Từ miền đất tổ nghĩ về kỷ niệm 30- 4:

Chiến tranh bao giờ cũng chỉ là khoảnh khắc

Thăm đền Hùng, Hồ Chủ tịch nói với các chiến sĩ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”

TTCN – Có mặt ở đền Thượng trên ngọn Nghĩa Lĩnh dự lễ giỗ Tổ năm nay ta mới cảm nhận được thời gian đổi thay nhanh hơn cả sức nghĩ của con người.
Trong khói hương nghi ngút, những lời cáo trang trọng trước bàn thờ Tổ của người thay mặt Nhà nước nói rất nhiều về nghĩa với tổ tiên, tình giữa đồng bào là những nhân tố đã và mãi mãi tạo nên sức mạnh đoàn kết truyền thống của dân tộc. Nhờ đó trải qua bao thử thách, quốc gia Việt Nam ta vẫn bền vững tựa “âu vàng” như ý nguyện của người xưa.

Đứng trên ngọn Nghĩa Lĩnh nhìn ra bốn phương tầm mắt mới chỉ cảm nhận được hình bóng của núi Tản sông Đà xuôi về cả lưu vực rộng lớn của sông Hồng, cái nôi của nền văn minh dân tộc. Nhưng ý thức thì vươn xa tới biển Đông mênh mông với những hải đảo xa xôi và hướng về phương Nam thăm thẳm dặm dài bàn chân của tổ tiên đi khai phá đã vượt sông Mã, sông Lam, sông Hương… và những dòng sông từ rặng Trường Sơn hay vùng cao nguyên Trung bộ đổ xuôi ra biển để rồi mở rộng ra cả lưu vực trù phú của chín nhánh sông Cửu Long, vươn tới tận cùng đất liền là mũi Cà Mau.

Rồi trên dặm trường ấy biết bao nhiêu lời gửi gắm của người xưa cho muôn đời qua những truyền thuyết hay trong sử sách. Từ câu chuyện đứa bé vươn mình thành Ông Thánh đánh giặc giữ nước, từ Mai An Tiêm tự lực khai phá xây đắp hạnh phúc cho đời, đến tập quán của những người đi mở cõi phương Nam để chức trưởng cho người ở nhà giữ đất Tổ, chỉ nhận làm anh Hai trấn giữ miền khai phá… Ngay đến cuộc phân tranh dài nhất trong lịch sử thì cả hai chúa Đàng Ngoài và Đàng Trong rồi đến cả người anh hùng áo vải Tây Sơn cũng đều giương cờ “phù Lê” để giữ trọn cơ đồ của tổ tiên…

Cho đến thời đại của thế kỷ 20 vừa qua, trước chính sách thâm hiểm “chia để trị” của chủ nghĩa thực dân, từ Phan Bội Châu đến Phan Châu Trinh đều hô hào “Trung Nam Bắc một nhà”, và Nguyễn Ái Quốc đã làm việc phải làm là đoàn kết ba tổ chức cộng sản ở ba miền làm một. Nền độc lập tạo dựng trên cơ sở một cuộc tổng khởi nghĩa của toàn dân. Một cuộc tổng khởi nghĩa giành lấy chính quyền dọc suốt từ Bắc chí Nam , mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương là không tốn nhiều xương máu, đã không có ông vua nào bị chặt đầu mà lại nguyện làm công dân một nước tự do…

Rồi toàn dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa lại buộc phải chấp nhận một cuộc chiến tranh chỉ vì mục tiêu thiêng liêng “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Biết bao kỳ tích mà nhân dân Việt Nam đã làm nên trong 30 năm chiến tranh khốc liệt đương đầu rồi đánh bại cả “hai đế quốc to”… để dẫn đến ngày 30-4-1975 lịch sử. Những người viết sử, và có thể cả nhiều thế hệ những người viết sử sau này, còn phải huy động nhiều công sức để làm cho thiên lịch sử của hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ngày một chân thực và phong phú hơn, nhưng lời kết đã được khẳng định ngay vào thời điểm cuộc kháng chiến trường kỳ 30 năm vừa kết thúc.

Khi quân giải phóng tiến vào dinh Độc Lập, một ai đó đã nói thay cho lịch sử: “Trong cuộc chiến này không có người Việt Nam thua, chỉ có đế quốc Mỹ là thất bại”. Bởi lẽ, với dân tộc Việt Nam, đánh và thắng giặc ngoại xâm là điều đã diễn ra nhiều lần trong lịch sử trường kỳ giữ nước. Nhưng với sự nghiệp dựng nước trường kỳ và vô cùng gian khổ, công cuộc mở mang bờ cõi, gầy dựng văn hiến, thống nhất quốc gia là một mục tiêu muôn thuở phải phấn đấu.

Hãy nhớ tới công sức khai mở của các chúa Nguyễn suốt mấy thế kỷ giữa cuộc phân tranh Trong – Ngoài, đến võ công hiển hách của Quang Trung Nguyễn Huệ đặt nền móng cho cuộc thống nhất quốc gia bằng việc đánh bại cả hai Chúa, diệt Xiêm và phá Thanh. Nhưng cái chết của người anh hùng làm dang dở sự nghiệp. Triều Nguyễn diệt nhà Tây Sơn nhưng cũng không để dở dang công cuộc thống nhất sơn hà để “Đại Nam nhất thống toàn đồ” vẽ cả dải “Vạn lý trường sa” trong vòng chủ quyền của dân tộc Việt Nam.

Nhưng rồi chính triều Nguyễn cũng không đủ sức chống trả ngoại xâm để đất nước lại rơi vào ách thuộc địa của thực dân Pháp… Và những gì thế kỷ 20 chứng kiến là một cuộc phục quốc mà đỉnh cao vinh quang nhất không chỉ là giành lại nền độc lập, đánh bại giặc ngoại xâm mà là hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh thiêng liêng của lịch sử, cùng là sứ mệnh của tổ tiên giao phó là hoàn chỉnh lãnh thổ của một nước Việt Nam thống nhất để trường tồn. Do đó, cao hơn một võ công, ý nghĩa lịch sử của ngày 30-4-1975 là đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.

Và có thể kể thêm về một khúc vĩ thanh của sự nghiệp ấy là cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới và chủ quyền của nước Việt Nam thống nhất diễn ra ngay sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thì điều đó chỉ làm sáng tỏ hơn cái chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra từ thực tiễn cách mạng của thế kỷ 20: “Không có gì quí hơn độc lập và tự do”.

Trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam ta, đã có biết bao võ công hiển hách từ Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa… cho đến Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhưng chiến tranh bao giờ cũng chỉ là khoảnh khắc của lịch sử. Sự trường tồn và phát triển của một quốc gia phải nhìn vào công cuộc dựng nước.

Bởi vậy, bài học lớn rút ra từ những chiến thắng vĩ đại của cuộc chiến tranh giữ nước không chỉ là những bài học cho chiến tranh. Quan trọng hơn phải là những bài học cho công cuộc xây dựng đất nước hòa bình. Và bài học muôn thuở vẫn là bài học đại đoàn kết để phát huy sức mạnh của dân tộc. Cái gì không còn phù hợp với mục tiêu đại đoàn kết ấy thì hãy để cho lịch sử lưu giữ và tôn vinh như một vinh quang của quá khứ…

Đến với đền Hùng ngày nay, câu nói của Bác Hồ “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước” đã được tạc vào đá trên bức phù điêu hoành tráng do các lực lượng vũ trang tiến tặng. Đó là câu nói của vị thống soái của cuộc chiến tranh giữ nước ngay sau chặng đầu đánh bại giặc Pháp, đang chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu mới vô cùng gian khổ nhằm “đánh cho Mỹ cút – ngụy nhào”. Giờ đây đã nửa thế kỷ qua rồi, có thể nói lời dạy của Bác “cùng nhau giữ lấy nước”, dân tộc ta đã hoàn thành trọn vẹn. Sự nghiệp giữ nước giờ đây phụ thuộc công cuộc dựng nước vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.

Đã đến lúc tất cả những ai là “con Lạc cháu Hồng” phải chung sức để kế nghiệp các vua Hùng tiếp tục sự nghiệp dựng nước bằng chính công cuộc không ngừng đổi mới. Đó mới là kế sách sâu rễ bền gốc.

DƯƠNG TRUNG QUỐC

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: