Bảo đảm binh lực cho các chiến dịch Xuân 1975

QĐND Online – Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, chúng ta đã tiến hành khoảng 50 chiến dịch lớn nhỏ. Chưa bao giờ việc bảo đảm nhân tài,vật lực, trong đó có bảo đảm vũ khí, trang bị lại hùng hậu, sung sức như 3 chiến dịch lớn trong Mùa Xuân 1975.

Theo các tài liệu công bố, trong Chiến dịch Tây nguyên, trận mở màn Buôn Mê Thuột, lực lượng ta mạnh áp đảo đối phương: xe tăng, xe bọc thép ta nhiều gấp 1,2 lần địch, pháo lớn ta gấp 2,1địch, còn bộ binh ta gấp tới 5,5 lần địch. Chính vì thế, khi tấn công và cả khi địch tổ chức phản kích hòng chiếm lại thị xã này, ta đã có đủ quân số, vũ khí, sử dụng pháo binh, xe tăng đánh địch phản kích rất hiệu quả. Điều mà ở các chiến dịch truớc đây, chưa bao giờ ta có hoả lực, cơ giới, thiết giáp hiệp đồng binh chủng với bộ binh “đánh nhanh, giải quyết chiến trường nhanh” như thế.

Trận đánh trên đèo Ma-đrắc, cuối tháng 3-1975, mục đích của Sư đoàn 10 Quân Giải phóng là nhằm chọc thủng phòng tuyến này, về duyên hải Trung bộ. Đèo Ma-đrắc do lữ đoàn dù của quân đội Ngụy chốt giữ, có máy bay chiến đấu chi viện mạnh, nhưng tại đây, trung đoàn pháo binh của ta bắn chế áp địch, có ngày bắn liên tục nhiều giờ liền, “khoá mõm” pháo binh địch. Ta còn khống chế các điểm cao, eo núi, sau đó nhiều xe tăng, xe thiết giáp xuất kích, hiệp đồng cùng bộ binh đánh chia cắt đội hình địch. Cuối cùng lữ đoàn dù đối phương đã bỏ trận địa chạy tháo thân thì lại bị bộ phận dưới chân đèo của ta đánh vỗ mặt. Ta giải phóng hành lang đường 21, tiến về Nha Trang. Kết quả ấy nhờ ta đáp ứng đủ đạn pháo, đạn phòng không, xăng dầu cho xe bọc thép kịp thời tác chiến.

Xe tăng quân Giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

Tài liệu của các sĩ quan quân đội Việt Nam cộng hoà sau này thú nhận: Địch rất sợ uy lực, hoả lực và sức đột phá của xe tăng T54, T55 Quân giải phóng, bởi lẽ nòng pháo của xe tăng “cộng quân” cỡ 100mm, trong khi đó xe tăng của chúng chỉ có cỡ 75mm mà thôi. Viên đại tá nguy Đặng Văn Quang, Tư lệnh mặt trận Buôn Mê Thuột và đại tá Tỉnh trưởng Nguyễn Trọng Luật sau này thừa nhận. Khi Buôn Mê thuột bị tấn kích, các pháo đội của họ không đủ tầm bắn chế áp pháo binh đối phương, vì pháo của họ cỡ nòng 105mm, trong khi pháo nòng dài của đối phương bắn đạn 130mm!

Trong chiến  dịch Tây Nguyên, có tới hàng trăm máy bay của địch từ 3 sư đoàn không quân tới ném bom, bắn rốc két ứng cứu cho bộ binh. Trong đó phải kể đến F5E, A-37, A1…cùng rất nhiều trực thăng vũ trang bay trên các độ cao chi viện. Tuy nhiên, sự xuất hiện của Tên lửa vác vai A72, (địch gọi là SA-7E), của Quân giải phóng đã tìm diệt khá hiệu quả, bắn rụng nhiều máy bay, khiến cho việc ném bom của địch gặp khó khăn vì không dám hạ thấp chế áp các trận địa. A72 thực sự là “khắc tinh” của phi cơ quân nguỵ. Trong đội hình mỗi sư đoàn bộ binh của ta còn được biên chế 1 tiểu đoàn pháo phòng không (PPK) 37-2mm; 1 đến 3 phân đội tên lửa tầm thấp A-72. Các trung đoàn bộ binh có 1 đại đội súng máy phòng không (SMPK) 12,7mm. Chưa bao giờ bảo đảm súng phòng không theo sư đoàn lại mạnh như thế.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tên lửa tầm thấp A-72 đã bắn rơi tại chỗ 34 máy bay địch. Ngay trên hướng Tây Bắc Sài Gòn trong ngày 29-4, tên lửa A-72 đã bắn rơi 9 máy bay địch ở Phú Lâm, Tân Tạo, ngã tư Bảy Hiền. Cũng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh chúng ta đã tổ chức thành công hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng phòng không với bộ binh, xe tăng và các tổ, đội bộ binh bắn máy bay bay thấp. Phát huy hỏa lực của các loại vũ khí trang bị PPK 57mm, 37mm, 23mm và súng máy phòng không 12,7mm được sử dụng đánh cả địch trên không và địch mặt đất, mặt nước. Riêng 2 trung đoàn phòng không 234 và 284 đã bắn cháy, bắn chìm 10 tàu chiến địch trên sông Đồng Nai.

Có được lực lượng mạnh về hoả lực, sung sức về sức đột phá, cơ động triển khai nhanh nhờ cơ giới…phải kể đến việc bảo đảm vận chuyển của bộ đội Trường Sơn trong 2 năm 1973 và 1974. Khối lượng hàng hoá chuyển vào chiến trường gấp 7 lần năm 1971-1972. Chỉ tính riêng tuyến đường ống xăng dầu cùng với hệ thống cột xăng cấp phát, xuyên qua hàng nghìn cây số núi rừng Trường Sơn, nhiều quãng phải vượt qua địa hình vô cùng hiểm trở – núi cao 700 mét… đã chi viện chiến lược, chuyển tải hơn 270.000 tấn xăng dầu đáp ứng yêu cầu vận tải cơ giới quy mô lớn, cơ động binh khí kỹ thuật cho các chiến trường và có dự trữ.

Đầu năm 1974, lực lượng bộ đội hợp thành trực thuộc Bộ  Tư lệnh Trường Sơn gồm 9 sư đoàn binh chủng (4 sư đoàn công binh, 2 sư đoàn ô tô  vận tải, 1 sư đoàn phòng không, 1 sư đoàn bộ  binh, 1 đoàn chuyên gia giúp bạn), 12 trung đoàn binh chủng cơ động và một sư đoàn cao xạ, một trung đoàn tên lửa do Bộ phối thuộc. Với 2 sư đoàn và 2 trung đoàn xe vận tải, toàn tuyến đã có hơn 10.000 xe vận tải các loại, cộng với hơn 1.500 xe-máy phục vụ các binh chủng. Tổng quân số kể cả lực lượng phối thuộc và thanh niên xung phong là 120.000 người.

Dự kiến ban đầu khối lượng vật chất mà bộ đội Trường Sơn vận chuyển chi viện cho các chiến trường trong mùa khô 1974-1975 là 510.000 tấn nhưng quá trình thực hiện đã lên tới 560.000 tấn. Ngoài hơn 4.500 xe – máy đã có, bộ đội Trường Sơn tiếp nhận hơn 5.500 xe máy do miền Bắc bổ sung, đưa tổng số xe máy toàn tuyến lên hơn 10.000 chiếc; trong đó có hơn 7.000 xe vận tải.

Nhớ lại những năm tháng đầu tiên chiến đấu cấp trung đoàn  ở Tây Nguyên, những năm 1965-1966, pháo cối, pháo 85 mm, đạn tính từng viên, lương thực thiếu, nhiều đơn vị phải phát nương tỉa bắp để tự nuôi nhau. Binh lực hạn hẹp đã chi phối rất lớn đến sức chiến đấu của các đơn vị.

Thắng lợi trên chiến trường, có sức đóng góp “thường xuyên quyết  định thắng lợi” của hậu phương. Mỗi đồng tiền, bát gạo, viên thuốc, khẩu súng, trái đạn pháo của nhân dân gửi vào chiến tường thực sự đã phát huy hiệu quả.

Chiến dịch giành thắng lợi, cán bộ chiến sĩ luôn ghi nhận có công sức rất lớn của lực lượng bảo đảm. Sau này số chiến lợi phẩm ta thu được như đạn pháo 105, xe cơ giới, xăng dầu, khiến ta càng đánh càng mạnh.

PHÙ VÂN

 

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: