Sài Gòn những ngày cuối qua mắt phương Tây

“Sự sụp đổ của cơ cấu dân sự và quân sự Việt Nam Cộng hòa là bi kịch và cay đắng” – Hen-ri Kít-xinh-giơ (Henry Kissinger) đã phải than vãn như vậy.

Các báo Le Nouvel Observateur, Le Figaro, Thời báo Niu Y-oóc xôn xao đưa tin: “Sức mạnh áp đảo của quân Bắc Việt đã áp sát cửa ngõ Sài Gòn”. Ngày 21-4-1975, tiếng súng từ ngoại vi đã dồn dập vọng vào trung tâm Sài Gòn. Nhà mấy nhân viên ISCC – Viện trợ quân sự Mỹ ở đường Trần Quốc Toản tụ hội lắm giai thoại về chính quyền Cộng hòa Nam Việt. Có người đưa tờ Le Figaro thông báo tin các cố vấn Nhà trắng thúc giục Tổng thống Pho (Ford) tái xác nhận rằng “Mỹ không có ý định cam kết với chính phủ Nam Việt về quân sự”. Giám đốc CIA Uy-li-am Câu-bi (William Colby) nói trắng ra là “phải thay thế Thiệu để đổi lấy sự di tản không bị phía bên kia gây trở ngại”. Các phe phái trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng hy vọng tìm được giải pháp tồn tại đang ép ông Thiệu phải từ chức để mở đường thương lượng với phía giải phóng. Tối hôm ấy, Nguyễn Văn Thiệu từ chức với bài phát biểu cay đắng: “Tổng thống Mỹ lừa tôi ký vào Hiệp định Pa-ri rồi bỏ mặc. Họ đã bán đứng chúng ta. Thử hỏi trên thế giới này còn ai tin được lời hứa bạn bè của Mỹ”.

Xe tăng 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975. Ảnh: Francoise Demulder

Ba hôm sau tình hình nội đô Sài Gòn tĩnh lặng khác thường. Tạp chí Thời đại thông báo: “Ngày 24-4-1975 tại giảng đường Đại học Tulane, Tổng thống Pho đọc bài diễn văn quan trọng “Việc trở lại trong danh dự”, vì rằng là “Cuộc chiến tranh đã kết thúc với Mỹ, người Việt Nam phải tự lo giải quyết số phận của mình”. Ngày 26-4-1975, nhà báo Liên Xô Mi-kha-in (Mikhail) viết rằng cựu tổng thống Thiệu đã rời Sài Gòn đi Đài Loan mang theo 5 tấn vàng và đá quý. Gioóc-giơ Chớt (George Church), phóng viên Thời đại tường thuật: “Cựu tổng thống lúc này không còn giữ kẽ, cứ thút thít theo người tùy tùng lên thang máy bay. Ông ta bước vội vã nói câu từ biệt không rõ lời”. Trong khi đó, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa tìm được gương mặt khả dĩ làm “chiếc cầu thương lượng” với phía bên kia. Đại sứ Mỹ Mác-tin (Martin) không thể chần chừ hơn nữa, liền gây sức ép để Trần Văn Hương từ chức. Người Mỹ đặt cả hy vọng vào Dương Văn Minh – “con bài” cứu vãn tình thế.

Chiều 28-4-1975, mấy tốp máy bay từ đâu ào tới Tân Sơn Nhất, hai loạt bom nổ lộng óc. Tối đó lễ tấn phong tổng thống kế nhiệm được tiến hành gấp gáp, mặc dù hơn 60 nghị sĩ đã bỏ cuộc họp, chỉ còn lại những bộ mặt lo âu thấp thỏm. Các nhân viên ISCC rò rỉ tin Tân Sơn Nhất bị tê liệt, đại sứ quán lo di tản khẩn cấp. Đại sứ Mác-tin nhận được thông báo bên kia: “Mỹ phải ra đi trong 24 giờ”. Mác-tin sụp xuống nói được mỗi câu: “Đi đứt cả rồi”.

Các kế hoạch di tản lập tức được thực hiện. Các sân thượng cao ốc và tòa đại sứ là sân bay di tản. Tuy nhiên Mác-tin vẫn hy vọng biện pháp thương thuyết trì hoãn kéo dài sự có mặt của Mỹ ở Sài Gòn. Sau khi thu xếp cho vợ lên máy bay, Mác-tin về phòng chờ kết quả đề nghị phía giải phóng cho mình gặp trực tiếp. Phía bên kia đã từ chối gặp Đại sứ Mỹ. Trong khi đó lại có tin hàng trăm pháo, tên lửa Bắc Việt đã bao quanh Sài Gòn, có thể giội lửa vào trung tâm thành phố bất cứ lúc nào. Mác-tin vội nhờ thông báo phía bên kia đừng pháo kích và nói “người Mỹ đang tiếp tục ra đi”. Nhưng quá nửa đêm 28-4-1975, kế hoạch “Giông tố” của đại sứ Mỹ vẫn chưa thực hiện.

Rạng sáng 29-4-1975, các cánh quân giải phóng từ 5 hướng nhất tề tấn công. Tình thế không cho phép chần chừ, Mác-tin ra lệnh bắt đầu chiến dịch “Giông tố” từ 11 giờ ngày 29-4-1975. Tín hiệu do đài phát thanh thông báo “Nhiệt độ 105 độ F (hơn 40 độ C)”, tiếp đến giọng ca nữ hát bài “Tôi mơ đêm Nô-en tuyết phủ” cứ 15 phút báo hiệu một lần đến khi kết thúc cuộc di tản.

Hàng ngàn, vạn người ào tới điểm quy định. Giá vé xuất cảnh tăng 20.000 đô-la một tấm vẫn khó len qua được chiếc cổng sắt, trừ phi là thân nhân người Mỹ. Tuy vậy số người qua được rất ít. Thậm chí một số người thân của tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa còn bị gạt lại. Một số người bị giẫm đạp chết ngay ở cổng tòa đại sứ.

Thực trạng cho Mác-tin thấy rõ sự tuyệt vọng đã đến cùng cực. Mác-tin rũ người, quan chức sứ quán phải nâng lên máy bay. Đúng 4 giờ 58 phút ngày chót cùng tháng 4-1975, chiếc H53 rời tòa đại sứ đưa Mác-tin ra chiến hạm. 11 giờ, chiếc xe tăng Bắc Việt xông tới húc đổ cánh cửa dinh tổng thống Sài Gòn. Xe ô tô TS1 chở bộ binh bám sát tiến vào giữa sân. Tổng thống Dương Văn Minh và nội các ngồi chờ ở phòng tình hình dưới mặt đất.

11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ giải phóng được kéo vút lên nóc Dinh Độc Lập. Phóng viên Le Nouvel Observeteur đứng sững lắng nghe muôn đợt âm thanh ập tới, tiếng hoan hô bật lên từ mọi phía: “Việt Nam thống nhất, độc lập muôn năm”. Người phóng viên này đã ghi lại mở đầu bài “Mười hai điều cần biết để hiểu một cuộc chiến tranh” như sau: “Vì rằng suốt 30 năm trường, một dân tộc nhỏ đã phải chịu biết bao đau khổ hy sinh, một dân tộc đã trở thành một vấn đề mà toàn thế giới bị lương tâm cắn rứt, đồng thời cũng là niềm hy vọng của kẻ yếu, niềm tin của những người bị áp bức, hiện thân tinh thần ngoan cường bất khuất của chủ nghĩa dân tộc cách mạng đã đánh bại chủ nghĩa đế quốc, siêu cường phương Tây tưởng rằng mình có thể đè bẹp được một nền độc lập dân tộc… Việt Nam đã thật sự thắng. Trước mắt ta không có cảnh tan hoang, cũng không có đoàn người lếch thếch run rẩy trước mũi lê tuốt trần… Làm gì có chuyện tắm máu như người Mỹ rêu rao”.

Nguyễn Việt Phương

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: