Một số bài học về công tác tư tưởng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975

Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc Việt Nam là cuộc đụng đầu lịch sử giữa khát vọng độc lập, tự do của một dân tộc có chủ quyền với tham vọng xâm lược thống trị các dân tộc khác của một đế quốc đầu sỏ. Trong cuộc đụng đầu lịch sử đó, dân tộc Việt Nam tuy hạn chế về tiềm lực kinh tế, quân sự, nhưng có sức mạnh vô địch của cuộc kháng chiến chính nghĩa, có ưu thế tuyệt đối về chính trị tinh thần.

Cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tập hợp được đông đảo mọi lực lượng ở trong nước, mà còn tranh thủ được sự ủng hộ, đồng tình mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ và các lực lượng yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới. Vì thế, trong khó khăn gian khổ, ác liệt, nhân dân Việt Nam vẫn vững tin rằng : trong cuộc đụng đầu này dù lâu dài, gian khổ, ác liệt hy sinh nhưng cuối cùng nhất định thắng lợi.

Từ niềm tin sắt đá vào sức mạnh chính nghĩa, dân tộc Việt Nam đã cùng nhau khơi dậy, phát huy sức mạnh của yếu tố chính trị tinh thần, đưa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lên một tầm cao mới, kết hợp với sức mạnh của chế độ mới, của thời đại mới thành sức mạnh tổng hợp, chiếm ưu thế trước quân thù. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, công tác tư tưởng đã đóng góp một vai trò cực kỳ quan trọng, động viên, cổ vũ ý chí chiến đấu, năng lực sáng tạo và nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cho cuộc quyết chiến chiến lược giành toàn thắng. Công tác tư tưởng trong đại thắng mùa xuân 1975 để lại những bài học quý giá.

Thành công nổi bật và bài học trước hết của công tác tư tưởng trong cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975 là: Tập trung vào giáo dục nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, làm cho toàn quân, toàn dân quán triệt sâu sắc quyết tâm của Quân uỷ Trung ương, động viên cao nhất tinh thần, khả năng và ý chí của toàn dân tộc, chớp thời cơ giành thắng lợi cuối cùng.

Hơn 20 năm bền bỉ tiến hành giáo dục, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, hình thành khát vọng, ý chí giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, công tác tư tưởng đã hun đúc trong mỗi người dân Việt Nam một động lực tinh thần to lớn, bất chấp gian khổ hy sinh quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, động lực tinh thần đã trở thành nền tảng để khi thời cơ xuất hiện chúng ta kịp thời biến thành thắng lợi cuối cùng. Quán triệt tư tưởng của hội nghị Bộ Chính trị họp từ ngày 30/9 – 8/10/1974 “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”. Công tác tư tưởng đã tập trung lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quán triệt quyết tâm chiến lược của Đảng, tổ chức huy động và cổ vũ mọi lực lượng phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng.

Ở miền Bắc thực hiện kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế 2 năm 1974-1975, nhân dân ta đã thu được thành tựu to lớn trên nhiều mặt để tiếp tục chi viện cả sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Ở miền Nam, Trung ương cục và Quân uỷ Miền tổ chức Hội nghị chính uỷ các đơn vị để bàn về công tác Đảng, công tác chính trị mùa khô 1974-1975, đưa ra những nhận định đánh giá cụ thể, chính xác, từ đó vạch ra những chủ trương biện pháp phù hợp để “tiến công địch rộng rãi, mạnh mẽ, liên tục, mạnh dạn, táo bạo nhưng vững chắc, không đánh bừa, đánh ẩu”. Công tác giáo dục, tuyên truyền đã làm cho mọi cán bộ, chiến sỹ ở các đơn vị nhận thức sâu sắc tinh thần: “Lúc này chúng ta đang có thời cơ, 20 năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này… thời cơ này không cho phép lừng chừng, do dự”. Từ đó mọi mặt công tác được khẩn trương tiến hành, hoàn thiện với tinh thần, tốc độ cao nhất.

Nhờ công tác chuẩn bị khẩn trương, tích cực mà chúng ta đã không những bảo đảm đáp ứng đủ tổ chức, lực lượng, trang bị, hậu cần kỹ thuật cho trận quyết chiến cuối cùng mà còn kịp thời xử ký, giải quyết tốt các tình huống, nhiệm vụ mới nảy sinh, giữ vững và nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội, cổ vũ tinh thần cách mạng tiến công, quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai là công tác tư tưởng đã bám sát các đơn vị, các mũi, các hướng, các lực lượng, có nhiều hình thức hoạt động phong phú, linh hoạt và sáng tạo, đáp ứng với quy mô, tốc độ của cuộc tổng tiến công.

Trong điều kiện diễn biến các tình huống trong chiến dịch diễn ra hết sức mau lẹ, bất ngờ, với tinh thần: “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Công tác tư tưởng ở các đơn vị đã bám sát bộ đội “động viên liên tục, làm cho cán bộ, chiến sĩ thấy rõ thắng lợi vừa qua, nhiêm vụ nặng nề, khẩn trương sắp tới nêu cao quyết tâm chiến đấu, hết sức mưu trí, sáng tạo, linh hoạt táo bạo, tranh thủ thời gian hoàn thành nhiệm vụ”. Sự chủ động, tích cực linh hoạt của công tác tư tưởng thể hiện ở chỗ đã biết nắm lấy những nội dung chủ yếu nhất, bằng những hình thức hoạt động linh hoạt sáng tạo để một mặt kịp thời phổ biến, quán triệt nhiệm vụ đến các đơn vị, giải quyết những vấn đề tư tưởng cho bộ đội, đồng thời cổ vũ và hướng dẫn hành động trực tiếp cho cán bộ chiến sỹ. Từ Tổng cục Chính trị đến các đơn vị xác định chủ trương, ra chỉ thị nhanh, gọn mà có hiệu lực cao. Hình thức truyền đạt, phổ biến mệnh lệnh rất đa dạng, linh hoạt, bằng miệng, bằng truyền đơn, bằng loa phóng thanh… hình thức sinh hoạt dân chủ đóng góp trí tuệ tìm các phương án đi nhanh, đánh giỏi, bất ngờ, táo bạo được các đơn vị phát huy tốt. Nhờ đó các đơn vị như Sư đoàn 9 (QĐ4) Sư đoàn 10 (QĐ3) Lữ đoàn Tăng 203 v.v… đã có được những cách hành quân, cách tiếp cận trận địa, cách đột kích… rất đặc sắc.

Công tác tư tưởng ở từng lực lượng, từng giai đoạn, từng nhiệm vụ đã đi sâu vào từng đặc điểm, từng đối tượng bảo đảm sát, trúng, kịp thời, hiệu quả. Trong tổ chức hành quân thần tốc cho 15 sư đoàn, công tác tư tưởng chú trọng đội ngũ cán bộ chỉ huy, lái xe, thợ sửa chữa, kết hợp chặt công tác tư tưởng và công tác tổ chức để bảo đảm hành quân nhanh, an toàn, bí mật. Công tác tư tưởng ở Trung đoàn 1 (Sư 9) đã tập trung giải toả tâm lý lo lắng, ấn tượng nặng nề khi cán bộ, chiến sĩ nhận nhiệm vụ thọc sâu trên chính con đường đơn vị đã thọc sâu hồi tết Mậu Thân 68 và đã bị tổn thất, từ đó củng cố niềm tin, xây dựng quyết tâm cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Với các đơn vị tham gia đánh Buôn Ma Thuột công tác tư tưởng đã đi sâu quán triệt yêu cầu bí mật, cơ động nhanh, tiếp cận gần, đánh chắc thắng v.v…

Nghệ thuật tuyên truyền cổ động đã kết hợp giữa truyền đạt nội dung nhiệm vụ với cổ vũ, hướng dẫn hành động cho bộ đội, vừa thể hiện quyết tâm, tình cảm của cán bộ chiến sĩ, vừa thể hiện được phương châm chỉ đạo hành động qua từng giai đoạn, của từng trận đánh. Khẩu hiệu “quyết chiến quyết thắng” được các đơn vị thay bằng “quyết chiến toàn thắng”. Các đơn vị như Quân đoàn 3, Quân đoàn 1, Bộ tư lệnh 232, Sư đoàn 325, Bộ tư lệnh 559…đều có những khẩu hiệu rất sinh động, cụ thể, ý nghĩa mà dễ nhớ, dễ đọc. Các hình thức thông báo tin thắng lợi, biểu dương, khen thưởng, thi đua v.v…được vận dụng, khai thác có hiệu quả, đặc biệt là hình thức trao cờ cho các đơn vị thi đua cắm lên những vị trí tiêu biểu, quyết định, là hình thức mới có tác dụng to lớn.

Thứ ba là công tác tư tưởng đã quán triệt tinh thần chủ động tiến công, lấy vai trò, tinh thần tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ đảng viên làm đột phá.

Khi sự vận động cách mạng phát triển, tốc độ một ngày bằng 20 năm, công tác tư tưởng đã chủ động, nhạy bén, linh hoạt phát triển trên cơ sở quán triệt sâu sắc quyết tâm của Quân uỷ Trung ương, kịp thời vạch ra những chủ trương nhiệm vụ mới; đặt ra những mục tiêu chiến đấu phát triển không ngừng, nhờ đó liên tục nâng cao khí thế của cán bộ chiến sĩ trong các đơn vị, bảo đảm vừa tập trung hoàn thành nhiệm vụ trước mắt, vừa định hướng tư tưởng cho nhiệm vụ tiếp theo. Sự nhạy bén, chủ động không ỷ lại, thụ động của công tác tư tưởng đã đáp ứng được yêu cầu thần tốc, táo bạo phát huy được vai trò năng động, sáng tạo của các đơn vị, các lực lượng, bắt kịp với tình hình, làm cho bộ đội luôn có sự chuẩn bị sẵn sàng theo hướng tích cực nhất, sẵn sàng đón nhận và đương đầu với những tình thế khó khăn, phức tạp hơn, đồng thời kịp thời vạch trần, đánh bại mọi thủ đoạn chiến tranh tâm lý của địch cũng như đấu tranh khắc phục những quan điểm, biểu hiện hữu khuynh, dao động, ảo tưởng, mất cảnh giác, xả hơi… trong cán bộ chiến sĩ.

Tính chủ động, tích cực của công tác tư tưởng dựa trên cơ sở tinh thần tiên phong gương mẫu, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ đảng viên ở các đơn vị, trong đó đội ngũ cán bộ chính trị đóng vai trò nòng cốt. So với lúc kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp – tổng số cán bộ chính trị trong cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975 đã tăng 4,1 lần và điều quan trọng là đội ngũ này có sự tiến bộ lớn về năng lực trình độ, nên họ giải quyết tình huống mau lẹ hơn, quyết đoán hơn, có trách nhiệm, có kế hoạch hoạt động chặt chẽ hơn, có kỷ luật, có tác phong lãnh đạo, chỉ huy tốt hơn, nhờ vậy mà các chỉ thị mệnh lệnh được triển khai nhanh và chính xác hơn. Cán bộ các cấp không những luôn đi đầu đơn vị trong mọi hoàn cảnh mà còn “miệng nói tay làm, bảo đảm sát người sát việc, trực tiếp lại chỗ giải quyết khó khăn cho cấp dưới”.

Thứ tư là công tác tư tưởng đã dấy lên một phong trào thi đua, một khí thế quyết chiến quyết thắng, đưa cuộc tổng tiến công thành “ngày hội cách mạng của quần chúng” huy động toàn dân tộc vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là hoài bão tha thiết của Đảng và nhân dân ta, là tâm tư nguyện vọng lớn lao của Bác Hồ và đã trở thành ước nguyện nung nấu ngày đêm của cán bộ chiến sĩ ta. Chính vì thế, khi thời cơ giải phóng miền Nam xuất hiện, công tác tư tưởng đã kịp thời biến tư tưởng tình cảm đó thành động lực tình thần lớn lao, động viên, cổ vũ toàn dân tộc tham gia vào trận tổng tiến công lịch sử đưa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam phát triển thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mọi người, mọi hoạt động đều chung một mục tiêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, “tất cả cho giải phóng miền Nam”. Sự nhất quán về mục tiêu làm cho ý Đảng, lòng dân là một, tạo ra sự đồng thuận về chính trị, hình thành nên yếu tố “nhân hoà” vô cùng quan trọng. Từng cán bộ chiến sĩ cho đến mỗi người dân đều mong muốn đóng góp vào bước đi lịch sử, từ đó hình thành thế trận toàn dân, sản sinh ra trí tuệ tập thể, đóng góp và phát huy sáng tạo về mọi mặt để quân và dân ta làm lên những chiến công kỳ diệu, hiếm có trong lịch sử. Có thể nói, một trong những thành công nổi bật của công tác tư tưởng trong cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975 chính là đã phát động được cao trào cách mạng của quần chúng rộng rãi và mạnh mẽ, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật cổ động, phát huy chiến tranh nhân dân.

Trên cơ sở kết hợp ước nguyện thống nhất đất nước với tình cảm Bắc Nam ruột thịt, giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, công tác tư tưởng đã huy động được đầy đủ và cao nhất nguồn sức mạnh chính trị tinh thần và khả năng đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tạo ra sức mạnh tổng hợp có khả năng áp đảo quân thù.

Đại thắng mùa xuân 1975 lịch sử là một mốc son chói lọi, hào hùng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Từ sau chiến thắng vĩ đại này, đất nước Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với giá trị lịch sử lớn lao đó, cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975 còn để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta những bài học vô cùng quý báu bổ sung vào kho tàng truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. 30 năm đã trôi qua, nhưng những bài học về công tác tư tưởng vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.

Nguyễn Hoàng Lân
Tạp chí Tư tưởng văn hoá

Báo điện tử ĐCSVN

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: