Những ngày tháng không quên

Đầu năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết định bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Các đơn vị quân, dân, chính, đảng từ ngoài Bắc tiếp tục được chi viện miền Nam để tiếp quản vùng mới giải phóng. Không khí những ngày này thật sôi động, phấn chấn. Khi ấy, tôi phụ trách quản lý hậu cần cơ quan tỉnh bộ Công an nhân dân vũ trang (CANDVT) Thái Bình .

Một ngày đầu tháng 4/1975, Chính ủy Lê Nguyên gọi tôi lên giao nhiệm vụ: “Bộ Tư lệnh cử đồng chí tham gia đoàn cán bộ CANDVT Thái Bình vào chi viện cho tỉnh Trà Vinh. Đồng chí phụ trách hậu cần cho đoàn quân chi viện. Đồng chí có ba ngày bàn giao công việc, thăm gia đình. Sáng ngày thứ tư có mặt theo đoàn hành quân”.

Tôi vội vã về Diêm Điền thăm gia đình rồi đưa con gái mới hai tuổi lên đơn vị chơi. Công việc bàn giao cũng thuận lợi. Tài sản, tài chính không thiếu thứ gì mà còn thừa hơn một tấn gạo. Các đồng chí lãnh đạo khen chưa bao giờ có việc bàn giao lại “đẹp” như thế. Ngay sau đó, tôi được thăng cấp từ Thượng sỹ lên Chuẩn úy, nhận nhiệm vụ phụ trách hậu cần, lo ăn uống, tài chính cho đoàn trên đường hành quân. Đoàn chúng tôi gồm 43 người. Hôm tôi đi, vợ tôi không về kịp. Tiễn tôi chỉ có cô em vợ, cô con gái nhỏ và nhiều bạn bè ở thị xã Thái Bình.

Mọi việc hoàn tất, đoàn trực chỉ phía Nam hành quân. Hết đường tàu hỏa chúng tôi chuyển sang ô tô. Cứ đến binh trạm là dừng lại ăn cơm và nhận thực phẩm khô. Đi cả ngày, lẫn đêm. Đến khuya, đoàn mới dừng chân, nghỉ tại chỗ mấy tiếng để cán bộ, chiến sỹ ngủ. Mọi người túa ra ven đường tìm chỗ tranh thủ ngả lưng. Tôi chứng kiến giây phút xúc động khi qua cầu Hiền Lương lịch sử. Thời gian này, một mũi quân ta đang tạm dừng ở phòng tuyến Xuân Lộc. Dọc đường đi, chúng tôi chứng kiến xe cộ, quân trang, quân dụng của địch vứt bừa bãi trên đường.

Ngày 27-4-1975, chúng tôi tập kết tại Trảng Bom (Đồng Nai). Vùng này vừa giải phóng, mùi khét lẹt của bom đạn vẫn chưa bay hết. Phía Sài Gòn, pháo đạn còn nổ ùng oàng. Một tuần liền, chúng tôi lập trại trong rừng cao su. Được nghe kể lại, nơi này đa phần là bà con giáo dân ngoài Bắc di cư. Trong trận chiến mấy bữa trước, bọn địch dựa vào các nhà thờ chống trả quyết liệt. Hai xe tăng T.54 và nhiều chiến sỹ ta đã hy sinh tại đây.

Ngày 5-5-1975, đoàn chúng tôi tiến thẳng vào Tổng nha Cảnh sát Quốc gia Sài Gòn qua cổng đối diện Ngã Sáu Cộng Hòa. Sài Gòn mới trải qua cuộc chiến nhưng không giấu được vẻ phồn hoa. Các công trình xây dựng không bị hư hại bao nhiêu. Đoàn ở đây hai ngày, ba đêm. Chúng tôi có dịp ngắm vài con phố quanh nơi đóng quân. Anh em có dịp đọc các báo, tạp chí của chế độ cũ chất đầy trong căn cứ của Tổng nha Cảnh sát ngụy. Nhiều tạp chí có hình ảnh sex làm anh em thấy lạ và ngượng.

Sáng 8-5-1975, Đoàn chúng tôi được lệnh xuống miền Tây Nam bộ, bảo vệ thành phố Cần Thơ, đề phòng địch phản kích. Đoàn ở trụ sở Sở An ninh Tây Nam bộ (Cần Thơ) một đêm rồi chuyển ra đóng quân ở ấp Đầu Sấu, thuộc huyện Cái Răng. Tôi và một sĩ quan nữa được phân công ở nhà má Năm. Gia đình má gồm 8 người, đều rất tình cảm với tôi. Hai ông bà rất hiền. Má Năm nhận tôi là con nuôi. Cô Tư hay… nhìn trộm tôi.

Hai tháng đóng quân ở Đầu Sấu, bà con Nam Bộ rất hiểu và yêu quý bộ đội miền Bắc. Trái cây, quà bánh, bà con thường xuyên dành cho anh em. Má Năm thấy tôi thích ăn cá lóc kho dừa, nên hay làm và trìu mến nhìn tôi ăn ngon lành. Đầu Sấu là cù lao trên sông nên chiều chiều thanh niên nam nữ cùng bộ đội tụ tập hát hò rất vui vẻ. Những tối sáng trăng, chúng tôi chèo ghe dọc sông thật thơ mộng. Có khi lại rủ nhau cả bầy sang Thị Trấn Cái Răng ăn hủ tiếu Nam Vang. Tình cảm quân dân gắn bó, khi chúng tôi đi, bà con khóc, ai cũng đỏ hoe đôi mắt.

Đầu tháng 7-1975, chúng tôi về Trà Vinh. Đây là một tỉnh nghèo của Tây Nam bộ, nằm sát biển (giáp Bến Tre, Sóc Trăng và Vĩnh Long). Sau này Trà Vinh nhập với Vĩnh Long thành tỉnh Vĩnh Trà. Tỉnh có đặc điểm là nhiều bà con người dân tộc KhơMe.

Đoàn tiếp quản căn cứ của lực luợng cảnh sát dã chiến nguỵ. Khu căn cứ nhìn thật thảm hại. Một ngôi nhà kiến trúc kiểu gôtic cũ kỹ, ba dãy nhà lợp tôn bao quanh, nóng như rang, trống trơn. Chẳng có bất cứ một thứ tài sản gì. Anh em phải trải chiếu nằm dưới đất. Đoàn nhập với lực lượng an ninh vũ trang Trà Vinh, mới từ trong rừng ra. Đơn vị được thành lập với tên gọi mới: CANDVT Trà Vinh. Tôi được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Hậu cần. Từ đó, dưới sự chỉ đạo của trên, chúng tôi triển khai các đồn biên phòng bờ biển, trung đội cơ động. Riêng tôi và phòng Hậu cần tích cực lo nơi ăn, chốn ở, tài sản, tài chính cho cơ quan và các đơn vị trực thuộc. Cuối năm 1975, mọi việc đã đi vào nền nếp…

Từ đó về sau, cứ mỗi dịp kỷ niệm giải phóng miền Nam, tôi lại rưng rưng nhớ lại những ngày đầu năm 1975 ấy. Những tháng ngày không thể nào quên trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

Nguyễn Đức Đát

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: