Đại thắng mùa Xuân 1975 – đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà nhân lõi là 3 đòn tiến công chiến lược: chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế-Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử-trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, là chiến thắng oanh liệt nhất, vĩ đại nhất, không chỉ kết thúc 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ mà còn kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt 111 năm bị chủ nghĩa thực dân cũ và mới đô hộ, mở ra một kỷ nguyên mới: độc lập, thống nhất cả nước đi lên CNXH.

Đại thắng mùa Xuân 1975 vì thế vừa có giá trị riêng lẻ, vừa có giá trị nhân bản mang dấu ấn tổng thể lịch sử, vừa có tầm vóc quốc tế lớn lao và có tính thời đại sâu sắc.
“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của BCH TƯ Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, trang 5, 6).

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 được mở đầu ở Buôn Ma Thuột và kết thúc ở Sài Gòn, diễn ra với nhịp độ thần tốc. Chỉ trong vòng 55 ngày đêm, với sức mạnh tổng hợp áp đảo quân sự và chính trị được tích lũy trong nhiều năm, đã đánh tan hơn 1 triệu quân ngụy, đập tan bộ máy ngụy quyền-chế độ thực dân mới được Mỹ dốc sức xây dựng qua 5 đời tổng thống hoàn toàn sụp đổ. Đại thắng mùa Xuân 1975 minh chứng cho cả nhân loại thấy được con người Việt Nam luôn luôn khát khao độc lập tự do, yêu chuộng hoà bình là một chân lý của lẽ sống. Đại thắng mùa Xuân 1975 và cội nguồn sâu xa của kế sách giữ nước, đã chứng minh rằng: trí tuệ và tài thao lược kiệt xuất của nhân dân ta, mà nét tiêu biểu là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân-một trong những nhân tố quyết định của thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn Xuân 1975.

Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết. Đây là một thắng lợi rất to lớn của nhân dân ta, xác nhận thất bại quân sự đầu tiên của Mỹ trong thế kỷ XX. Mỹ buộc phải rút quân về, nhưng ngoan cố mưu toan duy trì chế độ thực dân mới đã cùng ngụy quyền phá hoại việc thi hành Hiệp định nhằm thực hiện dã tâm giữ cho được chế độ thực dân mới ở miền Nam bằng công thức: đô la, vũ khí, trang bị của Mỹ cùng với bộ máy ngụy quyền, ngụy quân dưới sự chỉ đạo của Mỹ. Để thực hiện âm mưu và chủ trương trên, khi rút quân Mỹ đã để lại hàng nghìn cố vấn quân sự trá hình, chuyển giao toàn bộ vũ khí, trang bị, phương tiện cơ sở chiến tranh, tương đương với 5 tỷ đô la cho quân ngụy. Ngoài ra, Mỹ còn tiến hành một loạt biện pháp lớn như tiếp tục viện trợ theo kế hoạch hàng năm, ra sức củng cố, tăng cường quân ngụy; tiếp tục duy trì một “lực lượng răn đe” ở Đông Nam Á sát miền Nam Việt Nam. Đồng thời ráo riết tăng cường các hoạt động ngoại giao xảo quyệt nhằm hạn chế khả năng tiến công lớn của ta, cũng để cố tránh một cuộc chiến tranh quy mô lớn buộc Mỹ phải bị động dính líu và quân đội Mỹ phải trở lại Việt Nam.

Đánh giá đúng âm mưu của Mỹ và tay sai, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 5 và tiếp đó là Hội nghị lần thứ 21 của BCHTƯ Đảng tháng 7/1973 nhận định: Bất kể trong tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam cũng bằng con đường bạo lực, do đó, phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, tiến lên giành toàn thắng. Sau khi có nghị quyết Trung ương, lãnh đạo và chỉ huy các cấp đã động viên và tổ chức các lực lượng trên cả nước thực hiện với một tinh thần kiên quyết, triệt để, sáng tạo để đưa cách mạng miền Nam tiến lên với một nhịp độ nhanh hơn, vững chắc hơn. Đặc biệt, Thường trực Quân uỷ Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan chiến lược Bộ Quốc phòng, trước hết là Bộ Tổng tham mưu khẩn trương tổ chức thực hiện, tập trung vào một số kế hoạch chỉ đạo lớn, như xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược và từng bước bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam. Chỉ đạo hoạt động tác chiến trên các chiến trường, ngăn chặn, đẩy mạnh hoạt động thực hiện các đợt tiến công và nổi dậy, giữ vững và phát triển thế chủ động chiến lược, làm chuyển biến cục diện chiến trường, đẩy lùi, từng bước đánh bại kế hoạch lấn chiếm bình định của địch. Chỉ đạo tác chiến tạo thế, thiết bị chiến trường, xây dựng lực lượng, huấn luyện quân sự và chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam nhằm tạo lực, tạo thế toàn diện cho chiến trường.

Kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam được hình thành rất sớm (từ giữa năm 1973), được đề xuất ở Bộ Tổng tư lệnh và cơ quan Bộ Tổng tham mưu, từng bước bổ sung hoàn chỉnh, nhất là sau khi Quân uỷ Trung ương họp tháng 3/1974 để quán triệt và bàn biện pháp thực hiện cụ thể về mặt quân sự theo Nghị quyết Trung ương 21. Kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam trải qua 8 lần điều chỉnh bổ sung, thông qua Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương. Đặc biệt, 2 lần thông qua cuối cùng (lần thứ 7 và 8) tại 2 hội nghị Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương có các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt các chiến trường, các quân khu tham gia. Từ ngày 30/9 đến ngày 8/10/1974, sau 10 ngày nghe báo cáo và thảo luận, Bộ Chính trị đi đến những kết luận rất quan trọng có ý nghĩa mở đầu cho việc hạ quyết tâm tác chiến chiến lược kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Lần thông qua cuối cùng, từ ngày 18/12/1974 đến ngày 8/1/1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và hạ quyết tâm chiến lược lịch sử: giải phóng miền Nam trong 2 năm (1975-1976) và nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Trên các chiến trường, sau khi có kế hoạch chỉ đạo tác chiến của Bộ Tổng tham mưu, đã đẩy mạnh hoạt động phản công, tiến công địch, giữ gìn và phát triển thế chủ động chiến lược làm chuyển biến cục diện chiến trường, tạo điều kiện mọi mặt cho những cuộc tiến công rộng lớn trong năm 1975. Trong thời gian này, ngoài những đòn giáng trả quyết liệt, liên tục và có hiệu quả của ta buộc địch phải điều chỉnh lại kế hoạch lấn chiếm, có những mặt chúng phải dừng lại hoặc thụt lùi, thì ta có 2 thắng lợi được xem như là những đòn trinh sát chiến lược để đánh giá thăm dò. Chiến thắng Thượng Đức ngày 20/12/1974, là một biểu hiện mới quan trọng chứng tỏ khả năng chiến đấu của bộ đội chủ lực ta hơn hẳn quân chủ lực cơ động của ngụy. Chiến thắng Phước Long ngày 6/1/1975, cho ta thấy rõ hơn khả năng Mỹ khó có thể can thiệp quân sự trở lại khi ta đánh lớn và thắng lớn, càng khẳng định rõ ràng hơn kế hoạch thời cơ giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Vấn đề tổ chức và huấn luyện các binh đoàn chủ lực cũng như xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch chuẩn bị hậu cần, kỹ thuật, thiết bị chiến trường cũng được triển khai thực hiện đồng bộ. Từ tháng 10/1973, lần lượt các quân đoàn được thành lập, tập trung huấn luyện tác chiến hiệp đồng binh chủng và được bố trí trên các địa bàn chiến lược cơ động nhất. Những binh đoàn cơ động binh chủng hợp thành ra đời, đồng nghĩa với đánh lớn, đánh tiêu diệt lớn. Công trình xây dựng đường Đông Trường Sơn từ năm 1973, hoàn thành năm 1975, nối liền đường 9-Quảng Trị tới miền Đông Nam Bộ, dài 19.790 km. Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ thống 1.712 km đường ống dẫn dầu vào tới Bù Gia Mập-miền Đông Nam Bộ, đáp ứng yêu cầu nhiên liệu chiến đấu hiệp đồng binh chủng quy mô lớn cho các chiến trường. Một khối lượng rất lớn vật tư chiến tranh (gần 50 vạn tấn) từ hậu phương lớn miền Bắc được chuyển vào tiền tuyến lớn miền Nam. Đường dây hữu tuyến điện cũng đã được kéo dài tới Lộc Ninh, nói chuyện thẳng với Hà Nội.

Bên cạnh kế hoạch tác chiến chiến lược cơ bản, ta còn có phương án tác chiến chiến lược tranh thủ thời cơ chuyển sang tổng tiến công sớm hơn vào đầu hay cuối năm 1975. Cùng với kế hoạch tác chiến chiến lược, phương án tác chiến chiến lược của Bộ, mỗi chiến trường cũng có kế hoạch tiến công trong năm 1975 và phương án phát triển khi có thời cơ chiến lược như Bộ đã dự tính.

Như vậy, từ ý định và kế hoạch tác chiến chiến lược ban đầu đến khi thực hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy là cả một quá trình đầy sáng tạo của các cấp chiến lược, để lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh ở bước kết thúc. Đó là quyết tâm tác chiến chiến lược kịp thời và chính xác, là kế hoạch tác chiến chiến lược đúng đắn và ngày càng hoàn chỉnh-những nét nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, chiến tranh đặc sắc trong giai đoạn tổ chức chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và các cơ quan chiến lược của Bộ Quốc phòng, nhất là Bộ Tổng tham mưu.

Nghệ thuật mở đầu đòn tiến công chiến lược thứ nhất để giành thắng một cách chắc thắng, là nét đặc sắc trong nghệ thuật chỉ đạo tác chiến chiến lược. Trong bố trí chiến lược, địch và ta đều mạnh ở cả hai đầu chiến tuyến, vì Huế-Đà Nẵng và Sài Gòn là hai vị trí then chốt quyết định. Ta đã nghi binh điều địch ra hai hướng đó, bí mật bất ngờ mở đòn tiến công chiến lược đầu tiên ở quãng giữa miền Trung-Tây Nguyên, nơi địch yếu nhất, sơ hở nhất và cũng là nơi có tính chất hiểm yếu nhất. Đánh vào Tây Nguyên ta có khả năng chắc thắng, giành thắng lợi giòn giã, vì địch khó có thể cơ động lực lượng ở hai đầu đến ứng cứu. Sau khi thắng lợi ta có thể phát triển xuống đồng bằng ven biển cắt đôi chiến tuyến, làm đảo lộn thế trận chiến lược của địch. Chiến dịch Tây nguyên-“chiến dịch 275”, chiến dịch mở đầu mang ý nghĩa đột phá chiến lược đầu tiên trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975; tiêu diệt 7 vạn quân địch, xoá sổ Quân đoàn 2-Quân khu 2, tiêu diệt và làm tan rã một tập đoàn phòng ngự lớn, giải phóng một địa bàn chiến lược quan trọng, dẫn đến sự suy sụp và tan rã về chiến lược.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên khẳng định thế và lực của ta hơn hẳn địch, khẳng định sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam ở thời kỳ cuối cuộc chiến tranh. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, trước hết là thắng lợi đầy sáng tạo, phát triển cao của nghệ thuật tác chiến chiến lược và nghệ thuật chiến dịch tiến công, trong đó: nghệ thuật chọn hướng tiến công và mục tiêu tiến công chủ yếu rất đúng và rất hiểm; nghệ thuật nghi binh, lừa địch tạo thế, giữ quyền chủ động chiến dịch rất cao; nghệ thuật tạo ưu thế hơn hẳn địch trên hướng và mục tiêu chủ yếu; nghệ thuật vận dụng cách đánh, điều hành và tổ chức trận then chốt rất sáng tạo là những nét đặc sắc tiêu biểu.

Chiến dịch Huế-Đà Nẵng được hình thành trong quá trình phát triển của tiến công chiến lược, được bắt đầu từ hai chiến dịch tiến công của Quân khu Trị Thiên, Quân đoàn 2 và Quân khu 5, từ ngày 5/3/1975. Từ 2 chiến dịch quy mô nhỏ phát triển lên thành chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Sau thắng lợi Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã kịp thời chỉ đạo mặt trận Trị Thiên, Quân đoàn 2 và Quân khu 5 chớp thời cơ mới, thế chiến lược mới nhanh chóng chuyển hướng tiến công. Để chỉ huy chiến dịch quan trọng này, ngày 25/3 Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, lấy tên là Mặt trận 475. Ngay từ những ngày đầu thành lập, tư lệnh và chính uỷ ở cách nhau rất xa, chưa có cơ quan Mặt trận, mọi hoạt động tác chiến của Quân đoàn 2 và Quân khu 5 do cơ quan tiền phương Bộ Tổng tham mưu chỉ huy. Chiều 28/3 mới chính thức có cơ quan Mặt trận 475. Trong lúc đó, Bộ tư lệnh vẫn chưa gặp nhau, tư lệnh vẫn dùng điện đài để trao đổi thống nhất cách tác chiến với chính uỷ.

Chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng là chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, diễn ra trong thời gian ngắn, công tác chuẩn bị gấp. Thắng lợi to lớn của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng. Tiêu diệt và làm tan rã nhiều sư đoàn chủ lực địch trên địa bàn Quân khu 1 của địch, trong đó có cả sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị của Sài Gòn, trong một thời gian ngắn. Cùng với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã làm thay đổi cục diện thế và lực chiến lược trên toàn bộ chiến trường miền Nam có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Thắng lợi của chiến dịch đã tạo ra một vùng giải phóng rộng lớn, liên hoàn từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên và các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung Trung Bộ, hình thành vùng hậu phương chiến lược hoàn chỉnh để bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho những cụm lực lượng tiên công với quy mô lớn, trên cả đường bộ, đường không và đường biển, tập trung lực lượng áp đảo trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng vào sào huyệt địch. Thắng lợi của chiến dịch đã củng cố vững chắc quyết tâm của Bộ Chính trị, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa trong cuộc Tổng tiến công đã xác định trước đó.

Thắng lợi của chiến dịch Huế-Đà Nẵng thể hiện nghệ thuật tạo thời cơ, chớp thời cơ và tận dụng thời cơ, chủ trương nhạy bén, táo bạo, mau lẹ, kịp thời của chỉ đạo, chỉ huy ở cả cấp chiến lược và cấp chiến dịch; nổi bật là sự nhạy bén nắm bắt thời cơ và quyết tâm chuyển hướng tiến công kịp thời, chính xác của Bộ Tổng tư lệnh và lãnh đạo, chỉ huy của Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2. Chiến dịch có bước phát triển cao về nghệ thuật đánh giá tình hình so sánh lực lượng; nghệ thuật chọn đúng hướng, đối tượng, mục tiêu tiến công; nghệ thuật sáng tạo vận dụng cách đánh chiến dịch và đánh các trận then chốt; đặc biệt là nghệ thuật kết hợp chặt chẽ của bộ đội chủ lực cơ động với hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng.

Sau hai đòn tiến công chiến lược giành thắng lợi, với việc giành chủ quyền trên quần đảo Trường Sa, các đảo ven biển và ngoài khơi Trung Bộ, ta đã giành được thế, lực, thời cơ chiến lược mới hoàn toàn chủ động để thực hiện đòn tiến công chiến lược thứ ba-trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, chiến dịch Hồ Chí Minh, bước ngoặt lịch sử của 30 năm chiến tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Lịch sử chiến tranh trên thế giới và các cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc để lại cho chúng ta một bài học quý giá được khái quát thành một quy luật tất yếu, trước khi kết thúc chiến tranh bao giờ cũng phải có một trận quyết chiến chiến lược, chiến dịch quyết chiến chiến lược mang đậm dấu ấn của lịch sử và thời đại. Bản thân của hoạt động chiến tranh đã khắc sâu tính chất quyết liệt, một mất một còn. Điều này bao giờ cũng đồng nghĩa với đỉnh cao của một cuộc đọ sức giữa hai bên. Trận quyết chiến chiến lược này đánh dấu bước phát triển tới đỉnh cao của nghệ thuật chiến dịch, chiến lược Việt nam trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ xâm lược nói riêng, trong 30 năm chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nói chung.

Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, là chiến dịch lớn nhất cả về quy mô lực lượng, cường độ tiến công, nội dung tác chiến hiệp đồng quân binh chủng và mức độ hoàn thành triệt để nhiệm vụ chiến lược giao cho, cũng như mục tiêu của chiến tranh cách mạng. Trong một thời gian ngắn, ta đã tập trung vào chiến dịch một lực lượng quân sự lớn chưa từng có: 5 quân đoàn chủ lực, tổng cộng 15 sư đoàn và lực lượng tại chỗ của Nam Bộ, cùng với hàng chục sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn binh chủng, quân chủng, với nhiều vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại. Đây không chỉ là một thành công đặc biệt về khoa học tổ chức, mà còn là bước phát triển cao của nghệ thuật tạo ưu thế tuyệt đối hơn địch ở địa bàn quyết định, trong thời điểm quyết định.

Trên cơ sở đánh giá đúng địch, ta đã hình thành thế trận hợp vây, chia cắt hiểm, vận dụng cách đánh sáng tạo, kết hợp tiến công và nổi dậy, kết hơp 3 thứ quân, trong và ngoài cùng đánh; đánh địch vòng ngoài, cô lập bên trong, tiến công trong hành tiến, kết hợp với chia cắt, thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu đầu não, làm địch tan vỡ nhanh chóng. Thực hiện cách đánh chiến dịch như vậy, ta vừa dứt điểm nhanh gọn, vừa bảo đảm chắc thắng, làm giảm thiệt hại đến mức thấp nhất về tính mạng và tài sản của nhân dân trong một thành phố đông dân nhất nước ta-gần 4 triệu dân lúc đó.

Thế trận chiến dịch rất hiểm và cách đánh chiến dịch đầy sáng tạo, trên cơ sở một lực lượng ưu thế đã đưa đến hiệu quả chiến dịch lớn nhất, hiệu suất cao nhất, trong thời gian ngắn nhất. Toàn bộ tập đoàn phòng ngự quân địch trên địa bàn Quân khu 3: Sài Gòn-Gia Định bị tiêu diệt và tan rã tại chỗ, nhanh đến mức không chỉ bọn nguỵ tay sai ở chiến trường, mà cả Nhà Trắng và Lầu Năm Góc tận bên kia Thái Bình Dương cũng phải bàng hoàng sững sốt, không kịp cho một con tính nào.

Nhìn lại toàn bộ tiến trình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, từ khi bắt đầu khởi xướng ở Tổng hành dinh Bộ Quốc phòng cho đến kết thúc toàn thắng và trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, có thể nói là mẫu mực về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương trong cuộc chiến tranh giải phóng chống Mỹ xâm lược. Sự kiện lịch sử này là đỉnh cao của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam, điển hình trực tiếp nhất là nghệ thuật nắm bắt đúng thời cơ chiến lược, hạ quyết tâm chính xác, kịp thời; phân tích đánh giá đúng thế trận phòng ngự chiến lược của địch; chọn hướng tiến công chiến lược và mục tiêu chiến lược mở đầu chính xác. Chỉ đạo sâu sát, nhạy bén phát hiện thời cơ mới, chuyển từ tiến công chiến lược sang Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi nhanh nhất, lớn nhất; nghệ thuật tạo sức mạnh ưu thế áp đảo bằng tổng hợp sức mạnh của cả lực lượng và thế trận; nghệ thuật chọn cách đánh chiến lược-chiến dịch đúng đắn, sáng tạo, mưu lược cao. Đây cũng là những nét phát triển sáng tạo và độc đáo của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thế kỷ XX.

Đại tá TS Dương Đình Quảng
Tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam

Báo điện tử ĐCSVN

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: