Chiến dịch Huế – Đà Nẵng – Bước nhảy vọt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

36 năm qua, khí thế thắng lợi hào hùng của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đỉnh cao của chủ nghĩa yêu nước vẫn vang mãi trong lòng người dân Việt Nam và các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Quân giải phóng tiến vào Huế – Ảnh: T.L

Ngày 22-2-1975, chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng, năm tỉnh Tây Nguyên là Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức được giải phóng. Tin thắng trận dồn dập bay về Bộ Tổng Chỉ huy. Không kể sớm khuya, nhân viên thông tin, cơ yếu được phân công trực trong Tổng hành dinh (khu A) đã nhận và dịch ngay những bức điện để chuyển ngay đến trực ban tác chiến bất cứ lúc nào. Trước đó, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, tối tối lại qua đường Hoàng Diệu vào hướng cửa Tây (Hoàng thành Hà Nội) và ở đó đến khuya. Những ngày này, ông ăn ngủ luôn trong phòng họp của Quân ủy Trung ương. Tại cuộc họp Bộ Chính trị, chiều ngày 24-3-1975, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng, thay mặt Bộ Tổng Tham mưu báo cáo khả năng sớm dứt điểm đánh chiếm Trị Thiên-Huế. Ông nhấn mạnh, với việc tiêu diệt 3 đến 4 trung đoàn và làm tan rã toàn bộ lực lượng còn lại, thu toàn bộ trang bị nặng của địch, đây sẽ là một chiến thắng lớn. Lực lượng địch co cụm về Đà Nẵng gồm 2 sư đoàn (Sư đoàn lính thủy đánh bộ và sư đoàn 3), 2 đến 3 liên đoàn biệt động quân. Tất cả tương đương 10 trung đoàn, chúng có thể co cụm về Đà Nẵng nhanh hơn. Ta phải nhanh chóng tiến công Đà Nẵng, diệt 2-3 sư đoàn địch nữa trong tháng 4 mới phá được ý đồ co cụm của địch về hướng Sài Gòn… Cuối cùng, Bộ Chính trị khẳng định: “Thời cơ chiến lược lớn đã tới” và đề ra quyết tâm mới: “Nắm vững thời cơ chiến lược, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp dự kiến, không kịp trở tay, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa”. Muốn vậy, cần thực hiện 2 trận quyết chiến chiến lược nữa là Huế- Đà Nẵng và Sài Gòn.

Theo quyết định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy chiến dịch Huế-Đà Nẵng. Đây là đòn chiến lược lớn thứ 2 của ta đánh vào quân đội Sài Gòn. Huế là cố đô và Đà Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp rất mạnh, nơi đặt sở chỉ huy của vùng chiến thuật I, thuộc quân khu I do tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy. Viên tướng này đã từng tuyên bố: “Tử thủ Đà Nẵng”. Trong tình hình hết sức khẩn trương, Bộ Tư lệnh chiến dịch Huế-Đà Nẵng được thành lập: Tư lệnh Lê Trọng Tấn; Chính ủy Chu Huy Mân; Phó tư lệnh Giáp Văn Cương, Nguyễn Bá Phát; Phó chính ủy Bùi Hữu nghĩa. Do được thành lập trong điều kiện các thành viên chưa có điều kiện gặp mặt nhau để nắm tình hình, chỉ đạo tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến dịch, Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu) phải trực tiếp chủ trì tổ chức cơ quan chiến dịch, gồm các cán bộ đã quen thuộc chiến trường này.

Chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng mở ra từ ngày 21-3 đến ngày 29- 3-1975 với lực lượng: quân đoàn tăng cường; diễn ra trong 2 đợt: Đợt 1 (21 đến 26-3-1975), ta tiến công chia cắt Huế-Đà Nẵng, tiêu diệt sư đoàn bộ binh 1, lữ 147 thủy quân lục chiến, liên đoàn biệt động quân của địch, giải phóng Thừa Thiên –Huế. Tiếp đó, quân ta phát triển về hướng Nam uy hiếp Bắc Đà Nẵng; Sư đoàn bộ binh 2 của ta sau khi giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi uy hiếp Đà Nẵng từ hướng Nam. Hướng Trị Thiên: các Sư đoàn 325, 324 thực hành chia cắt Đường 1A, đập vỡ hệ thống phòng ngự phía Nam Huế, phát triển vào Huế, truy kích địch về cửa biển Thuận An, Tư Hiền, cùng lực lượng địa phương chặn đánh địch ở Thuận An, Tư Hiền. Hướng Bắc: các lực lượng Quân khu Trị-Thiên đánh địch trên tuyến phòng thủ Mỹ Chánh, đánh chiếm quận lỵ Hướng Điền, phát triển về Huế, ngã ba Sình. Hướng Tây Huế (Đường 12): Trung đoàn bộ binh 6, trung đoàn 271 (Quân khu 4) theo Đường 12 B tiến về Đồng Môn, Kim Ngọc vào khu Tam giác Huế. Trên các hướng tiến công của ta, địch chống cự yếu ớt, rút chạy nhanh, nhưng ta đã chặn hết các ngả đường nên toàn bộ sư đoàn 1, lữ đoàn 147, các liên đoàn biệt động quân 14, 15, lữ kỵ binh thiết giáp 1, các tiểu đoàn bảo an, lực lượng phòng vệ dân sự cùng bộ máy ngụy quân, ngụy quyền địch từ tỉnh đến xã đều bị tiêu diệt và tan rã. Ngày 25-3-1975, thành phố Huế được giải phóng; ngày 26-3-1975, toàn tỉnh Thừa Thiên được giải phóng hoàn toàn.

Hướng Nam Quảng Ngãi: Sư đoàn bộ binh 2 tiến công tiêu diệt sư đoàn 2 ngụy, giải phóng thị xã Tam Kỳ ngày 25-3-1975. Hướng Quảng Ngãi: 7 giờ ngày 24-3-1975, các lực lượng tại chỗ nổ súng tiến công và sáng ngày 25-3-1975, ta giải phóng thị xã Quảng Ngãi, truy kích địch bỏ chạy, tiêu diệt và bắt sống các lực lượng của liên đoàn biệt động quân 11, thiết đoàn 4, trung đoàn 6 (Sư đoàn 18) địch và tiểu khu Quảng Ngãi.

Đợt 2, từ ngày 27 đến 29-3-1975. Ta phát triển tiến công tiêu diệt sư đoàn thủy quân lục chiến, sư đoàn 3, Bộ Tư lệnh quân đoàn 1 và lực lượng còn lại của quân khu 1 địch, giải phóng Đà Nẵng. Hướng Bắc có Sư đoàn 325, Tây Bắc có Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304), hướng Tây Nam có Sư đoàn 304 (thiếu trung đoàn 9), hướng nam có lực lượng vũ trang Quân khu 5… Cả 4 hướng đồng loạt tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, kết hợp với thọc sâu. Đến 15 giờ ngày 29-3-1975, ta đã đánh chiếm toàn bộ các mục tiêu quan trọng trong thành phố Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà. Kết hợp với đòn tiến công quân sự, lực lượng địa phương phát động quần chúng nổi dậy, diệt ác, phá kìm, giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng vào lúc 17 giờ, ngày 29-3-1975.

Chiến dịch Huế- Đà Nẵng là chiến dịch tiến công lớn, hình thành từ chiến dịch tiến công tổng hợp của 2 quân khu địa phương (4 và 5), có Quân đoàn 2 (binh đoàn cơ động chiến lược) làm nòng cốt, thực hành tiến công trong hành tiến với nghệ thuật bao vây, chia cắt, vu hồi, thọc sâu trên quy mô chiến dịch phá thế co cụm chiến lược của đối phương. Nghệ thuật tạo lực, tạo thế bằng hai phương thức tiến hành chiến tranh (Binh đoàn cơ động và chiến tranh nhân dân) đã tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo, kịp thời giáng những đòn quyết định tiêu diệt những tập đoàn chủ yếu của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và mục tiêu của chiến lược. Chiến dịch này là một bước nhảy vọt mới của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Hà Thành

Đại Đoàn Kết

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: