Đập tan “vành đai thép” duyên hải

Những ngày đầu tháng 4-1975, tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam cộng hòa cố tỏ ra “cứng cỏi” báo cáo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Mất Nha Trang, Cam Ranh thì còn Phan Rang. Còn  sân bay thì máy bay ắt còn đánh được tới Đà Nẵng. Bằng mọi giá phải giữ Phan Rang. Nếu để mất Phan Rang thì cộng sản có thể dùng sân bay này  tiến công Sài Gòn”.

Tổng thống Thiệu và tướng Viên bắt tay nhau thề phải giữ Phan Rang và nhận định: “Cái sống, cái chết bây giờ ở Phan Rang, chỉ còn vài tháng nữa là tới tháng 5 âm lịch, khi đó đã bước sang đầu mùa mưa”. Thiệu đấm mạnh tay xuống bàn, ra lệnh: “Phải giữ bằng được Phan Rang, lập một “lá chắn” vững chắc ở đó để chặn đường bộ, đường biển của cộng sản”, rồi giao nhiệm vụ cho Tư lệnh Quân khu 3, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn phải đi thị sát ngay.

Trung tướng Toàn lập ngay một sở chỉ huy tiền phương của quân khu ở Phan Rang và cử Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm chỉ huy trưởng, trực tiếp trấn an tinh thần binh sĩ.

Sau chiến thắng vang dội giải phóng tỉnh Bình Định, Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao Vàng) nhanh chóng rút kinh nghiệm và khẩn trương củng cố lực lượng, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

Sáng 8-4, sư đoàn nhận lệnh hành quân vào giải phóng Phan Rang. Được sự giúp đỡ của chính quyền và nhân dân các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, sư đoàn đã huy động 924 chiếc xe khách, xe tải… vận chuyển quân thần tốc vào Phan Rang. Đến giờ, trong mỗi cán bộ, chiến sĩ cựu chiến binh của sư đoàn đến giờ vẫn không thể quên những ngày hành quân hào hùng ấy. Bao năm sống trên rừng, quanh ra cũng đèo dốc, quanh lại cũng dốc với đèo, khó khăn gian khổ không kể hết, bộ đội sư đoàn luôn ước mong có một ngày được xuống đồng bằng, được tự do đi trên con đường lớn. Ước mong ấy đã trở thành hiện thực. Ngồi trên xe băng băng trên quốc lộ 1 giữa ban ngày, trong tiếng hò reo vang dậy của đồng bào hai bên đường từ Bình Định vào Khánh Hòa, với những ánh mắt, nụ cười, vẫy tay chào đón của bao em thơ, bà mẹ… càng làm cho hàng vạn cán bộ, chiến sĩ sư đoàn tràn ngập mừng vui, tự hào. Tất cả cùng hát vang bài ca “Tiến về Sài Gòn”.

Ngày 11-4, toàn sư đoàn vào tới Phan Rang. Sở chỉ huy của đoàn đặt trên núi Xanh; từ đây quan sát được nhiều huớng và nhìn khá rõ sân bay Thành Sơn. Trên đường băng, những chiếc trực thăng vẫn bay lên, hạ xuống khá bình thản; thỉnh thoảng lại có một tốp máy bay phản lực cất cánh. Chúng không hay biết, lực lượng pháo cao xạ, pháo mặt đất 57 ly và bộ binh của ta đã áp sát sân bay, chờ lệnh nổ súng. Cái gọi là “Vành đai thép” của Tổng thống Thiệu, Trung tướng Toàn cùng các tướng lĩnh dựng lên đang bị lung lay mà chúng không hay biết.

Đúng 5 giờ 30 phút ngày 14-4, các trận địa pháo binh của sư đoàn đồng loạt nổ súng; các cứ điểm địch ngập chìm trong biển lửa; tiếp đó, xe tăng và bộ binh của sư đoàn ở các hướng đồng loạt xông lên như nước lũ. Hàng nghìn tên địch bị tiêu diệt, chạy trốn, hoặc bỏ vũ khí ra hàng. Bộ đội ta hò reo vang trời.

Qua hai ngày đêm ngoan cường chiến đấu, sư đoàn đã tiến công dứt điểm Phan Rang, tiêu diệt và bắt sống hàng nghìn tên địch, thu nhiều vũ khí các loại. Đặc biệt trong chiến đấu giải phóng Phan Rang, sư đoàn đã bắt sống hai viên tướng ngụy. Đó là Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang và Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cùng một cố vấn Mỹ. Đây là một sự kiện chưa từng có trong chiến tranh chống Mỹ-ngụy ở miền Nam. Người lập công bắt tướng ngụy là Binh nhất Nguyễn Văn Quân, thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2. Sự kiện Sư đoàn 3 giải phóng Phan Rang, bắt sống tướng địch được truyền đi rất nhanh và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện khen ngợi.

Sau khi giải phóng Phan Rang, làm sụp đổ toàn bộ “vành đai thép” của địch, sư đoàn tiếp tục tiến công giải phóng Phan Thiết, Bà Rịa, Vũng Tàu; phối hợp với Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Xuân Tuynh

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: