Những người ở bên kia chiến tuyến

Ký ức 30/4 từ các chứng nhân lịch sử – Kỳ II

Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn – “Thất bại của tình báo Mỹ” trong chiến tranh VN

Khi còn sống luôn ẩn mình, kín đáo, dù những gì ông làm trong cuộc đời là những chiến tích không thể nói hết ý nghĩa đối với sự nghiệp độc lập, hoà bình, thống nhất đất nước. Chỉ đến khi ông mất, mọi người thông qua các bài báo, tác phẩm văn học, lời kể của những đồng đội và cả đối phương mới thấy được sự cống hiến to lớn của ông đối với Tổ quốc, với lý tưởng đã chọn. Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn (được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang), một nhà tình báo được ngay cả đối thủ là CIA Mỹ thán phục và công nhận: “Ông chính là thất bại lớn nhất của tình báo Mỹ trong chiến tranh Việt Nam”. Suốt mấy mươi năm ẩn thân trong vỏ bọc phóng viên thường trú Times ở Sài Gòn cho tới năm1976, khi văn phòng này tạm ngưng hoạt động ở Việt Nam.

Không những hoàn thành vai trò nhà báo xuất sắc được đồng nghiệp thế giới nể trọng, mà ông còn hoàn thành nhiệm vụ của nhà tình báo chiến lược một cách hoàn hảo. Ông đã góp phần để các nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến có những quyết sách chính xác trong chiến lược, chiến thuật đưa đến sự thành công: chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, thống nhất toàn vẹn đất nước.

Tôi đã có một cuộc nói chuyện với ông trong chuyến viếng thăm gia đình, những tưởng chỉ là dạo đầu để chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn chính thức cho ngày 30/4 năm nay… Không ngờ, đó là cuộc nói chuyện cuối cùng với ông về ngày đó. Một nén nhang gửi hương hồn ông – Và xin được ghi ra đây đôi dòng suy nghĩ của ông về cái khoảnh khắc đáng nhớ đó của chiến tranh.

Ông Phạm Xuân Ẩn và tấm thẻ nhà báo. (Ảnh: Internet)

“Với tôi, khi xác định được mục tiêu, lý tưởng và nhiệm vụ của mình thì điều đầu tiên nghĩ đến phải là hoàn thành và bằng mọi cách hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có việc bảo toàn cá nhân mình. Tôi đã được biết trước những gì sắp đến – nhưng không rõ sẽ vào lúc nào một cách chính xác, nên khi nó tới, khi lá cờ Quân Giải phóng bay phấp phới trên Dinh Độc Lập, tôi vui – niềm vui vì mình đã hoàn thành nhiệm vụ, song không bất ngờ.

Nhưng vào cái giờ phút đó, tôi lo lắng không biết điều gì sẽ xảy ra. Liệu có một cuộc nổ súng trên đường phố? Bạn bè tôi, số phận sẽ thế nào? Vâng! Đây là bạn bè báo chí phương Tây, bạn bè trong chính quyền Sài Gòn, là người dân Sài Gòn. Lúc đó, tôi đang giữ một vai trò ở Times. Tôi phải tự mình chạy khắp nơi trong thành phố lấy tin, làm tin đưa về tòa báo sao cho thông tin trung thực, và để cho thế giới biết chiến thắng của ta, hòa bình thật sự, không có tàn sát, cướp bóc, hỗn loạn…

Điều tôi xúc động lại chính là hình ảnh những người lính chính quyền Sài Gòn, áo trận xốc xếch, súng ống quăng khắp nơi, bơ phờ, thất thần, tuyệt vọng; hoàn toàn trái ngược với những người lính Giải phóng quân – áo quần bê bết bùn đất, mặt mũi sạm đen thuốc súng, song ánh mắt lấp lánh, ngời ngời niềm vui tỏa ra.

Niềm vui thật sự của tôi đêm ấy, 30/4/1975, Sài Gòn không còn tiếng súng đạn, điện nước vẫn bình thường, dân tình bình yên… Kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài mấy mươi năm mà như thế… chỉ có Việt Nam.

Có một tin đồn “Việt Cộng lột móng tay mấy cô Sở Mỹ” nhưng đêm đó tôi tới Hạ Nghị Viện (Nhà hát TP.HCM bây giờ) thấy các cô “Sở Mỹ” đang may cờ quân Giải phóng và cờ đỏ sao vàng kịp ngày hôm sau làm mít-tinh mừng chiến thắng. Móng tay các cô sơn đỏ chót, chỉ khác là mặc áo bà ba. Các cô cười bẽn lẽn: “Mấy anh Giải phóng khen con gái Sài Gòn đẹp, không ai ghét bỏ gì”.

Tôi cũng sợ chứ, vì lúc đó trên danh nghĩa tôi vẫn là một nhà báo của phía bên kia, có thể hứng một viên đạn. Nhưng chỉ một thoáng qua, khi quân Giải phóng vào thành phố, tôi thấy cuộc đời thật đẹp.

Tôi đã sống, đi qua hai cuộc kháng chiến chống (hết Pháp lại đến Mỹ), đã hoàn thành nhiệm vụ và sống được đến ngày chiến thắng. Có chết cũng vui và thanh thản. Cho đến hôm nay tôi hoàn toàn bình yên vì nhiệm vụ đã xong”.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu HạnhHoàn thành chữ “tín” với cách mạng

Nguyên là Chuẩn tướng, phụ tá Tổng thống (TT) Dương Văn Minh , Trợ lý Tổng Tham mưu trưởng Chính quyền Sài Gòn nhưng ông lại là nhân vật rất đặc biệt, “nội ứng” của quân cách mạng được xây dựng qua đường binh vận. Sau này, ông là nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết “Viên phụ tá Tổng thống” của Hà Bình Nhưỡng và bộ phim tài liệu “Khoảnh khắc đời người” của Đài truyền hình TP.HCM.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh. (Theo TS)

Rất hào hứng nhưng cũng rất khiêm nhường, ông kể lại khoảnh khắc Chiến tranh và Hòa bình… Khoảnh khắc ông hồi hộp đợi chờ với bao cảm xúc. Ông cười rất chân thành: Tôi kể với cô ở vị trí người phía “bên kia“.

“Đêm 29/4/1975, tôi từ Bộ Tổng Tham mưu đi cùng với Tướng Nguyễn Hữu Có đến nhà TT Dương Văn Minh họp bàn kế hoạch hòa hoãn với quân Giải phóng. Song chẳng bàn được gì vì mọi việc diễn ra quá thần tốc. Lúc đó, duy nhất tôi nghĩ, hãy đừng để tình hình quá xấu cho đỡ sự hy sinh mất mát cả hai phía đây cũng là cơ hội cuối cùng cho tôi hoàn thành ý nguyện cách mạng giao cho.

Trước đó, tôi từ Cần Thơ lên, Tướng Chức cho một chiếc xe Jeep, nhưng sáng sau thì cả xe lẫn người biến mất. Tôi lên chiếc xe lạ, chẳng biết của ai, lái xe cũng lạ, đến Đài phát thanh, thay mặt Tổng thống, Tổng Tham mưu trưởng trấn an tinh thần binh lính, kêu gọi quân đội buông súng giao lại cho quân giải phóng. Cuộn băng này, khi tiếp quản thành phố không hiểu sao mất – chỉ còn phần tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh. Rất may ông Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó là Mười Kỷ đã thu được qua đài phát thanh gửi lại cho tôi. Tôi vẫn giữ đến giờ.

(Lời kêu gọi binh sĩ hạ vũ khí trong hòa bình của Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, bấm vào đây )

Khi quay trở về Dinh Độc Lập, tôi mới chợt giật mình. Sợ chứ! Lúc đó lộn xộn, tôi mặc quân phục đầy đủ lon sao, không ai hộ tống ngoài người lái xe lạ hoắc. Một viên đạn lạc, một viên đạn chủ ý…

Tôi đã hít thở sâu, cố trấn tĩnh mình khi chuẩn bị đón tiếp quân Giải phóng. Tiếng gầm rú của xe tăng và vị chỉ huy Quân Giải phóng xuất hiện, lấm lem bụi đỏ thuốc súng, mắt sáng, rất nghiêm và cũng rất đĩnh đạc (sau này tôi biết đó là Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó chỉ huy xe tăng) cuối cùng đã đến. Tôi đã hướng dẫn vị chỉ huy vào phòng khánh tiết. Tất cả nội các chính quyền Sài Gòn đã ở đó. Việc gì sau đấy mọi người đã biết. Tổng thống đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện”.

Sau đó, ông Nguyễn Hữu Có nói tôi về nhà ông, nhưng tôi ở lại. Tôi không thể nói rõ cho họ biết vì tôi “đợi” người của “bên mình”. Nếu lúc đó trường hợp xấu xảy ra – có thể, vì người bảo đảm cho tôi không biết đang ở đâu, tôi vẫn vui vì đã hoàn thành chữ “tín” với cách mạng, góp một chút sức lực nhỏ nhoi vào sự nghiệp chung, như hành động “lập công chuộc tội”.

Quan sát những người lính giải phóng – Họ là đội quân có kỷ luật, nhưng họ không gắt gao, lịch sự đúng mức. Tôi khâm phục cách ứng xử, hành xử của họ vào thời điểm mà bất cứ điều bất trắc nào cũng có thể xảy ra. Nó còn được chứng minh rõ ràng. Thành phố ngày đầu hòa bình không cướp bóc, xáo trộn, người dân vui vẻ đổ ra đường đón chào quân giải phóng, điện nước và cả Đài phát thanh truyền hình vẫn có, nhưng thay đổi “chủ nhân”.

Vâng, 32 năm đã qua… là kỷ niệm, dấu ấn cuộc đời. Tôi rất mãn nguyện. Tôi được sống trong tình cảm bạn bè, người thân, cả những người đã tạo điều kiện cho tôi được sống như một người dân Việt chân chính.

Ông Nguyễn Hữu Có: “Tôi tin vào những điều tốt lành”

Nguyên Trung tướng, Tổng tham mưu trưởng, Phó Thủ tướng thời TT Nguyễn Văn Thiệu, cố vấn Tổng tham mưu trưởng thời TT Dương Văn Minh, hiện là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc TP.HCM, 83 tuổi.

Rất vui vẻ, nhiệt tình, giọng nói khỏe không một câu vấp, từng chi tiết nhỏ vẫn được nhớ đến cả chuyện từ hồi ở trong đội Pháp ở miền Bắc, trong Điện Biên Phủ…

“Ngày 30/4/1975, “kết thúc cuộc đời binh nghiệp của tôi” – Ông nói vui – Vâng. Đó là một ngày dài.

Cờ hoa rực rỡ trong ngày vui chiến thắng. (Ảnh: theo baotanghcm)

Bất ngờ thì không! Trước đó những thông tin Buôn Mê Thuột, Bình Long, Phước Long, Đồng Xoài thất thủ, tôi đã đoán điều gì sẽ xảy ra. Lo lắng cho nó đến Sài Gòn. Chỉ kì lạ là thái độ của các vị trong nội các TT Dương Văn Minh, mỗi lần gặp, họ vỗ tay hoan hô tôi… không có gì là Sài Gòn sắp mất, là chiến sự căng thẳng. Hóa ra là ông Đại sứ Pháp hứa liên lạc với Trung Quốc, để giúp ảnh hưởng quân cách mạng hai bên ngồi đàm phán kết thúc chiến tranh. Tôi hồi đó là “người của Pháp”.

Ngày 30/4/1975, tôi thật sự lo lắng, gọi cho Tướng Lê Minh Đảo ở Biên Hòa, tướng Đảo buồn rầu – lính đào ngũ hết, không giữ nổi, xe tăng quân giải phóng đã xuất hiện. Gọi cho Trung tâm huấn luyện Quang Trung, để giữ đài phát xạ bảo đảm liên lạc, Trưởng trung tâm hốt hoảng – “Tôi đã thấy đặc đường quân giải phóng, lo mạng chưa xong”.

Gọi xuống Cần Thơ, Tướng Tư lệnh Quân đoàn 4 miền Tây cho biết, quân số đầy đủ, sẵn sàng chiến đấu. Vâng, nhưng mọi việc quá thần tốc, chớp mắt tôi thấy lá cờ Quân Giải phóng bay trên nóc Dinh, đường phố rợp cờ đỏ. Lúc đó tôi buồn bã và lo cho số phận của tôi và các bạn bè đồng ngũ trong chính quyền Sài Gòn – Không biết ngày mai ra sao.

Tôi cũng đã chuẩn bị cho gia đình di tản, nhưng cuối cùng, ngày 29/4, gia đình tôi “di tản” vào Chợ Lớn, vì nhà tôi ngay trên con đường vào thành phố của quân giải phóng. Sau đó tôi đi học tập ngoài Bắc, khi về, các con tôi và tôi cùng ở lại làm công dân thành phố Hồ Chí Minh, 12 người con cả trai cả gái, một bà vợ với hơn 55 năm “đầu gối tay ấp chia ngọt sẻ bùi”.

Sau lúc ông Minh đọc lời tuyên bố, không chỉ tôi và nhiều người khác như trút được gánh nặng. Thời điểm đó, cũng có nhiều ý kiến – Đưa ông Minh về miền Tây, rồi tổ chức đánh tiếp – Quân dưới đó còn nguyên. Nhưng, như thế lại tiếp tục đổ máu, chết chóc và rồi được cái gì? Cũng người Việt đánh người Việt – Ông Minh nói, Sài Gòn ít quân, nhưng dân nhiều, đánh nữa thì tan nát cả thành phố. Chúng ta phải thuyết phục, trong hòa bình… Ban đầu ông không chịu chữ “đầu hàng”.

Nhưng rồi… Cảm giác buồn lúc đó cũng thật khó diễn tả – Tôi là tướng trận, nhìn binh lính Sài Gòn thất thần, hoảng loạn, vũ khí quăng bừa bãi, nhếch nhác sợ sệt, yếu đuối trong khi quân Giải phóng mang vẻ lạc quan, tự tin dù rất trẻ, có người chừng 18-20 tuổi. Đêm đó, nỗi lo trong tôi gần như không còn. Đêm hòa bình thật sự, cả thành phố sáng đèn, không tiếng súng, lại còn nghe “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn phát trên sóng phát thanh. Tôi tin vào những điều tốt đẹp”.

Ông kết thúc câu chuyện: “Ngày hôm nay, tôi hạnh phúc. Tôi được hàng xóm gọi “Bác Ba, Ông Ba”, tôi ra ngoài Bắc được cả những tướng lĩnh “đối thủ” ngày xưa đón tiếp nồng hậu, giữa chúng tôi là bạn bè, lâu lâu gặp lại kể chuyện ngày xưa “mi” – “ta” từng đánh nhau…”. Rồi cười thật vui sảng khoái: “32 năm, xa quá rồi, nghĩ đến hôm nay và tương lai thôi”.

&&&

32 năm! Chiến tranh đã lùi xa… 18 đời vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh. Máu và nước mắt để cho một Việt Nam đời đời trường tồn vững mạnh trong hòa bình ấm no hạnh phúc.

“Ngày đi như trong đêm mơ, tuổi lớn rồi mà như ngây thơ. Ôi ta đang đi, đi giữa rừng hoa hay đi giữa chốn rừng cờ”.…

(Nghe bài “Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh” của nhạc sĩ Xuân Hồng, tại đây).

Hoài Hương (thực hiện)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: