Sài Gòn ơi, ta đã về đây!

Sau nhiều ngày hành quân thiếu ngủ căng thẳng mệt mỏi, chiến thắng đến như giấc mơ khiến ai cũng lửng lửng, lơ lơ…

Sau hơn 10 ngày bơi xuồng rồi lội sình, chúng tôi tới được xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Chúng tôi không ngờ rằng đến tháng 4-1975, đây là điểm hội quân của Thành đoàn Sài Gòn – Gia Định cho chiến dịch lịch sử: Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Nhân dân Sài Gòn xuống đường mừng chiến thắng. Ảnh: T. Liệu

Tam Hiệp, điểm hẹn

Đầu tháng 4-1975, tôi được Thành đoàn phân công cùng với Ba Kiệt (Nguyễn Văn Minh), Tư Minh và Sáu Hùng đi xây dựng căn cứ ở xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Định Tường; tìm thêm đường ra ngã ba Trung Lương để nối liên lạc với Sài Gòn.

Đây là vùng trọng yếu, địch đánh phá ác liệt, sau Hiệp định Paris, tình hình có khá lên. Nhiều đồn bót trong tình thế “trung lập”, không càn quét lấn sâu… Tuy nhiên, ở đây không có vườn cây rậm rạp, chỉ có từng lõm vườn tạp bỏ hoang mà chi chít hố bom pháo. Khắp vùng toàn nước lợ, không uống được, chỉ đợi chiều xuống, giặc không càn bố, ra ngoài dân xin nước ngọt để uống.

Những ngày giữa tháng 4-1975, tin tức chiến sự làm cho chúng tôi bồn chồn như lửa đốt, nhiều đơn vị đóng chung quanh cũng lặng lẽ ra đi không nói lời từ giã. Ngày 24-4-1975, giao liên mang thư của anh Nguyễn Chơn Trung (Sáu Quang) với mấy chữ vỏn vẹn: “Sáu Triều về gấp”.

Thế là chúng tôi tức tốc “dọn gánh” trở về Tam Hiệp. Đến trạm giao liên không đúng chuyến vượt lộ 4 định kỳ, may nhờ có đoàn hậu cần tỉnh tự lực vượt lộ không cần giao liên, tôi và anh em “bám” theo.

Hai bên lộ đông nghịt người chuẩn bị qua lộ. Căn cứ xã Tam Hiệp mà chúng tôi “dọn ổ” từ đầu năm 1975 trở thành điểm dừng chân cuối cùng của Thành đoàn trước khi tiến vào Sài Gòn.

Tiến về Sài Gòn

Thực ra, lúc đó tôi và mọi người chỉ biết đi là đi, người đi sau đi theo người đi trước, không ai hỏi đi đâu, chỉ biết là đang tiến về Sài Gòn, ai không đi nổi thì để lại phía sau, có giao liên rước.

Quân ta hàng hàng lớp lớp, ai cũng trang bị tận răng, nào lực lượng Dân – Chính – Đảng, nào bộ đội chủ lực của Sư đoàn 10 xếp thành hàng dài vắt ngang cả cánh đồng. Khổ nhất là không có nước uống, bởi chỉ toàn nước phèn, muốn uống thì phải lọc qua một lớp tro than củi.

Cũng lạ là giữa đồng trống mênh mông cỏ năng có những hố bom nước phèn, lại có hố bom nước ngọt, thế là quân ta xuống lấy nước, đông quá nên tới phiên người đến sau thì nước nổi sình, vậy mà cũng phải uống, không thấy ai đau bụng, tiêu chảy gì.

Tới bờ sông Vàm Cỏ Đông thì dừng lại. Mấy đêm liền, tôi cùng với anh Ba Tôn và anh Bảy Nghĩa đi ra ấp chiến lược để nối liên lạc với phong trào ở Sài Gòn.

Tôi nhớ người tôi gặp từ Sài Gòn ra để chuyển thư chỉ đạo khởi nghĩa của Thành đoàn là Nguyễn Thị Lương Ngọc (Chín Thảo), nữ sinh Trường Đức Trí. Cô nữ sinh nhỏ nhắn và dễ thương này chỉ được hướng dẫn điểm hẹn gặp là nơi “có 3 cây dừa cạnh ngôi mả đá” nhưng khi vào xóm thấy ở đâu cũng có cây dừa và mả đá!

Rồi tiếp tục hành quân tiến về Sài Gòn, tới  một nơi thuộc vùng giáp ranh giữa Long An và Sài Gòn. Tôi nhớ tối hôm đó, nhìn phía sân bay Tân Sơn Nhất thấy nhấp nháy ánh đèn máy bay trực thăng di tản như đàn ong vỡ tổ, lòng trào dâng cảm xúc chiến thắng.

Đoàn giao liên của Trung ương Cục Miền Nam tiến về Sài Gòn sáng 30-4-1975. Bìa phải là bà Nguyễn Thị Cúc – nguyên Chủ tịch Công đoàn Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn. Ảnh: H.Đ.N.Tân

Toàn thắng đã về ta

Trưa 30-4, Bộ Chỉ huy ra lệnh tập trung lấy gạo hành quân tiếp, một số đoàn tập trung cạnh hố bom để chuẩn bị đi thì bỗng tất cả hô vang: “Việt Nam toàn thắng! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Mọi người tung mũ vải lên trời. Lúc đó nghe trên đài phát thanh đang hát Nối vòng tay lớn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Thế là Bộ Chỉ huy ra lệnh: Không ai được vứt ruột tượng đựng gạo và các loại quân trang vì phải cảnh giác mọi diễn biến, kinh nghiệm chiến dịch Tết Mậu Thân cho thấy ai cũng tưởng toàn thắng, vứt nồi niêu rồi chạy ra không có cái gì để nấu.

Bộ Chỉ huy ra lệnh tất cả đoàn quân xuống rạch rửa tay, rửa mặt sạch sẽ, thay quần áo mới, tất cả giương cao cờ giải phóng. Bộ Chỉ huy giải thích: “Chúng ta chuẩn bị vào tiếp quản một TP hiện đại, văn minh”.

Thế là chúng tôi tiến về Bà Hom lúc 16 giờ. Đến Bà Hom có đoàn xe từ trung tâm TP ra đón. Đúng là đi với Bộ Chỉ huy tiền phương có khác, người hướng dẫn đoàn xe là đồng chí Sáu Tống phụ trách giao liên Thành ủy Sài Gòn – Gia Định mặc áo bốn túi, đội chiếc mũ nỉ màu nâu giống như ông chủ xe đò.

Nhóm Thành đoàn đi trên một chiếc xe tải nhỏ tiến về Trường Trung học Pétrus Ký (nay là Trường Lê Hồng Phong). Bà con TP tụ tập hai bên đường chào đón quân giải phóng. Nhiều cơ quan chính quyền Sài Gòn không ai quản lý, bị nhiều người vào “hôi của” gây cảnh lộn xộn trên đường phố.

Đoàn Bộ Chỉ huy tiền phương đến Trường Pétrus Ký. Tôi nhớ đồng chí Mai Chí Thọ (Năm Xuân) bước vào trường, có một đại diện trường đứng sẵn trước cửa trường tiếp đón. Cả hai bắt tay nhau, rồi nhẹ nhàng đi song đôi như hai thầy giáo.

Tôi được Thành đoàn báo là thuộc “biên chế” mũi nhọn quận 11 của anh Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) nhưng về Tam Hiệp trễ nên đoàn anh Năm Nghị đã hành quân. Tôi nhập vào Bộ Chỉ huy tiền phương cùng các anh Nguyễn Chơn Trung, Lê Công Giàu (Út Mới), Trần Văn Khánh (Sáu Khôi), Phan Ngọc Diệu (Tư Hà). Bộ Chỉ huy tiền phương do đồng chí Mai Chí Thọ lãnh đạo. Đoàn không thể đi theo Quốc lộ 4 hay hành quân chính diện vào Sài Gòn mà phải đi ngược về phía biên giới, tức ngã ba Bình Thành thuộc khu Mỏ Vẹt tiếp giáp Long An với Campuchia rồi vượt Đồng Tháp Mười vào sông Vàm Cỏ Đông thuộc địa phận Đức Hòa, Đức Huệ (Long An). Từ đây, chúng tôi đã có thể nhìn thấy vầng sáng Sài Gòn – Hòn ngọc Viễn Đông.

Kỳ tới: Đoàn tụ

Hoàng Đôn Nhật Tân

Bài trước
Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: