Chúng tôi là Việt cộng (kỳ 3)

Đường đến với “phía bên kia”

TT – Thời thơ ấu có một quãng dài tôi sống với ông nội. Ông là một nhà nho đã học tới Tứ thư, Ngũ kinh và thường nhắc đi nhắc lại với con cháu rằng “cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.

Quyết định tặng thưởng huân chương Thành đồng cho ông Nguyễn Hữu Hạnh

Ông “thận trọng”

Có lẽ tôi chịu ảnh hưởng của ông mà trong suốt thời gian trong quân ngũ, tôi bao giờ cũng tìm mọi cách để giảm tối đa những chết chóc xảy ra cho người dân.

Tôi còn nhớ khi Nguyễn Văn Minh (tức Minh “nhỏ”, để phân biệt với ông Dương Văn Minh là Minh “lớn”) giữ chức tư lệnh sư đoàn 21, đã kêu tôi từ Trường võ bị Đà Lạt trở về để làm tư lệnh phó. Lúc này tôi đang dạy các môn quân sự, nhưng vì tôi có bệnh viêm cổ họng, không chịu được thời tiết trên Đà Lạt nên đồng ý về làm phó cho Minh “nhỏ”.

Tuy nhiên, tôi hết sức bất bình vì những lệnh hành quân của tay tư lệnh sư đoàn này. Cứ trước mỗi đợt hành quân, Minh “nhỏ” làm “lệnh hành quân” bằng cách vẽ những chỗ ngã ba ngã tư cho máy bay Mỹ đi bỏ bom trước. Mà tôi là tư lệnh phó, có khi tôi phải đi chỉ huy. Tôi thường hỏi các binh sĩ là “anh em tới gặp ai chết?”, anh em trả lời: “Chỉ là ông già, trẻ con…”. Toàn bỏ bom trúng dân.

Sau đó ngồi nói chuyện với Minh “nhỏ”, tôi nói thẳng: “Chắc có lẽ tôi khó ở đây lâu với ông vì tôi thấy chết chóc nhiều quá, tôi không thích, tôi chịu không nổi”. Minh “nhỏ” nói với tôi câu này: “Tôi nghĩ đại tá không phải là Việt cộng đâu, nhưng có lẽ vì đạo đức mà đại tá nói với tôi như vậy”. Tôi cũng không biết Minh “nhỏ” có nghi tôi  là Việt cộng hay không.

Sau khi rời sư đoàn 21, tôi về làm tư lệnh mật khu 44, cai quản các tỉnh miền Tây dọc biên giới VN – Campuchia. Lúc này tôi trực tiếp làm việc với các cố vấn Mỹ trong những cuộc hành quân. Chủ trương của tôi đưa ra là phải thận trọng tối đa khi nổ súng. Khi Mỹ hỏi tôi chủ trương dùng trực thăng võ trang như thế nào, tôi trả lời: “Không phải đụng đâu bắn đó mà phải hết sức thận trọng”. Vì thế nên tụi Mỹ kêu tôi là ông “thận trọng”.

Thời gian tôi làm tư lệnh biệt khu 44, cố vấn Mỹ có lần đề nghị tôi cho phép bỏ bom B52 vô mật khu của Việt cộng ở Cao Lãnh, nằm trên đường vô Mỹ An. Tôi không đồng ý. Lúc đó có qui định là muốn B52 bỏ bom chỗ nào thì phải có ý kiến đồng ý của tư lệnh. Tôi nói với các cố vấn Mỹ: “Tôi đã bay trên đó, thấy nhà cửa dân chúng ở nhiều quá, không thể giết người ta được, bởi vì họ là thường dân”. Tôi nghĩ vấn đề là ở chỗ lương tâm con người, tôi không là gì cả nhưng lương tâm tôi không cho phép tôi làm vậy.

Năm 1970, Trung ương Cục miền Nam có quyết định thành lập “đội vận động sĩ quan” và tôi được cử làm đội trưởng.

Đội này có hai nhiệm vụ: cài người của ta vào trong lòng địch và vận động sĩ quan của quân đội Sài Gòn về với ta. Lúc này bên binh vận đề xuất xin anh Sáu Rép về với đội, vì biết anh Sáu Rép có bà con với Nguyễn Hữu Hạnh.

Nhưng Sáu Rép nói chỉ có thể nhờ ông Tám “vô tư” thôi. Và sau đó Sáu Rép nhờ mẹ của mình đi móc nối với Tám “vô tư”, lúc này ở đường Tôn Đản, quận 4.

Lúc đầu chúng tôi có đề nghị ông Hạnh gặp tôi, nhưng ông từ chối, chỉ đồng ý gặp Tám “vô tư” thôi. Và chúng tôi đã hoạt động hiệu quả từ đầu những năm 1970 cho đến ngày giải phóng.

Đội vận động sĩ quan lúc bấy giờ hoạt động rất có hiệu quả, chính chúng tôi đã bắt liên lạc với phi công Nguyễn Thành Trung.

Trường hợp Nguyễn Hữu Hạnh là một trong những thành công của công tác nội tuyến của Trung ương Cục miền Nam thời kỳ chống Mỹ.

LÊ QUỐC LƯƠNG (Bảy Lương)

Người có bí số 705

Bây giờ nghĩ lại tôi mới nhận thấy cuộc đời tôi sau này gắn liền với người bác họ tên Nguyễn Tấn Thành, thường gọi là Tám “vô tư” (ông Nguyễn Tấn Thành là cha của ông Nguyễn Tấn Phát, thứ trưởng Bộ GD-ĐT, giám đốc ĐH Quốc gia TP.HCM).

Năm 21 tuổi, lúc này Cách mạng Tháng Tám thành công, bác Tám “vô tư” lo về quân sự phụ trách mặt trận Kinh Xáng, và tôi lúc đó làm thư ký cho thôn bộ Việt Minh tại xã Phú Phong quê tôi. Tuy nhiên, sau đó tôi lưu lạc lên Sài Gòn tìm việc làm. Trong thời gian chưa tìm được việc, tôi gia nhập quân đội Pháp và cuộc đời đã chuyển sang một hướng khác.

Năm 1956, khi tôi đang trên đường tham gia chiến dịch Thoại Ngọc Hầu ở miền Tây thì được tin bác Tám “vô tư” bị bắt, giam ở bót Catinat. Người thông báo cho tôi vụ ông Tám “vô tư” bị bắt là ông Lung – đại tá, trưởng phòng phản gián quân khu 1. Đây là một chuyện lạ.

Ông Lung biết tôi quen với Trần Bá Thành – giám đốc Công an Nam Việt – thì có thể xin cho ông Tám ra được. Tôi viết thư cho ông giám đốc Công an Nam Việt “mượn” ông Tám “vô tư” với lý do “để khai thác thêm”, vì ông Tám là người Mỹ Tho – thuộc địa bàn chiến dịch. Tôi “mượn” ông Tám nhưng ông giám đốc này “cho” tôi luôn. Tức là tôi toàn quyền quyết định về ông Tám.

Tôi tự tay ký lệnh thả ông. Tôi đợi hết chiến dịch rồi mới thả vì lúc này Diệm đem máy chém đi khắp nơi, không an toàn. Cũng do tôi giữ lại đến hết chiến dịch mà ông Tám “vô tư” bị mất Đảng. Ông mất Đảng vì bị nghi là quan hệ với tôi. Tôi biết ông khổ lắm (sau giải phóng, ông Tám “vô tư” được phục hồi công trạng và được kết nạp Đảng lại).

Năm 1958, lúc tôi đi học ở Mỹ thì ông Tám bị bắt một lần nữa, đưa giam tại trại Phú Lợi. Lúc tôi về, cũng ông Lung cho tôi hay. Lúc này tôi không thể nói với ông trưởng trại để thả ông Tám ra được. Tôi bèn nói với ông đại tá Nguyễn Văn Y, tổng giám đốc các trại cải huấn, cũng là bạn của tôi, rằng “khi nào được” thì thả ông Tám ra.

Từ sau khi được thả lần này, ông Tám “vô tư” thường lui tới chỗ tôi với nghĩa bác cháu. Mà cách mạng cũng khéo, đưa một người nặng tình nghĩa tới, nếu tôi không chịu thì tôi cũng không bắt ông. Đầu tiên ông chỉ ra cho tôi thấy những chỗ sai của bọn Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Cứ dần dần như thế, rồi tôi cũng từ từ nhận ra.

Rồi đến khi đã chín muồi, ông Tám nói có ý định móc nối tôi theo cách mạng. Có lần ông Tám còn đề nghị tôi vô khu nữa. Nhưng tôi nói gia đình tôi đông lắm, tôi không đi được. Mà tôi ở đây có khi còn tốt hơn. Tính từ năm 1959 đến 1975 thì thời gian đi lại của ông Tám với tôi rất lâu dài. Có lẽ cũng vì ông bị mất Đảng mà việc đi lại với tôi có dễ dàng hơn, tôi nghĩ vậy. Hoạt động của tôi phần nhiều là cung cấp thông tin về những vấn đề chiến lược.

Tuy nhiên, tôi chỉ đồng ý gặp một mình ông Tám thôi, ngoài ra không gặp bất kỳ ai là người của cách mạng cả. Ở trong khu có đặt cho tôi một bí số mà mãi sau ngày giải phóng khi nhận huân chương Thành đồng tôi mới biết, vậy thôi (ông Nguyễn Hữu Hạnh có bí số 705).

Sau giải phóng, khi tôi giới thiệu ông Tám “vô tư”, ông Dương Văn Minh nói “đến bây giờ mới biết là người của cách mạng”. Và cũng mãi đến lúc này tôi mới biết phía binh vận của Trung ương Cục miền Nam làm việc với ông Tám là đồng chí Bảy Lương.

Chức vụ chỉ huy trưởng cảnh sát quốc gia Sài Gòn – Gia Định ngày 29-4-1975 đã nằm trong tay một đảng viên cộng sản – LS Triệu Quốc Mạnh. Và ông đã làm gì?

NGUYỄN HỮU HẠNH
B.T. – LAM ĐIỀN ghi

Viên phi công nào đây?

Đó là Nguyễn Thành Trung, sĩ quan không quân quân đội Sài Gòn. Đây là bức ảnh được chụp vào tháng 4-1975, sau khi anh cùng phi đội Quyết Thắng ném bom sân bay Tân Sơn Nhất.
“Tổ chức đã làm mọi cách để đưa tôi vào lực lượng không quân của quân đội Sài Gòn với chỉ thị phải trở thành phi công giỏi và chờ đến ngày hành động.

Và thời cơ đến vào ngày 8-4, khi chúng tôi có lệnh đi ném bom ở Phan Rang. Tôi đã làm động tác lừa viên chỉ huy phi đội và cả đài chỉ huy trong khoảng 10 giây ngắn ngủi trước lúc xuất phát để quay về ném bom xuống dinh Độc Lập.

Sau khi ném bom làm rúng động Sài Gòn, tôi bay ra Phước Long, sau đó được bí mật đưa ra Đà Nẵng để tập huấn cùng các phi công quân đội nhân dân VN trong một phi đội máy bay A37. Và đến ngày 28-4-1975, chúng tôi lại cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) vào ném bom khu vực để máy bay và bom đạn của sân bay Tân Sơn Nhất. Phi đội Quyết Thắng đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vu, trở về an toàn.

Ông Thiệu kết tôi tội phản bội, nhưng phản bội ai? Vì tôi đã là một đảng viên Đảng Cộng sản VN”.

NGUYỄN THÀNH TRUNG

————

* Kỳ tới: Cảnh sát trưởng 24 giờ

————–

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 2: Thời khắc lịch sử
– Kỳ 1: Trở lại Sài Gòn

Tuổi trẻ Online

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: