Những người đầu tiên vào dinh Độc Lập

– Hơn 30 năm, Tổ quốc thống nhất, đất nước hoà bình, cả dân tộc Việt Nam đang đi về phía trước, nhưng cảm xúc về những khoảnh khắc cuối cùng của chiến tranh vẫn tràn chảy trong ký ức những chứng nhân lịch sử. Họ gửi đến Thư Hà Nội niềm tự hào được ở trong số ít người có mặt ở dinh Độc lập trong thời điểm lịch sử, trưa 30/4/1975, cùng niềm vui đang được sống trong “vòng tay lớn” của gia đình, bạn bè, những người người thân thương trên quê hương yêu dấu.

Cảm xúc vỡ òa của một niềm vui trông đợi không phải của 30 năm, 100 năm, 1.000 năm mà là của cả dân tộc 4.000 năm dồn lại. Không còn chiến tranh, không còn chia cắt. Non sông liền một dải. Bắc – Nam sum họp. Hòa Bình – hai chữ thiêng liêng của mơ ước ngàn đời đã thành sự thật.

Nhiều người được chứng kiến giờ phút lịch sử ấy đang sống, họ vẫn còn nhớ những gì đã xảy ra 32 năm về trước, bồi hồi kể lại trong bức thư này….

(Nghe bài hát “Nối vòng tay lớn” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tại đây )

Ký ức 30/4 từ các chứng nhân lịch sử – Kỳ I

Đại tá Bùi Quang Thận: Người cắm cờ chiến thắng

Ngày đó, ông là Trung úy, Đại đội trưởng, ngồi trên xe tăng số 843, thuộc Lữ 203, Quân đoàn 2, xông thẳng vào Dinh Độc Lập. Ôm lá cờ Quân giải phóng chạy lên nóc Dinh, hạ lá cờ ba sọc – biểu tượng của Chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Cách mạng lên; báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đánh dấu khoảnh khắc cuối cùng của chiến tranh. Lúc đó là 10h30 giờ Sài Gòn – 11h30 giờ Hà Nội ngày 30/4/1975.

Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập. (Theo vi.wikipedia.org)

Một ngày tháng Tư, trong hơi lạnh của đợt gió mùa Đông Bắc cuối mùa trên quê lúa Thái Bình, chúng tôi gặp lại ông. Giọng hơi khàn, ông nói bị ốm do thời tiết nóng – lạnh thất thường, ”nhưng không quật ngã được người lính này đâu cô ạ”. Vì thế, dù khàn giọng, nhưng vẫn cảm được niềm vui qua từng câu chữ, ông chậm rãi kể:

Vào chiến dịch, ai cũng hiểu đây là trận quyết chiến cuối cùng, nhưng không ai nghĩ mình là người cắm cờ chiến thắng. Cho đến khi chiếc xe tăng của tôi vượt lên một chiếc khác đang bị kẹt ở cánh cửa Dinh, nhìn lên nóc tòa nhà thấy lá cờ ba sọc bay, tôi chỉ nghĩ làm sao hạ lá cờ này càng nhanh càng tốt.

Không nghĩ đến những nguy hiểm đang rình rập nơi hang ổ này, cũng không nghĩ tới việc mình chẳng biết đường lên. May mà vừa leo tới chân cầu thang, có một người đàn ông (có lẽ là cơ sở nội đô) dắt tôi đi.

Khi kéo lá cờ lên, ngước nhìn ngọn cờ chiến thắng nửa xanh nửa đỏ tung bay trong nắng gió, nhìn xuống dưới thấy 3 phía xe tăng ta và các đơn vị bộ binh đang áp sát về phía Dinh, chợt trào nước mắt vì niềm hạnh phúc quá lớn.

Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một người lính chiến đấu vì Tổ quốc, trên hết tôi được thay mặt tất cả những đồng đội, đồng chí đã ngã xuống, đang cùng tôi chiến đấu, cắm lá cờ chiến thắng báo hiệu giờ phút lịch sử – Hòa bình trên Tổ quốc Việt Nam.

Giờ phút hòa bình đầu tiên, tôi và tất cả những người lính lúc đó duy nhất một ý nghĩ – được về nhà gặp bố, mẹ, vợ, con… Đơn giản lắm, nhưng là máu thịt của bao người đổ xuống, nên nó là ước mơ, nguyện vọng vô giá đối với người lính khi được hưởng giây phút đầu tiên của Hòa bình.

Nói thêm một chút, ước mơ đó phải tới cuối năm 1976 ông mới thực hiện được. Nhưng bù lại, khi đơn vị chuyển quân vào Phú Bài – Huế, vợ ông đã lặn lội đường xa vượt sông, vượt đèo vào thăm chồng và cô con gái đầu lòng ra đời mang tên Huế là niềm hạnh phúc của ông – người lính cụ Hồ.

Trung tướng Phạm Xuân Thệ và cuộc đối thoại cuối cùng của chiến tranh
Tư lệnh Quân khu I, 32 năm trước, ông là Trung đoàn phó, E66, F304, Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang). Ông là một trong những người đầu tiên vào phòng họp trong Dinh Độc Lập, bắt gọn toàn bộ nội các Chính quyền Sài Gòn – 42 người. Sau đó đưa Tổng thống (TT) Dương Văn Minh đến Đài phát thanh.

Trung tướng Phạm Xuân Thệ. (Ảnh: theo Sài Gòn giải phóng)

Trong phòng khách sang trọng nhưng ấm cúng và đầy chất lính của Quân khu, trong một chiều đẹp như thơ miền trung du của “Thủ đô gió ngàn Việt Bắc”, 58 tuổi, vị tướng trận vẫn giữ nguyên vẻ nhanh nhẹn, tinh anh, hào khí dũng tướng như thời trai trẻ chinh chiến khắp các chiến trường. Vẫn không kìm chế được sự xúc động, ông kể lại kỷ niệm sâu sắc nhất vào ngày giờ ấy – “Cuộc đối thoại cuối cùng của chiến tranh”, tôi đặt tên cho câu chuyện của ông như vậy.

Khi xe chúng tôi do chiến sĩ Đào Ngọc Vân lái lách đến chân cầu thang, tôi gặp một người đàn ông, áo quần lễ phục chỉn chu, rất trịnh trọng nhưng gương mặt hơi căng thẳng lo lắng: ”Báo cáo Chỉ huy Quân giải phóng. Tôi – Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh – Phụ tá TT Dương Văn Minh. Toàn bộ chúng tôi đợi các ông ở phòng khánh tiết!”…

Tôi đến cửa, toàn bộ nội các của họ đứng dậy chào. Vẻ mặt ai cũng bồn chồn lo lắng, có người lúng túng sợ sệt. TT Dương Văn Minh chậm rãi: “Biết Quân giải phóng đã vào thành phố, nội các chúng tôi đang chờ các ông để bàn giao”.

Tôi nói dõng dạc: “Các ông phải đầu hàng vô điều kiện. Yêu cầu tất cả xếp hàng đôi ra khỏi ngôi nhà này”.

TT Dương Văn Minh khẩn khoản: “Chúng tôi xin được ở đây. Ra ngoài bây giờ không an toàn”. Tôi trả lời: “Các ông phải ra Đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện…”.

Sau đó, chúng tôi đưa ông ra Đài phát thanh….

13h20 – giờ Hà Nội, TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Bản tin này được tất cả các đài, các hãng thông tấn báo chí thế giới chính thức đưa tin.

30/4/1975 là một niềm hạnh phúc kì diệu trong cuộc đời binh nghiệp của tôi – Tôi không ngờ mình lại là người ở trong sự kiện lịch sử đó. Ước nguyện cháy bỏng lúc đó – như tất cả người lính, được về gặp bố, mẹ, vợ và có một đứa con… Nhưng phải tới 8 tháng sau tôi mới được về nhà – vì còn phải tiếp tục đi đánh tàn quân Fulro ở Tây Nguyên.

Nhà báo, TS Đậu Ngọc Đản: Hết chiến tranh, khoảng cách thật gần

32 năm qua, nhưng cảm xúc và những hình ảnh của giờ khắc ấy vẫn đậm dấu trong anh. Ngày đó anh là một nhà báo trẻ, phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Việt Nam.

Một giọng Nghệ An rất nhẹ, ấm, ánh mắt long lanh vui, 32 năm trước như đang ẩn hiện: “Tối 29/4/1975 theo chân đoàn xe tăng 203, F304, E66 vào đến cửa ngõ Sài Gòn, gặp hai xe tăng của C2, E273 Binh đoàn Tây Nguyên, còn lúng túng chưa biết phải tiến lui như thế nào, thì thật diệu kì – một cô gái Sài Gòn xuất hiện giữa mịt mù khói đạn, ra dấu và hét lớn: “Em là Trung Kiên, biệt động Sài Gòn, được cử dẫn đường…” (sau này hãng phim truyện Việt Nam hay Hãng phim Giải phóng đã dựng phim “Cô Nhíp” để nói về nữ biệt động thành này).

Chiến sĩ biệt động nguyễn Thị Trung Kiên, người dẫn đường cho xe tăng quân giải phóng tiến vào Tân Sơn Nhất. (Ảnh: theo hanoi.vnn.vn)

Mũi xe của Trung Kiên hướng dẫn lao thẳng về sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi đã bấm được bức ảnh rất đẹp về cô. Và ngay lúc đó cảm thấy yêu mến tất cả những người dân Sài Gòn. Cảm xúc đó càng tăng thêm khi tiến sâu vào Ngã tư Hàng Xanh, thấy người dân đứng đầy hai bên đường cầm cờ vẫy chào. Không một chút nghi ngờ hay sợ hãi, tôi và các chiến sĩ nhao lên nóc tăng vẫy chào lại, cảm giác chiến tranh, bom đạn sắp kết thúc, đồng bào Sài Gòn thân thuộc quá, không hề nghĩ họ là “bên kia”…

Khoảnh khắc chiến tranh ác liệt, gian khó đẫm máu, nước mắt chấm dứt. Thật lạ! Lần đầu tiên bước chân vào Sài Gòn nhưng tôi thấy thân thuộc. Có lẽ Sài Gòn là nơi mà trong cả giấc mơ chúng tôi luôn đăm đắm, là quê hương đang chờ những người lính giải phóng quân về. Cũng vì thế, khi nhìn thấy cảnh các người lính Sài Gòn và nội các của họ bại trận, chỉ thấy cảm thương, không thù hận, thậm chí trong tôi xóa rất nhanh hình ảnh đối phương là kẻ thù – là giặc. Tôi không ngần ngại nhờ một người lính Sài Gòn dẫn đường cho tôi ra sân bay Tân Sơn Nhất để chuyển tin ra Hà Nội đêm 30/4/1975 kịp bản tin sớm hôm sau.

Trước đó, nghĩ về phóng viên phương Tây là sự nghi ngại bất hợp tác, thế mà chiều 30/4/1975 giữa tôi và họ ở sân Dinh Độc Lập là tình đồng nghiệp chia sẻ tin tức. Kết thúc chiến tranh – xóa được bao khoảng cách – Thật tuyệt vời”.

(Còn nữa)
Hoài Hương (thực hiện)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Advertisements
Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: