Hùng ca đời đời vang vọng

Bài 1: Chiến trường vẫy gọi

LTS: Thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là chiến công hiển hách của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Đó chính là sự khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần Việt Nam qua ba mươi năm đấu tranh gian khổ. Ba mươi năm đó đã có mấy thế hệ người ViệtNam “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” (thơ Tố Hữu). Cổ vũ cho khí thế hào hùng ra trận, không thể không kể tới hàng nghìn nghệ sĩ-chiến sĩ đã hiên ngang, oanh liệt tiến ra sa trường. Những nghệ sĩ-chiến sĩ đã viết nên bản hùng ca đời đời vang vọng.

Bài 1: Chiến trường vẫy gọi

Khi những người nghệ sĩ ra trận, họ đã mang cả mùa xuân đến chiến trường khốc liệt. Nghệ sĩ cổ vũ bộ đội, bộ đội thành nghệ sĩ. Trong cuộc đấu tranh 30 năm của dân tộc ta đã có biết bao nghệ sĩ trưởng thành trên chiến trường, bao nghệ sĩ trở thành bộ đội…

“Lính chiến” Tây Nguyên vẫn thường nhắc câu chuyện về hai vợ chồng nhạc sĩ Doãn Nho đi chiến trường. Nhiều cựu chiến binh gặp hai vợ chồng nghệ sĩ vẫn dí dỏm trêu: Quả bom là quả bom to/Nó chui, nó rúc Doãn Nho mất hồn…. Tôi đến nhà thăm vợ chồng nghệ sĩ Doãn Nho-Nguyệt Ánh. Nhạc sĩ Doãn Nho đang đi thu âm trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Tiếp tôi chỉ có nghệ sĩ Nguyệt Ánh. Bà trẻ hơn nhiều so với tuổi 72, ánh mắt vẫn tinh tường hồn hậu. Bà vui vẻ hỏi: “Nhà báo lại đến vì cái chuyện “Quả bom to” phải không? Lính xưa họ tếu lắm. Chuyện nó như thế này…”.

Văn công trước cửa Dinh Độc Lập 30-4-1975. Ảnh tư liệu

Năm 1967, hai vợ chồng nghệ sĩ Nguyệt Ánh đang công tác tại Đoàn văn công Quân đội thì được lệnh lên đường đi B3. Lúc đó, chuyện nghệ sĩ ra chiến trường phục vụ là chuyện bình thường, nhưng vào chiến trường B3 (Mặt trận Tây Nguyên) lại kéo dài trong một năm thì lại là chuyện khác. Lo âu xen lẫn háo hức. Đoàn công tác có 13 người, trong đó có nữ. Nhạc sĩ Doãn Nho đi tiền trạm cùng một đoàn xe vận tải vũ khí. Đoàn xe này bị B52 rải thảm, bộ đội hi sinh rất nhiều. Trong số đó cũng có một chiến sĩ lái xe tên là Nho, nên khi báo về mọi người nhầm tưởng Doãn Nho đã hi sinh. Tình thực trước đó, nhạc sĩ “bị” một người bạn là sĩ quan cao cấp giữ chân ở binh trạm để tâm sự, nên may mắn thoát chết.

Nghe tin nhạc sĩ Doãn Nho – tác giả của ca khúc Tiến bước dưới quân kỳ đã hi sinh, anh em bộ đội thương lắm. Một đồn mười, mười đồn trăm, rồi cả Mặt trận Tây Nguyên đều biết. Tin đồn bay về với đoàn công tác. Lãnh đạo đoàn quyết định giữ kín thông tin để bà Nguyệt Ánh tiếp tục công tác.

Bà Ánh kể: “Mỗi lần tôi hát bài Nguyễn Viết Xuân, trong đó có câu: Nghe tin chúng giết anh rồi… tim sục sôi… Tất cả mọi người lúc đó đều đã nghe tin đồn anh Nho hi sinh. Họ đều khóc thương tôi. Tôi càng hồn nhiên diễn cảm, mọi người lại càng khóc”.

Thế rồi một hôm, khi 3 chị em trong đoàn tắm dưới suối, chợt nghe cậu “anh nuôi” hét gọi: “Chị Nguyệt, chị Tân ơi, anh Nho về rồi!”. Bà Ánh còn ngạc nhiên hỏi: “Anh Nho về thì làm sao?”. Hai chị ôm chầm lấy vai bà mà khóc: “Bọn tao giấu mày tin đồn anh Nho hi sinh cả tháng nay rồi!”. Lúc đó bà Ánh mới tá hỏa, òa lên, quên cả y phục chạy ra tìm chồng. Chuyện đó lại được đồn, lại thành thơ bút tre. Lính Tây Nguyên ai cũng biết.

“Văn công đi mặt trận có được ưu ái gì không?”-Tôi hỏi. Bà Ánh đáp: “Ưu ái nhiều chứ. Trừ khẩu phần thức ăn, quân trang (nặng khoảng 20kg) thì không phải vác thêm gì nữa. Đôi lúc đến trạm giao liên còn được ngủ lán. Thế là quý rồi, đã hơn bộ đội “thật” rất nhiều rồi”.

Vợ chồng nghệ sĩ Doãn Nho tuổi Thất thập. Ảnh: Đông Hà

Cảm động nhất là những lần gặp đồng hương trên mặt trận. Bà Ánh gặp một “cậu em” hàng xóm, hai chị em ríu rít trao đổi thư từ. Bà bùi ngùi nói: “Cậu ấy tên là Thái, nhà ở 32 Yết Kiêu, trẻ hơn tôi mấy tuổi. Trước khi đi tôi chỉ kịp giúi cho cậu ấy túi đường. Sau đó ít lâu đã nghe tin cậu ấy hi sinh tại mặt trận phía Nam”.

Những năm kháng chiến nghệ sĩ cả nước có một phong trào ra trận. Trong số đó có nhiều người không công tác trong quân đội. Họ ra mặt trận như một nhu cầu tự thân, góp sức phục vụ kháng chiến. Nhiều đoàn nghệ sĩ với chiếc xe đạp, túi bánh mì khô, một tờ giấy giới thiệu lên đường ra vùng “cán chảo”, “túi bom”. Văn nghệ sĩ ra trận đã trở thành nguồn động viên bộ đội, và chính họ đã có nhiều tác phẩm để đời: Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc, Huy Thục, Thu Bồn, Hữu Mai, Vương Trọng, Nguyễn Đức Mậu… và còn nhiều tên tuổi lớn nữa… Sau mỗi chuyến đi là sự ra đời của hàng loạt những tác phẩm ca ngợi bộ đội, cổ vũ kháng chiến. Chính có những cuộc ra đi đó mà giờ đây trong nhạc Việt có một dòng nhạc được gọi là “nhạc đỏ”.

Trường hợp các nghệ sĩ trưởng thành trên mặt trận không phải hiếm gặp. Họa sĩ Trần Lê An là chiến sĩ Thành cổ. Ông có năng khiếu mỹ thuật nên được tham gia lớp đào tạo mỹ thuật cấp tốc do cán bộ trung đoàn tổ chức. Hiện ông còn giữ được rất nhiều tranh ký họa về những trận phòng ngự Cửa Tùng, Cửa Việt, Quảng Trị…

Nhiều cuộc triển lãm tranh ký họa chiến trường được tổ chức gần đây của các họa sĩ Huỳnh Phương Đông, Phạm Ngọc Liệu, Giang Khích, Lê Thiếu Nhơn, Đinh Rú, Lê Duy Ứng… đã khắc họa được hào khí của một thời gian khổ nhưng rất oai hùng.

Hào khí sa trường cuốn đi nhiều nghệ sĩ. Bom đạn cũng cướp đi nhiều tài năng: Tô Ngọc Vân, Hoàng Việt, Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Văn Giá…

Xin cảm ơn người nghệ sĩ đã đồng hành cùng bước chân thần tốc của đoàn quân  Nam tiến. Họ xứng đáng với danh xưng “Nghệ sĩ-chiến sĩ”!

Bài 2: Những tượng đài kỳ vĩ

Xin cảm ơn những người nghệ sĩ đã cho chúng tôi, những thanh niên sinh ra và lớn lên trong hòa bình được cảm nhận những giây phút hào hùng cả nước ra trận, cả nước nhìn về một hướng.

Tôi như bị ám ảnh bởi những câu thơ Chân trời/ Vực thẳm/ Ba lô sấp mặt/ Gió lặng hành quân/ Xơ tước cánh rừng/ Dốc người dựng ngược” (Trường ca Ngày đang mở sáng-Trần Anh Thái). Quả tình, tôi đã bắt gặp khung cảnh đó trong những câu chuyện mà đêm đêm cha tôi – nghệ sĩ Lê Duy Ứng vẫn rì rầm kể về một thời chiến trận. Cảm nhận thật của ông về chiến tranh là đói, rét, mệt lả, sợ hãi, đêm tối mịt mùng, cái chết cận kề… Giữa đêm tôi giật mình đạp chân. Cha hỏi, tôi đáp rằng mơ bước hụt một nấc thang mây.

Nụ cười Thành cổ. Ảnh: Đoàn Công Tính

Rồi cha tôi kể, ông đã vượt Trường Sơn bằng hình ảnh của những ánh sáng lung linh trong bài Đêm trên Cha Lo của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Sau chiến trận, cha tôi đã là thương binh, ánh sáng trong mắt đã mất. Một lần cha tôi được gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên. Ông kể với nhạc sĩ: “Ngoài những chớp lửa của đạn pháo trong mắt tôi vẫn còn ánh sáng lung linh trong đêm Cha Lo”. Nhạc sĩ xúc động tặng cha tôi tập sách in nhạc, trong đó có bài Đêm trên Cha Lo.

Tôi nhiều lần được nghe nhạc sĩ Phạm Tuyên kể về hoàn cảnh sáng tác bài Đêm trên Cha Lo. Tôi biết ông đã viết bài hát đó bằng tình cảm rất thật. Chỉ có những người dám đội bom, vượt dốc, băng qua đêm đen giá buốt giữa mịt mùng núi rừng Trường Sơn mới cảm nhận được hơi ấm từ một đốm lửa nhỏ, mới thấy rạng rỡ lung linh ánh sao đêm, ánh sáng từ nụ cười của những em bé Vân Kiều. Tôi bỗng thấy Cha Lo thật gần gũi.

Tôi gặp anh hùng Lê Mã Lương, hỏi vui: “Nhiều người vẫn bảo vì chú mà họ lên đường ra trận đấy”. Anh hùng cười giản dị: “Vẫn có người trách yêu như vậy. Họ nói vì mình mà họ gắn với cuộc đời binh nghiệp. Có người lên cấp tướng, có người thì trở thành thương binh. Nhưng họ đều công nhận rằng đã làm đúng”. Cũng không ít người đã ngã xuống, không một tấm hình, không một dòng địa chỉ!

Hình tượng nghệ thuật lấy cảm hứng từ anh hùng Lê Mã Lương đã được các môn nghệ thuật như sân khấu, hội họa, văn chương, điện ảnh khai thác rất nhiều trong thời chiến. Câu nói bất hủ: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” thời ấy đã thôi thúc hàng vạn thanh niên xếp bút nghiên lên đường ra trận. Mới đây thôi, ngài đại sứ Hy Lạp Ha-di-mi-cha-lít khi được nhận món quà là bức tranh cổ động có hình ảnh anh hùng Lê Mã Lương đã bày tỏ sự xúc động đặc biệt khi được gặp nguyên mẫu trong tranh. Ông nói đây là cuộc hội ngộ thật mà ngỡ trong mơ.

Họa sĩ Dương Ánh là người đã vẽ bức tranh cổ động có hình ảnh anh hùng Lê Mã Lương. Hai người gặp nhau lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1971. Lần đó anh hùng Lê Mã Lương cùng đoàn anh hùng dũng sĩ miền Nam ra báo cáo tại Hà Nội. Ông kể: “Lúc đến Tạp chí Văn nghệ Quân độitôi rất hồi hộp. Rồi từ hồi hộp chuyển qua xúc động vì có các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, họa sĩ nổi tiếng đã ngồi chờ sẵn. Ngày còn đi học mình chỉ biết các nhà văn, nhà thơ qua các bài học trên trong sách. Đâu biết rằng sẽ có ngày được ngồi gần họ đến vậy”. Trong lúc Lê Mã Lương kể lại chuyện chiến trường cho các nhà văn, nhà thơ… thì họa sĩ Dương Ánh đã ký họa rất nhiều.

Bẵng đi sau đó chừng hai tháng, anh hùng Lê Mã Lương lần đầu tiên được thấy hình ảnh của mình trên bức tranh cổ động “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” trong một hoàn cảnh rất bất ngờ. Đó là lần máy bay Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang, khi khói bom tan hết, nhìn sang bên đường vẫn thấy bức tranh đứng vững mà không bị hơi bom hất đổ, ông lặng người đi xúc động, lòng muốn về ngay đơn vị để được chiến đấu với quân thù.

Đại tá, nhà báo Nguyễn Sĩ Bình kể: “Năm 1971, Đoàn TNCS có phong trào học tập những tấm gương như Lê Mã Lương, Lê Thị Hồng Gấm… Chính họ đã cuốn chúng tôi ra mặt trận. Trên chiến trường, hình ảnh họ giúp chúng tôi có thêm nghị lực, giữ niềm tin chiến thắng”.

Tôi đã gặp những cựu chiến binh Thành cổ, và cả những con người chiến thắng trong ngày 30-4-1975, họ đã lạc quan tin tưởng ngày chiến thắng và rồi niềm tin đó đã thành hiện thực.

Tôi lại nhớ đến những nhân vật trữ tình trong văn học giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đã được học trong trường phổ thông, như: Núp (Đất nước đứng lên – Nguyên Ngọc), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu), T’nú (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành)… Họ là hiện thân cho một lối sống đầy trách nhiệm với đất nước. Họ có chung một niềm tin giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tâm hồn họ trong lành, yêu ghét rõ ràng, thủy chung son sắt. Tôi và bao thế hệ thanh niên sinh ra và lớn lên trong hòa bình được hòa mình trong lý tưởng sống cao đẹp.

Cảm ơn những nghệ sĩ – chiến sĩ đã lao động nghệ thuật hết mình, đã cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam một giai đoạn văn chương chói ngời, hình ảnh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trở thành lý tưởng, là đích đến cho lớp lớp thanh niên, đó cũng là những tượng đài nghệ thuật kỳ vĩ của dân tộc ta trong thế kỷ hai mươi, muôn đời không khuất lấp.

LÊ ĐÔNG HÀ

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: