Đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc

QĐND Online – 5 giờ 40 phút ngày 9-4-1975, Quân đoàn 4 và các lực lượng phối thuộc đã nổ súng tiến công Xuân Lộc, một trong những khu vực phòng thủ mạnh nhất trên tuyến phòng thủ Sài Gòn của địch. Phá được “cánh cửa thép” Xuân Lộc, đồng nghĩa với việc ta sẽ mở rộng thêm cánh cửa phía Đông và làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở xung quanh Sài Gòn, tạo thêm thế và lực mới cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng…

Kỳ 1: Thế trận giằng co

Thị xã Xuân Lộc (tỉnh Long Khánh) nằm trên đường số 1, cách Sài Gòn 60 km về phía Đông Bắc, là một cụm mục tiêu kiên cố, gồm tiểu khu Long Khánh liên hoàn với căn cứ Sư đoàn 18 ngụy.

Sau khi thành phố Đà Nẵng bị quân ta tiến đánh và làm chủ, tướng Uây-en, Tham mưu trưởng lục quân Mỹ đã trực tiếp đôn đốc quân ngụy tổ chức một tuyến phòng thủ mới, kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó Xuân Lộc là điểm trọng tâm, nhằm ngăn chặn quân ta tiến theo đường số 1 và đường số 20 đánh vào Biên Hòa và Sài Gòn. Khi đó, Uây-en đã nói với Nguyễn Văn Thiệu và các tướng ngụy là phải giữ cho được Xuân Lộc, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn.

Do vậy, tại Xuân Lộc, địch đã tập trung một lực lượng lớn, bao gồm: Sư đoàn 18 (còn đủ 3 chiến đoàn), Trung đoàn 5 thiết giáp, 8 tiểu đoàn bảo an, 20 đại đội địa phương quân, hàng nghìn cảnh sát và phòng vệ dân sự. Lực lượng ứng cứu trực tiếp có Lữ đoàn thiết giáp 3 ở Biên Hòa, Lữ đoàn dù 1 ở Sài Gòn; ngoài ra còn có các sư đoàn bộ binh và lực lượng binh chủng của hai quân khu 3 và 4.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 4 phát triển tiến công chỉ huy sở Sư đoàn 18 ngụy tại núi Thị-Xuân Lộc (tháng 4-1975). Ảnh tư liệu,

Được giao nhiệm vụ đánh chiếm Xuân Lộc, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 xác định đây là một khu vực phòng thủ mạnh của địch ở cửa ngõ Sài Gòn, nên phải lấy diệt địch bên ngoài là chính, tạo thế bao vây cô lập, khi có thời cơ sẽ tiến công cứ điểm. Do đó, Đảng ủy đề ra phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”. Nhưng trước tình hình thực tế là quân địch đang hoang mang, dao động, cần phải “khẩn trương, táo bạo”, sử dụng một bộ phận bộ binh, tập trung toàn bộ xe tăng, pháo binh tiến công thẳng vào sở chỉ huy tiểu khu và sư đoàn 18, nếu địch tan vỡ thì nhanh chóng đánh chiếm Xuân Lộc.

Sư đoàn 7 được giao nhiệm vụ tiến công hướng chủ yếu, từ phía Đông đánh chiếm căn cứ Sư đoàn 18.

Sư đoàn 341 đảm nhận hướng thứ yếu, từ phía Bắc đánh xuống, chiếm tiểu khu Long Khánh và các mục tiêu trong thị xã.

5 giờ 40 phút ngày 9-4-1975, Quân đoàn 4 nổ súng tiến công Xuân Lộc. Các trận địa pháo Quân đoàn, sư đoàn đồng loạt nhả đạn. Một giờ sau, bộ binh bắt đầu xung phong.

Hướng Bắc, Trung đoàn 266 (Sư đoàn 341) do sư đoàn trưởng Trần Văn Trân và Chính ủy Trần Nguyên Độ trực tiếp chỉ huy nhanh chóng thọc sâu chiếm khu thông tin, khu cố vấn Mỹ, khu cảnh sát…các mũi đều phát triển thuận lợi vì trước trận đánh mấy ngày, công tác trinh sát nắm tình hình tại khu vực tác chiến được ta tiến hành khá kỹ.

Đến 9 giờ 30 phút, các chiến sĩ Phạm Lê Canh, Nguyễn Văn Trọng (Tiểu đoàn 5) và Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Minh Đức (Tiểu đoàn 7) cùng đồng đội mang lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” tiến về dinh Tỉnh trưởng Long Khánh. Địch tập trung phản kích quyết liệt, buộc lực lượng của Trung đoàn 266 phải dừng lại bên ngoài sở chỉ huy Tiểu khu.

Ở hướng Đông, 8 chiếc xe tăng dẫn đầu Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7) tiến công dũng mãnh. Khi còn cách cổng căn cứ Sư đoàn 18 ngụy chưa đầy 200 mét thì 3 chiếc xe tăng của ta bị bắn hỏng , buộc phải dừng lại. Tiểu đoàn trưởng Lèo Viết Cường và Chính trị viên Nguyễn Văn Tạo (Tiểu đoàn 5) bị thương nặng. Phó Tiểu đoàn trưởng tiếp tục chỉ huy đơn vị chiếm được một phần hậu cứ Chiến đoàn 52 ngụy.

Ở vòng ngoài, Trung đoàn 270 (Sư đoàn 341) và Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) đánh bại 2 tiểu đoàn, diệt 7 xe tăng của hai chiến đoàn 43 và 48 từ Tân Phong và Núi Thị vào cứu viện, giải phóng ấp Bảo Toàn trên đường số 1 (Đông Nam thị xã 4 km).

Ở khu vực ngã ba Dầu Giây, Sư đoàn 6 (thuộc Quân khu 7, được phối thuộc cho Quân đoàn 4) diệt 5 chốt địch trên đường 1, đoạn từ Hưng Nghĩa đến đèo Mẹ Bồng Con, thu 2 khẩu pháo 105, buộc Chiến đoàn 52 ngụy phải bỏ Túc Trưng chạy về ngã ba Dầu Giây.

Trong ngày chiến đấu đầu tiên, ta đã chiếm được 1/2 thị xã, toàn bộ khu hành chính tiểu khu, đưa được 3 tiểu đoàn vào chốt trong thị xã và thực hiện chia cắt từ ngã ba Dầu Giây đến đèo Mẹ Bồng Con. Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định tiếp tục tiến công, tiêu diệt Sư đoàn 18 và giải phóng thị xã.

Ngày 10-4, Sư đoàn 7 đưa lực lượng dự bị là Trung đoàn 141 và 1 tiểu đoàn cao xạ 37 ly và 57 ly hỗn hợp, đột phá từ hướng Bắc xuống, cùng với Trung đoàn 165 tiến đánh căn cứ Sư đoàn 18. Bị  chiến đoàn 52 và Trung đoàn 5 thiết giáp phản kích quyết liệt, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 141) không mở được cửa đột phá. Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 141 cũng chỉ chiếm được ngã tư ở Đông Nam hậu cứ Chiến đoàn 52. Trung đoàn 165 chiếm được khu gia binh và tiến đến sân bay Cáp Rang. Trung đoàn 209 tiến công thị xã từ phía Nam, gặp tuyến phòng thủ của địch ở Nam sân bay nên phải dừng lại để củng cố bàn đạp.

Sư đoàn 341 đưa thêm Trung đoàn 270 vào thị xã, cùng Trung đoàn 266 đánh địch phản kích, giữ các mục tiêu đã chiếm. Hai tiểu đoàn 5 và 7 (Trung đoàn 266) bốn lần đột phá sân bay Cáp Rang đều bị đánh hất trở lại. Các mũi tiến công trại Lê Lợi, căn cứ Chiến đoàn 43…chiến đấu giằng co với địch dưới tầm hỏa lực bom pháo.

Ngày 11-4, chiến sự tiếp tục diễn ra giằng co, ác liệt ở trong và ngoại vi thị xã Xuân Lộc.

Nhằm tăng cường lực lượng phòng giữ Xuân Lộc, ngày 12-4, địch đổ Lữ đoàn 1 dù từ Sài Gòn xuống ngã ba Tân Phong. Ba ngày sau, chúng tăng cường thêm 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh và 2 chi đoàn xe tăng, đưa số lượng tăng thiết giáp lên 300 chiếc. Như vậy, tính cả Sư đoàn 18 và các lực lượng đã được bố trí trước ngày ta nổ súng, tại Xuân Lộc, địch đã tập trung 50% bộ binh, 60% pháo binh, hầu hết xe tăng của Quân đoàn 3 và lực lượng tổng dự bị tương đương một sư đoàn. Như vậy, lực lượng địch ở Xuân Lộc tham gia tác chiến quy mô tới cấp quân đoàn.

Ngoài ra, từ sân bay Biên Hòa và Tân Sơn Nhất, mỗi ngày địch huy động 80 lần chiếc máy bay ném bom, cao nhất là 125 lần chiếc, nhằm chi viện cho các mũi phản kích của bộ binh, xe tăng địch và đánh vào đội hình tiến công của ta.

Sau 3 ngày chiến đấu, ta đã chiếm được một số mục tiêu, diệt một bộ phận sinh lực địch, song chiến sự vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Tuy rối loạn, đổ vỡ lớn, nhưng biết được vị trí quan trọng của Xuân Lộc, lại có công sự vững chắc và được tăng cường lực lượng, nên địch vẫn chống trả quyết liệt, gây cho ta tổn thất và tạm thời ngăn được sức tiến công của ta…

*
*    *

Kỳ  2: Chuyển hóa thế trận, đập tan “cánh cửa thép” bằng binh pháp cô lập, cắt rời

QĐND Online – Ngày 13-4, Thượng tướng Trần Văn Trà, Phó Tư lệnh Bộ chỉ huy Chiến dịch đã đến sở chỉ huy, cùng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 nghiên cứu diễn biến trận đánh, quyết định tổ chức lại lực lượng, thay đổi cách đánh.

Xuất phát từ nhận định: đối với toàn tuyến phòng thủ Sài Gòn của địch, Xuân Lộc chỉ có giá trị khi được nối liền với Biên Hòa, nên Bộ chỉ huy Chiến dịch và Quân đoàn chủ trương lập thế trận mới, cô lập và cắt rời Xuân Lộc ra khỏi Biên Hòa bằng cách đánh chiếm ngã ba Dầu Giây, cắt đường số 1, chặn quân địch từ Biên Hòa, Trảng Bom lên phản kích và đánh chiếm Tân Phong; cắt đường số 2 đi Bà Rịa.

Lựa chọn cách đánh trên còn xuất phát từ nhận định là trong khi địch còn đang hoang mang, dao động về chiến lược, ta không nhất thiết phải tập trung lực lượng lớn đánh vào một khu vực có lực lượng địch đông và mạnh, mà có thể chuyển hoá thế trận, dùng “thế” để giải phóng Xuân Lộc. Do đó, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 quyết định ngừng tiến công các vị trí địch đang cố thủ trong thị xã. Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7) và Trung đoàn 266 (Sư đoàn 341) giữ vững những bàn đạp đã chiếm được, duy trì áp lực thường xuyên lên quân địch trong thị xã, thực hiện biện pháp nghi binh, làm địch tin rằng ta đang chuẩn bị tiến đánh tiếp.

Bộ binh, xe tăng Quân đoàn 4 tiến công thị xã Xuân Lộc.

Sư đoàn 6 (Quân khu 7) và Trung đoàn 95B (thuộc Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) mới từ Tây Nguyên vào tăng cường cho Quân đoàn 4 sẽ đánh chiếm Dầu Giây và Núi Thị, giải phóng thêm một đoạn đường số 1 và đoạn đường số 20 còn lại, thực hiện chốt chặn chiến dịch, diệt quân địch từ Biên Hòa, Trảng Bom lên phản kích.

Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) triển khai lực lượng trên dải vòng cung Đông Bắc chi khu Tân Phong, chặn đánh Lữ  đoàn 1 dù, không cho chúng vượt qua cầu Gia Liên để bắt liên lạc với Chiến đoàn 43 trong thị xã; Trung đoàn 141 (Sư đoàn 7) và hai trung đoàn còn lại của Sư đoàn 341 củng cố tại chỗ làm lực lượng dự bị cơ động.

Trong khi ta chuyển thế trận và cách đánh, địch lầm tưởng đã đẩy lùi được cuộc tiến công của ta. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu tuyên truyền rùm beng về “Chiến thắng Xuân Lộc”, về “khả năng chiến đấu của quân lực Việt Nam cộng hòa đã được phục hồi”. Lê Minh Đảo, Tư lệnh Sư đoàn 18 ngụy thì huênh hoang tuyên bố: “Việt cộng dù có thêm mấy sư đoàn nữa cũng không thể chiếm được Long Khánh…Việt cộng muốn qua Long Khánh phải bước qua xác của Đảo này”.

Rạng sáng 15-4, pháo 130 ly của ta bắt đầu bắn phá  sân bay Biên Hòa, chặn khả năng địch tiếp ứng bằng không lực. Cùng lúc đó, bằng 5 trận vận  động tập kích, Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B đã tiêu diệt sinh lực của Chiến đoàn 52 ngụy, thu 12 khẩu pháo và toàn bộ xe tăng của Chi đoàn 3 thiết giáp, tại sở chỉ huy dã chiến của Chiến đoàn 52. Đường số 1 từ Xuân Lộc tới Bàu Cá bị cắt. Đoạn đường 20 cuối cùng từ Túc Trưng đến ngã ba Dầu Giây do ta làm chủ.

Trong hai ngày tiếp theo (16 và 17), sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 ngụy ở Trảng Bom tổ chức phản kích với lực lượng Lữ đoàn 3 thiết giáp có 200 xe tăng, xe bọc thép và Chiến đoàn 8 (Sư đoàn 5 ngụy). Chúng còn được hơn 100 khẩu pháo ở các căn cứ Nước Trong, Hốc Bà Thức, Long Bình, Đại An và 125 lần chiếc máy bay chiến đấu chi viện hỏa lực mỗi ngày. Trận chiến đã diễn ra ác liệt ở Hưng Nghĩa và cao điểm 122. Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B đã diệt gọn 1 tiểu đoàn địch, bắt sống hơn 100 tên, đẩy lùi địch xuống Bàu Cá. Trước thất bại không cưỡng nổi, Quân đoàn 3 ngụy buộc buộc phải ngừng phản kích.

Cùng thời gian đó, sau khi giải phóng Nha Trang, Cam Ranh, cánh quân Duyên hải, mà nòng cốt là Quân đoàn 2 đã tiến quân thần tốc theo hướng đường 1, đập tan tuyến phòng thủ của Quân đoàn 3 ngụy ở Phan Rang; tiếp đó giải phóng Phan Thiết, Hàm Tân và ngày 18-4 đã tiến tới Rừng Lá.

Ở khu vực Xuân Lộc, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 liên tục quần nhau với địch, đánh tan tác hai chiến đoàn còn lại (43 và 48) của Sư đoàn 18 và diệt một bộ phận quân dù.

Trước nguy cơ bị tiêu diệt và xét thấy không còn giá trị phòng thủ, ngày 18-4, Lê Minh Đảo đề nghị rút khỏi Xuân Lộc, vì theo Đảo: “mất Dầu Giây là mất tụ điểm về sức sống ở Long Khánh”. Bộ Tổng tham mưu ngụy đồng ý và chỉ thị cho Đảo phải giữ bí mật kế hoạch rút chạy kẻo bị tiêu diệt.

Chiều tối 20-4, lực lượng còn lại của địch ở Xuân Lộc tháo chạy dưới trời mưa tầm tã. Bộ Tư  lệnh Quân đoàn 4 ra lệnh cho tất cả các đơn vị truy kích, diệt địch. Sư đoàn 341 nhanh chóng đánh chiếm Núi Thị và các mục tiêu còn lại trong thị xã, phát triển xuống đồn điền cao su Ông Quế. Sư đoàn 7 đánh chiếm nam Tân Phong, chặn đường số 2. Tiểu đoàn bộ đội địa phương Bà Rịa chốt chặn và truy kích địch trên đường số 2. Tên đại tá Tỉnh trưởng Long Khánh đã bị bắt trên đường tháo chạy.

Ngày 21-4, thị xã Xuân Lộc và tỉnh Long Khánh được giải phóng. Khi “cánh cửa thép” Xuân Lộc bị  đánh sập, cự ly và bàn đạp tập kết để quân ta tiến vào Sài Gòn từ hơn 100km, rút xuống còn 50km.

Tiến công Xuân Lộc được coi là một chuỗi các trận đánh ác liệt nhất và cũng là một trong những thử thách ngặt nghèo nhất của Quân đoàn 4, kể từ ngày thành lập. Trong hơn 10 ngày chiến đấu, Quân đoàn đã cùng các lực lượng vũ trang địa phương đã tiêu hao và tiêu diệt một lực lượng lớn của địch, gồm những đơn vị mạnh nhất, được tin cậy nhất như Sư đoàn 18, Trung đoàn 5 và Lữ đoàn 3 thiết giáp, Lữ đoàn 1 dù. Trong trận này, ta đã tiêu diệt 2.056 tên địch, bắt 2.785 tên, diệt và đánh thiệt hại nặng 3 chiến đoàn bộ binh, hai chi đoàn bọc thép, một số đơn vị pháo binh, biệt động, quân dù… Ta thu 48 ô tô, 1.499 súng (có 14 khẩu pháo 105 ly và 155 ly), 100.000 viên đạn các loại, phá hủy 16 ô tô, 42 xe tăng, xe bọc thép.

Tướng Lê Minh Đảo bối rối trước
tin các cứ điểm bị đối phương chốt chặn tấn công chia cắt

Đánh sập “cánh cửa thép” Xuân Lộc, Quân đoàn 4 cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã góp phần tạo được một thế trận chung rất thuận lợi cho trận đánh cuối cùng…

Phạm Hoàng Hà (Lược  thuật theo lịch sử Quân đoàn 4)

Bài trước
Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: