu hiệu chống Hương.

Kỳ cho rằng, sở dĩ quân đội Bắc Việt giành được thắng lợi là vì các tướng lĩnh và sĩ quan quân đội Sài Gòn chưa đánh đã bỏ chạy.

Đến nước này, Tổng thống Hương bắt đầu nhìn lại những thành bại của mình trong mấy ngày qua. Hương cho rằng mình không có lỗi. Sở dĩ có các cuộc biểu tình chống chính quyền là do hậu quả của Nguyễn Văn Thiệu để lại.

Hương cho rằng vì Thiệu mà Hà Nội cũng không thèm đối thoại với Hương. Nghĩ vậy nên Trần Văn Hương đi đến quyết định tìm cách tống cổ Thiệu ra khỏi Sài Gòn.

Kể từ khi từ chức, Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa muốn rời sân khấu chính trị. Ông ta vẫn nung nấu những ý đồ trả thù một số đối thủ chính trị và phục hồi danh dự.

Trong khi đó, vì quá sợ hãi, vợ Thiệu đã đáp chuyến máy bay thương mại ngày 25/4 đi Bangkok. Em ruột Thiệu khi đó đang làm Đại sứ ở Đài Loan thì bay về Sài Gòn để thuyết phục Thiệu đi di tản.

Thiệu bỏ ngoài tai mọi lời khuyên của vợ và em trai. Thiệu tin rằng mình vẫn có một vai trò ở Sài Gòn. Ông ta nói với người em họ Trần Đức Nhã: “Trường hợp bắt buộc phải chạy ra nước ngoài, tôi sẽ đi trong danh dự có một nhân viên của mình đi kèm”.

Trần Đức Nhã liền bảo Thiệu rằng chẳng còn thời gian để cho Thiệu thực hiện ý định trả thù và phục hồi danh dự nữa. Nhã thúc giục Thiệu phải rời Việt Nam ngay. Nghe nói vậy, Thiệu mới bừng tỉnh.

Hương muốn đẩy Thiệu ra nước ngoài nhưng không muốn tự mình làm việc đó vì sợ những kẻ thuộc hạ trung thành với Thiệu trả thù. Hương đến nhờ Đại sứ Mỹ Martin dàn xếp để Thiệu di tản. Martin không muốn mọi người hiểu là ĐSQ Mỹ đã tham gia phế truất Thiệu nên còn lưỡng lự.
Trong khi đó, đối thủ của Thiệu là Dương Văn Minh cho rằng tuy đã từ chức nhưng Thiệu luôn cản trở việc Minh lên làm tổng thống Chính quyền Sài Gòn. Minh cũng tới gặp tướng CIA Timmes để nhờ dàn xếp cho Thiệu đi cư trú ở nước ngoài.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 10)

Hy vọng trong tuyệt vọng

Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn Trần Văn Hương

Sau khi nhận được tin Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger gửi ngay cho Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Graham Martin một bức điện khẩn chỉ thị tiếp tục “tôn trọng” Thiệu.

Kissinger hứa sẽ giúp đỡ Thiệu rời khỏi Việt Nam, nhấn mạnh rằng Mỹ không tham gia bất cứ kế hoạch nào của Pháp trong việc lật đổ Thiệu.

Giới chính trị Sài Gòn phản ứng trước việc Thiệu từ chức rất khác nhau, mức độ tùy thuộc vào động cơ của mỗi người. Một số nhân vật chủ chốt trong Chính quyền Sài Gòn bày tỏ vui mừng vì Thiệu từ chức là một cú đánh vào Mỹ.

Một số người khác, phần lớn là những sĩ quan trẻ tuổi tỏ ra bối rối vì theo họ Thiệu nên phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của mình. Trong khi đó, hầu như chẳng có ai tỏ ra hài lòng trước việc Trần Văn Hương lên thay Thiệu làm tổng thống.

Dư luận chung về Hương là “già quá, hết đát”. Tuy nhiên, giới chính trị Sài Gòn lúc đó không thống nhất được quan điểm về những bước đi tiếp theo sau khi Thiệu từ chức là gì. Một số người vẫn còn một chút hy vọng ở một giải pháp thương lượng với Hà Nội.

Trong cuộc trò chuyện với các cộng sự hôm 22/4, Dương Văn Minh bày tỏ hy vọng có thể thương lượng được với phía bên kia. Tại Paris, người phát ngôn của Minh đã công khai kêu gọi ngừng bắn, nối lại cuộc đàm phán hòa bình tại Paris, và cả việc thành lập một chính phủ “đại diện chân chính”.

Trong sự tuyệt vọng, cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cũng nói với một người bạn CIA rằng ông ta muốn lập ra một nội các mới trong đó bản thân Khiêm và tướng Cao Văn Viên sẽ là những người vận động chính, Minh sẽ là Tổng thống. Mục đích là nhằm ngăn chặn cuộc tiến công của Bắc Việt, câu thêm giờ cốt để củng cố lại tinh thần cho quân đội Sài Gòn.

Vấn đề ở đây là có ai trong số những nhân vật chính trị nói trên thực sự tin tưởng ở tính thực tiễn của các lựa chọn nói trên hay không? Có trời biết. Thủ đoạn đã trở thành một yếu tố chính trong giới chính trị Sài Gòn.

Trong khi một số người vẫn muốn theo đuổi giải pháp thương lượng, nhiều người chưa yên tâm về Tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ có chịu “ngồi yên” hay không? Chỉ huy trưởng CIA tại Sài Gòn Polgar liền cử tướng Timmes tới gặp Kỳ để thăm dò.

Cuộc gặp này của Timmes khác nào đổ dầu vào lửa. Lúc đầu thấy Timmes tới thăm mình, Kỳ đã mừng thầm vì nghĩ rằng CIA đến để bàn về khả năng Kỳ sẽ lên làm Tổng thống thay Trần Văn Hương. Nhưng khi nghe Timmes hỏi liệu có khả năng nào về một cuộc đảo chính chống lại Dương Văn Minh hay không thì viên tư lệnh không quân hiểu ngay rằng người Mỹ đã chọn Minh thay Hương chứ không phải là Kỳ.

Ông ta liền phàn nàn một cách cay độc về những sự không phù hợp của Dương Văn Minh vào chức vụ đó, đồng thời đề nghị dành vị trí mới đó cho mình.

Trong khi đó người Pháp đang tranh thủ từng giây từng phút để can thiệp, vận động. Tham tán chính trị của ĐSQ Pháp tại Sài Gòn Pierre Brochand liên tục gặp gỡ Dương Văn Minh để chỉ đạo, khích lệ Minh đồng thời gạt bỏ mọi đối thủ của Minh. Sáng 22/4, được tin Trần Văn Đôn đã có một vài thiết kế lờ mờ về người sẽ làm tổng thống thay Hương, Pierre Brochand liền tìm Đôn để cảnh báo ông ta rằng chỉ có Dương Văn Minh mới là người mà Hà Nội có thể chấp nhận được.

Cuối buổi chiều hôm đó, Đôn tới ĐSQ Mỹ để báo cho Đại sứ Martin về ý định nói trên của người Pháp. Martin lúc đó vẫn còn đang bối rối tìm cách duy trì mọi thay đổi nhân sự của chính quyền Sài Gòn được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật.

Do vậy Marin muốn giữ Trần Văn Hương ở vị trí Tổng thống trong một thời gian nhất định. Nếu trong trường hợp không thể giữ được như vậy thì người thay Hương phải là Chủ tịch Thượng viện Trần Văn Lắm chứ không phải là ai khác. Vì theo luật thì Chủ tịch thượng viện là người chỉ đứng sau Tổng thống. Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon kiên quyết phản đối quan điểm này của Đại sứ Mỹ Martin, cho rằng việc cố giữ cho phù hợp luật pháp lúc này là sự tự sát.

Trong khi lập trường của Mỹ và Pháp còn đang lấp lửng thì phản ứng đầu tiên của Chính phủ Chính phủ Cách mạng Lâm thời (CMLT) Cộng hòa Miền Nam Việt Nam về việc Thiệu từ chức là rất rõ ràng. Phát ngôn viên của Chính phủ CMLT tại sân bay Tân Sơn Nhất đã khẳng định với các nhà báo rằng việc Thiệu ra đi chẳng cải thiện được tình hình.

Người phát ngôn này cũng bác bỏ lời kêu gọi của Trần Văn Hương về một cuộc ngừng bắn. Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam từ Hà Nội thì tố cáo Hương là “tên phản bội, phản cách mạng” đồng thời đòi Mỹ phải từ bỏ cả tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu chứ không phải chỉ mỗi cá nhân Thiệu cùng với việc chấm dứt mọi sự can thiệp vào Việt Nam, kể cả viện trợ quân sự.

Trước sự phản ứng rõ ràng và mạnh mẽ từ phía Hà Nội, Đại sứ Martin, chỉ huy trưởng CIA Polgar ở Sài Gòn và Ngoại trưởng Kissinger ở Washington vẫn tiếp tục tin là còn chỗ cho một giải pháp thương lượng. Trong khi đó, trên chiến trường phía quân đội Bắc Việt đã giành thêm được những thắng lợi ngoạn mục. Phan Thiết là thành phố cuối cùng của quân khu 2 bị thất thủ, nhóm tàn quân từ Phan Thiết chạy về Hàm Tân đang bị đối phương truy kích sát gót.

Lúc này, quân đội Sài Gòn đã hoàn toàn rút khỏi Xuân Lộc trong khi bộ đội Bắc Việt đang tiến quân như vũ bão về phía Biên Hòa và Vũng Tàu. Chính thành phố Biên Hòa cũng đang bị pháo kích dữ dội khiến chỉ vài giờ sau khi Thiệu từ chức, tướng Nguyễn Văn Toàn phải dời chỉ huy sở của mình từ Biên Hòa vào Sài Gòn.

Ngày 23/4, Ngoại trưởng Kissinger gửi cho Đại sứ Martin một bức điện khẩn nói rằng có hai sự lựa chọn. Một là cố giữ Chính phủ Trần Văn Hương như hiện tại hoặc là tìm cách gộp cả kế hoạch của Pháp vào để lập ra một chế độ mới sao cho Hà Nội có thể chấp nhận được. Martin chấp hành nghiêm chỉ thị của Kissinger và đề nghị các nhân viên dưới quyền ông ta phải tuân thủ điều đó.

Giữa lúc đó, chỉ huy trưởng CIA Polgar tới gặp Đại sứ Martin đề nghị cho phép dùng tiền để mua chuộc hoặc hối lộ các nghị sĩ trong Quốc hội Sài Gòn nhằm sớm đưa Dương Văn Minh lên thay Trần Văn Hương.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 9)

Cuộc từ chức đầy kịch tính của Tổng thống Thiệu

Sáng 20/4/1975, Đại sứ Mỹ Graham Martin lái xe hơi tới Dinh Tổng thống để gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Martin vừa đến nơi thì cũng là lúc Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon ở trong đó đi ra.

Dương Văn Minh - Tổng thống cuối cùng của chế độ ngụy quyền Sài Gòn

Té ra Merillon cũng tới gặp Thiệu với cùng nội dung, cùng mục đích như Đại sứ Mỹ. Martin nói với Tổng thống Thiệu rằng theo những thông tin mới nhất về cả tình hình quân sự trên chiến trường lẫn đánh giá của các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự thì việc Hà Nội sắp tiến vào Sài Gòn là điều không tránh khỏi. Trong tình hình đó, dù Sài Gòn có quyết tâm phòng thủ cao đến đâu và tài nghệ đến mức nào cũng khó mà trụ được quá ba tuần.

Theo quan điểm của Martin thì Hà Nội muốn tiếp quản một thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn chứ không phải là một đống đổ nát. Tất nhiên nếu không có động thái nào đi tới thương lượng thì không tránh khỏi cảnh đổ nát. Nghe nói vậy, Tổng thống Thiệu hỏi về khả năng Mỹ bổ sung viện trợ quân sự cho Sài Gòn? Martin trả lời với tư cách cá nhân một người đã từng nhiều năm nghiên cứu tình hình Việt Nam và Đông Nam á rằng điều đó là không thể được.

Sau khi gặp Tổng thống Thiệu trở về ĐSQ, Đại sứ Martin thảo ngay một bức điện gửi cho Ngoại trưởng Mỹ Kissinger, nói rằng Thiệu có thể từ chức trong vài ba ngày tới.

Rạng sáng 21/4, trước sức tấn công mạnh mẽ của quân đội Bắc Việt, phòng tuyến cuối cùng tại Xuân Lộc bị sụp đổ. Tiểu đoàn cuối cùng trong số 4 tiểu đoàn còn sót lại của sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn được máy bay trực thăng chở ra ngoài. Trong số các tướng lĩnh thoát chết có cả tướng Lê Minh Đảo được bới ra từ đống đổ nát.

Sau đó chừng một tiếng đồng hồ, Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn triệu tập một cuộc họp khẩn cấp với các lực lượng trung gian ở Sài Gòn nhằm tạo ra một liên minh không chính thức chống lại Tổng thống Thiệu. Nhân vật quan trọng nhất mà tướng Đôn mời được để tham gia liên minh này là tướng Cao Văn Viên.

Ông này tin rằng quân đội Sài Gòn không còn hy vọng giành thắng lợi nên đã buông súng. Đúng lúc tướng Viên đang bối rối thì Trần Văn Đôn tới đề nghị tìm một giải pháp cho hòa bình. Đôn nói cách duy nhất còn lại là phải loại bỏ Thiệu và thay vào vị trí đó là một người khác, nếu được Dương Văn Minh nhận lời là tốt nhất. Tướng Minh là người có thể thương lượng được với phía bên kia.

Nghe Đôn nói vậy, tướng Cao Văn Viên nhận lời ngay. Được Viên ủng hộ, Trần Văn Đôn dễ bề thu hút thêm các nhân vật quan trọng khác trong Nội các của Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn tham gia liên minh chống Tổng thống Thiệu. Trong số này có cả các nhân vật cộm cán như Thủ tướng Cẩn, Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Hào. Liên minh này đã đủ sức mạnh để ngày hôm sau chính thức kêu gọi Thiệu từ chức. Nếu Thiệu từ chối, những kẻ trong liên minh sẽ lật đổ Tổng thống bằng vũ lực.

Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn và phe cánh của ông ta không thể ngờ rằng Thiệu đã đi vài nước cờ trước khi nhóm này hành động. Thiệu đã quyết định không để cho đối thủ chính trị có được niềm vui “thu nhặt thi thể” mình. Thiệu đã quyết định tự nguyện từ chức ngay cốt để cho bọn Đôn cắn xé nhau.

Gần trưa ngày 21/4/1975, Thiệu triệu tập cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Phó Tổng thống Trần Văn Hương tới Dinh Tổng thống để thông báo ý định từ chức của mình. Tổng thống nói với hai người này rằng ông dự định sẽ công bố việc từ chức chính thức vào tối 21/4.

Sau khi kể lại chuyện cả Đại sứ Mỹ Martin và Đại sứ Pháp Merillon đến Dinh Tổng thống ngày hôm trước đó, Tổng thống Thiệu nhấn mạnh rằng cả hai nhà ngoại giao Pháp, Mỹ đều không khuyên ông từ chức. Thiệu cho biết sở dĩ ông quyết định từ chức là vì tình hình quân sự trở nên vô vọng. Nếu cứ tiếp tục giữ chiếc ghế tổng thống thì chẳng đạt được mục đích gì, thậm chí lại có thể cản trở một giải pháp thương lượng.

Cả Khiêm và Hương đều đồng ý với quyết định của Tổng thống. Thiệu liền đề đạt một nguyện vọng duy nhất của mình là việc chuyển giao quyền lực phải được thực hiện theo đúng pháp luật nhằm tránh gây ra một sự hỗn loạn. Ngoài Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Thiệu không cho biết ai là người có nhiều khả năng sẽ kế nhiệm mình. Không ai biết trong nước cờ của mình, Thiệu có chơi tay trên bổ nhiệm kẻ thù cũ của ông ta là Dương Văn Minh làm Tổng thống mới hay không?

Khi nói những điều tâm sự thầm kín với Khiêm và Hương, Thiệu hoàn toàn không ngờ rằng toàn bộ cuộc trao đổi này đã bị CIA đặt máy nghe trộm, ghi được rõ từng lời của Thiệu. Tại ĐSQ Mỹ, chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar thông báo ngày “tin sốt dẻo” nói trên cho các nhân viên liên quan. Polgar nói: Không cần phải lo cho tình huống quân sự nữa. Phải chuyển ngay sang tình huống chính trị liên hợp.

Sau đó, Polgar thông báo ngay cho các nhà ngoại giao Pháp và Hungary biết việc Thiệu đang chờ để từ chức. Khoảng giữa buổi chiều hôm đó, Polgar cử tướng tình báo Timmes đi gặp tướng Dương Văn Minh. Timmes nói với Minh rằng nếu ông nhận lời kế nhiệm Thiệu để đối thoại với Hà Nội thì Mỹ sẽ gạt Trần Văn Hương ra ngoài luôn.

Dương Văn Minh gật đầu nhận lời đề nghị của Timmes đồng thời bày tỏ tin tưởng ông ta có thể thương lượng được với phía Hà Nội. Minh nói ông ta muốn cử một đại diện đi Paris để mở các cuộc thảo luận ngay tức khắc. Nghe nói vậy, tướng Timmes liền mở cặp khoá số lấy ra một tập đô la Mỹ, đưa cho Minh 1.000 USD để chi phí đi lại. Sau này Minh không dùng đến số tiền nói trên nhưng cũng không trả lại cho Polgar.

Ngày 21/4, đúng 7 giờ 30 tối (giờ Sài Gòn), Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đọc bài phát biểu dài khoảng hai giờ đồng hồ với quốc dân và trước khoảng 200 quan chức Chính quyền Sài Gòn tại Dinh Tổng thống. Trong diễn văn này, Thiệu tự kể công trạng của mình và những khó khăn của Chính quyền Sài Gòn trước việc Mỹ từ chối cấp bổ sung viện trợ quân sự.

Cuối bài diễn văn, Thiệu bỗng nghẹn ngào, rơi lệ công bố quyết định từ chức của mình đồng thời trao Chính quyền Sài Gòn cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương điều hành. Thiệu nói: Giờ đây một nửa miền Nam Việt Nam đã rơi vào tay Bắc Việt, “vì lợi ích của nhân dân” ông ta thuận lòng hy sinh thân mình.

Tổng thống Thiệu vừa kết thúc bài diễn văn, tướng Cao Văn Viên liền lên đài phát thanh tuyên bố ngắn gọn rằng quân đội của ông ta sẽ tiếp tục chiến đấu “để bảo vệ Tổ quốc chống lại giặc ngoại xâm”. Còn tại lễ nhậm chức Tổng thống mới, Trần Văn Hương – 71 tuổi, bị bệnh viêm gan và mắt gần như mù hoàn toàn – thề sẽ đứng vững cho tới khi người lính cuối cùng của ông ta ngã xuống hoặc “đất nước” bị mất.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 8)

Tổng thống Thiệu cướp ngân khố quốc gia

Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu

Trước sự tiến quân mạnh mẽ của quân đội Bắc Việt, Tổng thống Pháp lúc đó là Valery Giscard d’Estaing tỏ ra quá sốt ruột đã trực tiếp điện thoại cho Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu để thúc giục “hòa hợp dân tộc”.

Tổng thống Valery Giscard d’Estaing không ngờ sự phản ứng của Thiệu lại hoàn toàn trái với sự chờ đợi và mong muốn của Pháp. Thiệu chẳng những không khuất phục trước sức ép từ phía Paris mà còn phản đối quyết liệt, ra lệnh ngừng mọi tiếp xúc của Chính quyền Sài Gòn với Pháp cho đến khi nào ông Valery Giscard d’Estaing rút lại lời nói của mình. Tình thế này hoàn toàn bất lợi cho Đại sứ Jean Marie Merillon vì không vào được Dinh Tổng thống thì làm sao mà thuyết phục được Thiệu từ chức để thành lập một chính quyền phi cộng sản ở Nam Việt Nam?

Để giành lại thế chủ động, Đại sứ Merillon áp dụng một chiến thuật mới nhưng ít hy vọng. Thông qua những người bạn Việt Nam và các mối quan hệ khác, Đại sứ Pháp loan truyền một tin thất thiệt rằng do sự chậm trễ của Thiệu, Hà Nội đã hết kiên nhẫn và quyết định tấn công thẳng vào Sài Gòn. Tin thất thiệt này nào ngờ lại gây nên sự hoảng loạn thực sự đối với Đại sứ quán Mỹ và Bộ chỉ huy tối cao quân đội Sài Gòn. Sau đó, Đại sứ Merillon thừa nhận với các sĩ quan CIA rằng chính ông đã bịa ra rồi gieo rắc cái tin thất thiệt nói trên. Mặc dù vậy, trò dại dột này vẫn để lại một hậu quả vô cùng tai hại. Mỗi khi có tin báo cho ĐSQ Mỹ về kế hoạch tấn công vào Sài Gòn của quân đội Bắc Việt, các chuyên gia xử lý tin lại lắc đầu nói rằng: “Chẳng qua lại chỉ là việc Pháp tung tin để dọa Thiệu ép ông ta từ chức thôi mà”.

Tình hình ở Campuchia xấu đi nhanh chóng. Đại sứ quán Mỹ nhận được điện từ Washington yêu cầu thực hiện một chương trình sơ tán đặc biệt dành cho một số người Mỹ và Việt Nam ra khỏi Sài Gòn cùng với các tài liệu quan trọng. Đại sứ Martin chỉ thị việc này phải giữ tuyệt đối bí mật để tránh gây ra tâm lý hoảng loạn. Những đối tượng được lựa chọn chở bằng máy bay ra nước ngoài trước hết gồm những người có quan hệ thân thiết với Mỹ, đặc biệt là những người trong số đó nhưng lại không có giấy xuất cảnh do Chính quyền Sài Gòn cấp hoặc nếu xuất cảnh công khai có thể gây tác động xấu đến tinh thần dân chúng.

Chuyến máy bay đầu tiên rời Sài Gòn đi Thái Lan theo chương trình này bí mật nói trên chở 143 hành khách đặc biệt hầu hết là phụ nữ và trẻ em cùng với các nhân viên kỹ thuật do CIA đào tạo làm việc trong Bộ Quốc phòng của Thiệu. Ngoài ra một chiếc máy bay vận tải quân sự C–141 chở đầy tài liệu đã bí mật bay ra nước ngoài. Tưởng chương trình sơ tán sớm của Mỹ được giữ kín tuyệt đối, nào ngờ trong một bữa tiệc do vợ chồng cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tổ chức ở nhà riêng tối 17/4, sau khi đã dùng đến món thứ 5 bà chủ nhà cổ đeo đầy đồ trang sức bỗng ôm mặt khóc nức nở. Tướng CIA Charles Timmes chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao thì bà Khiêm đã nói toáng lên rằng Mỹ đang bí mật di tản người của mình ra khỏi Sài Gòn. Bà xin phía Mỹ cho phép bản thân và gia đình bà cũng được di tản ngay. Trần Thiện Khiêm lúc đến bên Timmes nói rằng ít có khả năng Thiệu tự nguyện từ chức. Trong khi đó lại không có bằng chứng rõ ràng nào về việc Hà Nội thuận lòng thương lượng với tướng Dương Văn Minh. Còn tướng Kỳ thì lại đang dọa sẽ tổ chức một cuộc đảo chính lật đổ Thiệu. Vì thế, Khiêm hy vọng rằng khi tình huống xấu cần phải di tản xảy ra thì tướng Charles Timmes đừng quên “những người bạn” Việt Nam của mình.

Các tin thất bại từ chiến trường dồn dập báo về khiến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã bắt đầu cảm nhận thấy sự sụp đổ của Chính quyền Sài Gòn là khó tránh khỏi. Rạng sáng 18/4, lực lượng đặc công quân đội Bắc Việt đã tấn công trạm radar Phú Lâm ở ngoại ô Sài Gòn. Điều này chứng tỏ chiến tranh đã lan đến tận cửa ngõ thành phố. Chừng một giờ sau, tướng Nguyễn Văn Toàn chỉ huy quân khu 3 bay từ Biên Hòa vào để nói với Thiệu rằng trên thực tế quân đội Sài Gòn đã thua trận. Biên Hòa không thể giữ được quá 3 ngày nữa. Toàn cũng khẳng định rằng Phan Rang đã thất thủ và tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đã bị quân giải phóng bắt. Một số binh lính quân đội Sài Gòn bại trận trong cơn tức giận và tuyệt vọng đã dùng xe ủi phá cả phần mộ tổ tiên Tổng thống Thiệu ở ngoại ô Phan Rang.

Cũng trong buổi sáng hôm đó, một nhóm người tự xưng là phe ôn hòa và đối lập liên hệ được với Tổng thống, cảnh báo rằng thời gian dành cho Thiệu đã hết. Những người này yêu cầu Thiệu từ chức trong vòng 6 ngày, nếu không sẽ phải trả giá đắt. Ngay sau đó, Thiệu ra lệnh bắt giam một số tướng lĩnh quân sự những người mà theo ông ta là phải chịu trách nhiệm cho sự thất bại của quân đội Sài Gòn vài tuần qua. Tướng Phạm Văn Phú đang bị ốm trong tình trạng gần hôn mê tại trung tâm chữa lao ở ngoại ô Sài Gòn cũng bị bắt tống giam. Tướng Ngô Quang Trưởng tuy chưa bị bắt nhưng bị coi là kẻ đồng phạm với Phú dẫn đến thất bại thảm hại. Sau này khi tướng CIA Timmes tới gặp Trưởng tại một quân y viện, vị tư lệnh quân khu 1 ôm mặt khóc nức nở đổ lỗi cho Thiệu đã thay đổi kế hoạch hành quân luôn xoành xoạch dẫn đến việc mất quân khu 1.

Ngay từ đầu tháng 4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã linh cảm thấy điều chẳng lành sắp đến với mình. Sức ép từ nguy cơ bị đảo chính và sự tiến quân mạnh mẽ của quân đội Bắc Việt ngày càng tăng,Thiệu bắt đầu nghĩ tới việc tẩu tán tài sản của gia đình và biển thủ ngân khố quốc gia. Ngày 2 và 3/4, Thiệu chuyển phần lớn tiền, vàng, đồ dùng quí hiếm của gia đình sang Đài Loan và Canada. Nhưng còn 16 tấn vàng tương đương 220 triệu USD là phần lớn ngân khố quốc gia Chính quyền Sài Gòn thì vẫn chưa được “xuất cảnh”. Lúc đầu Thiệu định chuyển toàn bộ số vàng nói trên vào Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank of International Settlements) có trụ sở tại Basel (Thụy Sĩ) để sử dụng riêng. Tại ngân hàng này, Chính quyền Sài Gòn đã gửi số vàng lớn tương đương 5 triệu USD. Thiệu nói với cấp dưới của mình rằng đó là số vàng ký quĩ đối với các khoản vay để mua sắm thiết bị cho quân đội. Tuy nhiên, vài ngày trước khi việc giao (Tiếp theo trang 13)

dịch ngân hàng của vụ cướp ngân khố quốc gia này được hoàn tất, CIA trong ĐSQ Mỹ biết được ý đồ của Thiệu. Một nhân viên của Đại sứ Martin đã cố tình cung cấp thông tin về sự vụ ra cho báo chí. Khi dư luận rộ lên, Thiệu đành phải hủy kế hoạch ban đầu của mình đối với 16 tấn vàng. Các máy bay mà Thiệu đã đàm phán thuê chở số vàng nói trên ra nước ngoài đành phải hủy vì sợ dư luận. Đúng lúc đó, Đại sứ Mỹ Graham Martin quyết định vào cuộc. Ông Martin tìm đến Thiệu và gợi ý rằng thay vì chuyển số vàng nói trên sang Thụy Sĩ thì Tổng thống Thiệu hãy chuyển sang New York để gửi vào nhà băng Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve Bank of New York). Trong lúc bối rối, Thiệu đồng ý ngay gợi ý của Martin. Ngày 16/4, ĐSQ Mỹ tại Sài Gòn điện cho Washington đề nghị cho một chuyến bay quân sự đặc biệt sang Sài Gòn để chở 16 tấn vàng nói trên về New York.

Tổng thống Thiệu không phải là người duy nhất trong Chính quyền Sài Gòn tẩu tán sớm tài sản ra nước ngoài. Cùng trong ngày 16/4, cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cũng đã chở gần như toàn bộ tài sản quí hiếm của gia đình ra nước ngoài. Còn Đại sứ của Chính quyền Sài Gòn tại Washington thì sau khi nghe tin Đà Nẵng thất thủ đã bảo vợ mình đi tìm mua nhà để cư trú lâu dài tại bang Maryland.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối: Kỳ 7

Tiểu xảo “rọi đèn pha” và tham vọng của Pháp

Cựu Thủ tướng Chính quyền Sài Gòn Trần Thiện Khiêm (phải) và Hoàng Đức Nhã (em họ Tổng thống Thiệu)

Vài ngày sau khi bí mật gặp Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon, tướng Dương Văn Minh mời cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tới biệt thự riêng của mình. Tại đây, Dương Văn Minh nói với Khiêm rằng Pháp đã coi Minh là người thay thế Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và là người có thể hòa giải được với Hà Nội.

Minh đề nghị Khiêm ủng hộ. Cuối cuộc nói chuyện, Trần Thiện Khiêm đã bày tỏ sự ủng hộ và hứa giúp đỡ Minh đến cùng. Cả Dương Văn Minh và Khiêm không hề biết rằng cuộc nói chuyện của họ bị CIA bí mật theo dõi.

Các điệp viên CIA đã báo cáo đầy đủ về Đại sứ quán Mỹ mọi diễn biến liên quan đến âm mưu phế truất Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Các thông tin mật liên quan đến các toan tính xung quanh Thiệu được báo về ĐSQ Mỹ ngày càng nhiều, củng cố thêm quan điểm của Đại sứ Graham Martin và chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar rằng thương lượng với Hà Nội là giải pháp tốt nhất.

Việc phế truất Thiệu không phải do Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm nghĩ ra mà đúng hơn là người Pháp đã khởi xướng và thúc đẩy cho điều đó trở thành hiện thực.

Kể từ khi Thủ tướng Jacques Chirac gặp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn tại Paris, người Pháp luôn là động lực đằng sau việc tìm kiếm một giải pháp chính trị vào phút chót. Paris hy vọng với tình hình Sài Gòn cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1975, nếu các nhà ngoại giao Pháp nhanh chân rất có thể chiến tranh Việt Nam được kết thúc theo hướng có lợi cho Pháp.

Mục tiêu mà người Pháp tự đặt ra là thúc đẩy tình hình để Việt Nam trở lại thời kỳ bị phân chia thành 3 miền Bắc, Trung và Nam Kỳ trước đây. Kể từ khi Đà Nẵng thất thủ, tại Hà Nội, Paris và Sài Gòn người Pháp ráo riết mở các cuộc gặp gỡ bí mật với các bên liên quan với tham vọng đạt được các mục tiêu “chiến lược 4 gọng kìm”.

Theo chiến lược này, “4 gọng kìm” là:1- Phải thuyết phục để Hà Nội chấp nhận kết thúc chiến tranh bằng thương lượng. 2- Đối với Nguyễn Văn Thiệu, phải khiến ông ta chấp nhận từ chức. 3- Với Mỹ, làm sao để họ hiểu rằng tình hình đã đến mức chỉ còn một giải pháp duy nhất là đồng ý để cho Pháp đứng ra làm trung gian. 4- Còn với Dương Văn Minh, cần thuyết phục để ông ta chấp nhận là người thay thế vào vị trí của Tổng thống Thiệu.

Đại sứ Pháp tại Sài Gòn Jean Marie Merillon chỉ có 2 điều đam mê, đó là vận động ngoại giao và săn bắn. Nhậm chức Đại sứ tại Sài Gòn mới được hơn một năm nhưng ông Merillon đã khiến mọi người phải khâm phục tiểu xảo “chiếu rọi đèn pha” sở trường của ông trong hai lĩnh vực nói trên.

Khi đi săn đêm, đầu tiên Merillon tìm cách làm lóa mắt con thú bằng cách chiếu rọi đèn pha thẳng vào mắt hoang thú. Bị chiếu đèn pha bất ngờ, con thú nào cũng chỉ còn biết đứng im nhìn chằm chằm vào nguồn sáng. Đó là lúc tốt nhất cho người đi săn nổ súng.

Trong hoạt động ngoại giao ở Sài Gòn những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, Đại sứ Merillon cũng áp dụng “tiểu xảo chiếu rọi đèn pha” một cách diệu nghệ.

Trong tuần đầu tiên của tháng 4/1975, Đại sứ Merillon tìm cách áp dụng chiến thuật tiểu xảo này đối với Hoàng Đức Nhã – em họ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi phân tích về tình hình cho phép thúc đẩy giải pháp chia cắt Việt Nam thành 3 vùng như đã từng một thời tồn tại trong lịch sử, Merillon thúc giục Nhã ủng hộ.

Bằng vẻ mặt không hề có biểu hiện nào của sự mỉa mai, Merillon dẫn ra ví dụ năm 1940 nhờ việc quân đội Pháp thương lượng với Đức phát xít mà nước Pháp tránh được sự tàn phá của Đức. Nghe điều này, Hoàng Đức Nhã vô cùng tức giận, buông ra những lời khiếm nhã đối với Đại sứ Merillon: “Ông điên rồi sao? Đó là một kế hoạch lố bịch”.

Nhưng Đại sứ Merillon không hề thất vọng. Vài ngày sau, ông ta lại dùng “tiểu xảo rọi đèn pha” vào “con mồi” xa hơn. “Con mồi” lần này chính là Đại sứ Mỹ Graham Martin.

Nhà riêng của Đại sứ Merillon tại Sài Gòn ở liền kề tòa nhà ĐSQ Mỹ. Điều này cho phép Merillon ghé thăm Đại sứ Martin bất cứ lúc nào trong ngày để cùng nhau chia sẻ các ý tưởng bên tách cà phê.

Mỗi lần như vậy, Merillon đều cố gắng làm cho Martin hiểu rằng chưa có sự đảm bảo chắc chắn nào rằng Bắc Việt Nam chấp nhận giải pháp kết thúc chiến tranh bằng thương lượng. Nhưng cứ thử cố làm xem, điều đó có hại gì đâu.

Phản ứng lúc đầu của Đại sứ Martin là không nhất trí với các phân tích và quan điểm của Merillon. Vì trước đó, Martin và Ngoại trưởng Mỹ Kissinger đã từng thống nhất quan điểm với nhau rằng bất cứ một sự thay đổi nào đối với ban lãnh đạo ở Sài Gòn thì cũng phải được thực hiện một cách hợp pháp.

Làm như thế cốt để giữ được sự ổn định và tối đa hóa cơ hội thương lượng giữa người kế nhiệm Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và những người Cộng sản. Mặc dù vậy, Đại sứ Martin cũng không bác bỏ hoàn toàn ý tưởng của Pháp. Đại sứ Mỹ vẫn giữ cầu bằng cách để ngỏ mọi khả năng thảo luận tiếp với Merillon.

Nhằm tránh các cặp mắt tò mò soi mói, Đại sứ Martin bảo cấp dưới đục tường ĐSQ Mỹ để mở một lối thông sang nhà riêng Đại sứ Pháp Merillon. Ngoài ra, Martin còn cho nối một đường dây điện thoại bí mật với người đồng nghiệp Pháp để có thể trao đổi kín bất cứ lúc nào. B
ên phía nhà riêng của mình ông Merillon lắp một điện thoại trong nhà tắm dành riêng cho ông ở cách xa nơi làm việc cốt để tránh tai mắt của các nhân viên và thư ký người Việt phục vụ trong khuôn viên. Mỗi khi cần trao đổi riêng với người đồng nghiệp Mỹ, Đại sứ Merillon đều phải ra nhà tắm để trao đổi qua điện thoại.

Các cuộc trao đổi như vậy diễn ra nhiều lần trong một ngày khiến ông Merillon cứ phải liên tục ra nhà tắm. Mỗi lần ra nhà tắm ông Merillon đều nói dối là đi vệ sinh. Các nhân viên giúp việc và thư ký cho Đại sứ Merillon nghe vậy đều tin là ông bị đau bụng nên tỏ ra rất lo ngại cho sức khỏe của ngài Đại sứ của họ.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.