Cuộc hành quân cuối cùng

Tác giả loạt bài này là người trực tiếp tham gia phong trào học sinh, sinh viên; phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn. Những ngày tháng 4 cách nay 34 năm, anh đã có mặt trong cánh quân từ đồng bằng Tây Nam Bộ tiến về giải phóng Sài Gòn và ghi lại những kỷ niệm không thể nào quên trong thời khắc hào hùng ấy

Cuối năm 1974, dù chưa nhận được thư chỉ đạo của Thành đoàn  Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định nhưng dựa vào chuyển biến của tình hình chiến trường, chúng tôi nhận định: Có lẽ sắp dời căn cứ về hướng tiếp cận Sài Gòn…

Và nhận định của chúng tôi đã chính xác. Ngay sau đó, Thành đoàn chỉ đạo chúng tôi về xây dựng căn cứ tại xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang); mở đường liên lạc với Sài Gòn qua ngã ba Trung Lương, Quốc lộ 4.

Tác giả Hoàng Đôn Nhật Tân trên đường phố Sài Gòn (ảnh chụp vào tháng 3-1968, do tác giả cung cấp)

Giã từ Đồng Tháp

Một năm ở giữa Đồng Tháp mênh mông này, chúng tôi có nhiều ấn tượng và tình cảm sâu đậm, khó quên. Nhớ lắm những ngày đi công tác xuyên qua những cánh rừng thơm ngát hương tràm, những đêm trăng sáng lội bì bõm giữa đồng nước giăng câu, đặt lợp, bẫy chuột.

Nhớ lắm những ngày xóm làng rộn ràng vào chiến dịch bứt phá đồn bót, nam nữ hăng hái chuẩn bị xuồng ghe đi dân công tải đạn, cáng thương, những buổi “truy điệu sống” cho những người cảm tử bên cạnh quan tài và những huyệt mộ đào sẵn bên kinh Xáng Phèn.

Nhớ những đêm thao thức nghe tiếng ghe máy tấp nập chở hàng hậu cần từ biên giới đổ về chuẩn bị cho chiến dịch. Nhớ các chiến sĩ trẻ phía Bắc mắc võng ngủ hồn nhiên bên bờ rạch sau đêm vây đồn giặc, không quen bắt cá mò tôm chỉ đi vớt ốc xào với lục bình non và rau muống đồng rồi than “miền Nam tôm cá đầy đồng” sao tìm không thấy!

Nhớ những người dân Đồng Tháp giúp đỡ cho chúng tôi từ việc xây dựng căn cứ cho đến các chuyến công tác giao liên hiểm nguy như chị Năm Ne, gia đình chú Bảy Hữu, gia đình anh Tám Lé, vợ chồng anh Ba Quang và những cán bộ địa phương như Tám Chí Công – Bí thư Huyện ủy, anh Nhon, anh Minh Tâm – Xã ủy Mỹ Long, anh Năm Đinh – Bí thư xã An Thới Trung (huyện Cái Bè – Tiền Giang) chị Năm Mai, chú Năm Hiền – cán bộ tỉnh…

Nhớ những đêm phối hợp với du kích qua lộ 30 sang tận xóm dân trù phú bên bờ sông Cửu Long, đi qua những vườn ổi chín trĩu quả, sáng về chưa đến nhà mệt quá nằm ngủ lăn lóc bên gốc cây tràm, cây gáo.

Nhớ bác Trần Văn Ngọc (tức Út Xệ) những ngày giặc mở cuộc càn, bác phải dẫn trâu đi lánh ở đồng trên không quên nhắc nhở: “Tụi Sư đoàn 9 vô đông hết biết, coi chừng bể gáo nghe mấy con”. Khi có chút cá tôm gì ngon bác cũng kêu chúng tôi qua ăn, hễ từ chối thì bác rầy: “Tao như vầy mà không nuôi nổi tụi bây sao?”.
Nhớ ngày đoàn giã từ Đồng Tháp, bà con quyến luyến hỏi đi đâu, chúng tôi phải nói là đơn vị gọi lên biên giới. Những khi đoàn xuất phát, bà con hai bên kinh đều thấy chúng tôi đi theo kinh Ngang về kinh Nguyễn Văn Tiếp thuộc huyện Cái Bè. Như vậy là “đi xuống” chứ không phải “đi lên”.

Nhân dân miền Tây Nam Bộ đón chào quân giải phóng trong những ngày tháng 4-1975. Ảnh: Tư liệu

Thắng lợi gần kề

Ai có sống trong vùng giải phóng trong những ngày tháng đó mới thấy thắng lợi đã gần kề. Vùng giải phóng mở ra thênh thang, những vùng oanh kích tự do, vắng bóng người, nay có dân về xây nhà sinh sống đông vui, nhiều đoạn lộ đá được phá ngang thành rạch, cứ vậy mà xuồng vượt qua.

Chúng tôi qua một năm “lặn hụp” giữa Đồng Tháp như trở nên quen thuộc với vùng sông nước này… Tám người, 3 chiếc xuồng bơi ào ào như lướt trên mặt nước.

Nhiều kỷ niệm trong chuyến hành quân này. Dừng chân trạm giao liên xã Hội Cư (huyện Cái Bè), đêm giao thừa, bà con trong xóm tặng cho trạm giao liên 20 con vịt. Trạm chỉ còn một giao liên trực, thế là anh giao liên mời chúng tôi nhậu gỏi vịt và ăn cháo vịt.

Anh tuyên bố: “Anh em mình gặp nhau rồi không biết dịp nào gặp lại, không uống thật tình thì mai không dẫn đi, nếu ai là thương binh thì có chế độ chính sách bồi dưỡng thêm ly nữa, Tết nhứt mà!”. Thế là anh em cũng phải ráng theo…

Chúng tôi dừng chân qua đêm ở trạm giao liên khác, trong ba lô có sẵn bó cần câu. Thế là đêm đó tôi đi giăng câu, mồi cá sặc móc vào lưỡi câu, vẹt rau rác thả cho mồi nằm chỗ trống trải, thế là đêm đi thăm câu là mười cần dính lươn hết chín, bắt được con lươn to mập như ổ bánh mì, da có bông, anh em bảo nó “sắp hóa chồn”, “sắp biết nói”.

Thế là nhờ giao liên mua dừa làm món lươn um, mời giao liên “nhập tiệc”. Anh giao liên bảo: “Tôi dân xứ này mà kiểu câu lươn như các anh chưa thấy bao giờ”.

Đi ngang qua vùng có kinh đào, Út Đậm, em út của đoàn, biểu diễn tài nghệ nơm cá. Tư Trung và Hai An cầm dây cột cõng, giữa dây có cột 4 đoạn gỗ cây gáo dài độ 3 tấc.

Chúng tôi đi dọc theo bờ kinh, khúc gáo chìm sát đáy kinh, cá lóc thấy động chúi xuống sình, nổi bong bóng. Út Đậm nơm vài lần là trúng cá lóc ngay. Hai An tốt nghiệp cán sự kỹ thuật, còn Tư Trung ở trong gia đình có truyền thống nghề dệt ở ngã tư Bảy Hiền chẳng liên quan gì đến việc bắt cá, mò tôm.

Dân địa phương thấy vậy cũng nể hỏi: “Mấy anh bắt cá kiểu gì lạ vậy?”, Út Đậm giải thích: “Quê em ở biên giới Campuchia chuyên bắt kiểu này”. Hứng chí, Út Đậm còn “nổ” thêm: “Khi kéo cây gáo dưới đáy kinh, cây gáo gõ trúng đầu cá lóc, cá lóc sẽ bất tỉnh, cứ vậy mà nơm là dính”…

Nhớ hai lần vượt lộ 4, từ Cái Bè sang Nam Cai Lậy rồi Nam Cai Lậy sang huyện Châu Thành. Giao liên hai bên lộ liên lạc với nhau bằng máy truyền tin PRC 25 của Mỹ. Trước nay hành quân vượt lộ bao giờ cũng khó khăn, có khi phải lót ni lông trên mặt lộ để tránh lưu lại dấu chân. Lần này thì khác, buổi chiều, cả đoàn vượt lộ theo giao liên tiếp cận lộ 4, sau hàng rào dâm bụt thấy xe đò và cả xe tăng của địch chạy trên đường. Đến khi trời sẫm tối là cả đoàn lên mặt lộ. Trong lúc chờ giao liên bàn giao thư từ, chúng tôi đi tới đi lui cho… sướng cái chân vì lâu rồi toàn là đi dưới sình.

Kỳ tới: Sài Gòn ơi, ta đã về đây!

Hoàng Đôn Nhật Tân

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: