Tường trình từ Sài Gòn tháng 4-1975 (Kỳ cuối)

Bản tin 30-4

TT – Chúng tôi lái xe tới Đại sứ quán Mỹ. Chúng tôi lên nóc đại sứ quán phát hiện gần 100 người Việt vẫn ngồi ở đó chờ đợi. Họ định ở lại đó tới khi những chiếc trực thăng quay trở lại đón và tôi không nỡ lòng nào nói với họ rằng tất cả đã kết thúc. Chúng tôi trở lại văn phòng AP. Bên trong, George Esper đang điều hành việc truyền tin radio từ Sài Gòn.

Xe tăng quân giải phóng trên đường phố Sài Gòn ngày 30-4-1975- Ảnh tư liệu

>> Kỳ 1: Bắt đầu của kết thúc
>> Kỳ 2: “Thổi tung”
>> Kỳ 3: Cuộc rút lui cuối cùng
>> Kỳ 4: Ở lại để viết

Đã kết thúc rồi

Ngay sau đó, người phiên dịch thét lên từ phòng vô tuyến: tổng thống Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Esper đánh máy bản tin và nhanh chóng đưa nó cho người đánh máy in telex. Câu chuyện là bằng chứng cụ thể với thế giới rằng chiến tranh đã kết thúc. Trụ sở AP nhanh chóng gửi cho chúng tôi thông điệp rằng bản tin đầu hàng của chúng tôi đến trước năm phút so với của Hãng thông tấn UPI, cho thấy trong khi các cuộc chiến có thể bắt đầu và kết thúc và những người lãnh đạo dựng lên hoặc sụp đổ thì người quyết định quan trọng duy nhất trong kinh doanh tin tức chính là người đầu tiên có câu chuyện.

Esper rất vui với chiến công của mình, đứng dậy, dang tay và tuyên bố anh ta sẽ đi xuống đường xem chuyện gì đang diễn ra. Anh ta ngồi tại bàn đã bốn ngày liên tục và tôi chúc anh ta may mắn, nhưng anh ta chạy trở lại máy đánh chữ chỉ trong vòng năm phút, mặt xám ngắt.

Trong khi băng qua quảng trường Lam Sơn, một trung tá cảnh sát người Việt trong bộ quân phục trang trọng bắt chuyện anh ta và lắp bắp với vốn tiếng Anh lắp ráp “Đã kết thúc rồi” trước khi bước khoảng mười bước, thể hiện khuôn mặt sắc lạnh, nói tạm biệt, sau đó giơ khẩu súng lục 4.5 li bắn vào đầu mình. Trong một khoảnh khắc Esper đã nghĩ viên đạn đó dành cho mình và anh ta viết câu chuyện xảy ra với đôi tay vẫn còn run sợ.

Matt Franjola bước vào phòng và tuyên bố đơn giản: “Dù sao họ đã ở đây”. Tôi nhìn lên và hỏi anh ta: “Ai ở đây?”, anh ta đáp lại: “Việt cộng. Tôi đang lái xe ra phía sau Đại sứ quán Anh thì một chiếc xe jeep màu đen đi tới cùng một người ngồi trên nóc mặc sơmi trắng, quần đen và đi giày. Anh ta mang theo khẩu AK-47 và thét với tôi bằng tiếng Anh: “Mọi người về nhà”. Họ đang vẫy cờ Việt cộng”. Tôi xem đồng hồ của mình: 11 giờ 25 trưa. Tôi đi ra ngoài xem xét tình hình.

Băngrôn Việt cộng màu xanh da trời và xanh lá cây lớn bất ngờ được kéo lên ở cột cờ của khách sạn Caravelle. Nhân viên ở đó chắc đã bí mật khâu nó trong một tuần. Về lại văn phòng, tôi ra hiệu lấy giấy và đánh bản tin bắt đầu bằng: “Sài Gòn, 30-4. Quân giải phóng chiếm đóng Sài Gòn một cách thanh bình ngày hôm nay, họ hành quân trên những đại lộ đầy cây bên đường trên những xe tải của Nga cùng cờ bay phấp phới. Người dân Sài Gòn đứng chứng kiến hai bên đường. Không một tiếng súng nổ”.

Tôi lảo đảo về phía phòng máy in telex, nhét trang giấy cho người điều hành máy telex. Anh ta đọc bản tin, há hốc mồm và cố gắng trốn khỏi căn phòng. Sau đó anh ta biến mất khỏi cửa văn phòng và ra đi trong nhiều ngày.

“Ngày 30-4-1975, hai người lính Bắc Việt vào văn phòng AP nơi Matt Franjola (bìa trái), George Esper (người thứ hai từ bên phải) và tôi đang làm tin. Họ chỉ cho chúng tôi con đường mà họ tiến vào thành phố và chia sẻ đồ uống, bánh với chúng tôi”-Ảnh tư liệu

Về nhà

Franjola và tôi xuống đường một lần nữa, nhìn thấy những xe tải của Nga trên đường Tự Do với số lượng lớn. Mọi người đổ ra bên đường, nỗi sợ hãi về một thảm kịch tức thời đã biến mất. Tay quay phim người Úc Neil Davis tiến lại phía tôi ở đường Pasteur từ dinh tổng thống. Anh ta ở đó một phút trước khi một xe tăng quân giải phóng đâm qua cửa chính bằng sắt. Anh ta nói đội quân nhảy xuống và đi lên ban công tầng trên, nơi họ giương một băngrôn lớn của Việt cộng.

Tôi trở lại văn phòng nói cho Esper biết điều này thì tiếng súng dữ dội nổ ra ngay ngoài cửa sổ của chúng tôi. Một nhóm quân giải phóng bò qua những bụi cây trong công viên ở phía dưới chúng tôi tiến về phía tòa thị chính, nơi một số lính phòng thủ đang yếu ớt chống trả. Quân giải phóng đang yểm trợ nhau khi họ di chuyển nhanh về phía trước gần tới tòa nhà và sau đó tiến nhanh.

Chiếc máy telex vẫn kêu chiều đó khi tôi trở lại văn phòng, Esper nói rằng tôi nên viết một câu chuyện trình bày cảm nghĩ của tôi. Tôi bắt đầu: “Trong 13 năm viết về chiến tranh VN, tôi chưa bao giờ nghĩ nó kết thúc theo cách như buổi chiều hôm nay. Tôi nghĩ rằng nó có thể kết thúc bằng một cuộc thanh toán chính trị giống như ở Lào. Thậm chí một trận đánh sinh tử với thành phố còn lại trong tàn phá”.

Tôi gõ chiếc máy chuyển tin, nó cuộn vào máy nên tôi đánh lại nhưng chiếc máy kẹt đôi lần và ngừng hẳn. Tôi thử lại các phím một lần nữa nhưng không có tín hiệu gì. Chỉ vài phút sau 7 giờ tối, chế độ mới đã cắt thông tin liên lạc của chúng tôi với thế giới, hệ thống cung cấp tin từ Sài Gòn bị vô hiệu hóa. Esper, Franjola và tôi rời văn phòng, đi bộ về khách sạn Caravelle. Một số lượng lớn nhà báo châu Âu ở lại. Hằng đêm nhiều người trong chúng tôi tụ tập ở phòng ăn khách sạn Caravelle để trao đổi thông tin, bây giờ thì không còn cạnh tranh nữa vì mọi liên lạc đã bị cắt.

Hầu hết chúng tôi được dành hai ngày để khởi hành. Sau 25 ngày sống dưới chế độ mới, chúng tôi lên xe buýt cho chuyến đi cuối cùng tới sân bay Tân Sơn Nhất và bay tới Vientiane (Lào), sau đó về nhà. Những người lính trẻ VN lục soát hành lý của chúng tôi một cách lịch sự. Có 82 người chúng tôi leo lên chiếc máy bay của Nga có cờ đỏ sao vàng sơn ở đuôi máy bay. Chúng tôi ra khỏi đường băng đi qua những tàn tích của trực thăng vận và máy bay chiến đấu. Khi máy bay cất cánh, lời reo vang ở khoang hành khách. Tôi chuyền cho mọi người cùng uống chai Johnnie Walker đen mà tôi đã kiếm được từ văn phòng của đại sứ New Zealand.

PETER ARNETT
(PHẠM HẢI CHUNG dịch)

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: