Chuyện kể về đường Trường Sơn

(Chinhphu.vn) – Nửa thế kỷ qua, đường Trường Sơn- đường Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đây là con đường thể hiện khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, là biểu tượng của ý chí quyết chiến, quyết thắng, của lòng dũng cảm và khí phách anh hùng và sức sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

“Chưa ở đâu, mà con người lại có sức chịu đựng bền bỉ, dẻo dai như ở Trường Sơn”

Mỗi câu chuyện của các chiến sĩ Trường Sơn năm xưa đều lung linh ánh sáng của huyền thoại “Vạn lý Trường Sơn”.

Bằng sự thôi thúc của lòng yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, những chàng trai cô gái tuổi 20, tạm xa ruộng đồng, nhà máy, mái trường, theo tiếng gọi của non sông đã đến với tuyến lửa Trường Sơn dâng hiến tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Với nhiệt huyết của tuổi trẻ và trái tim yêu nước, nhiều chiến sĩ ở Trường Sơn đã làm nên những điều phi thường.

Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn- nguyên Bí thư Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật- một trong những chiến sĩ lái xe đầu tiên của bộ đội Trường Sơn kể: “Được vào chiến trường để chiến đấu là khát vọng của tất cả tuổi trẻ lúc bấy giờ. Nhưng nếu được trở thành chiến sỹ lái xe để chở hàng, chở quân vào miền Nam thì lại càng phấn khởi, một vinh dự của lớp thanh niên chúng tôi. Bom đạn địch nhiều vô kể nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm vượt qua”.

Lái xe 30 đêm liên tục rất khó vì không những cần sức khỏe tốt, mà còn phải có tinh thần chiến đấu gan dạ, dũng cảm. Bom đạn kẻ thù đánh phá ác liệt, người lái xe mỗi đêm đi hơn trăm cây số là qua 3-4 trọng điểm, đối mặt với 4-5 trận chiến đấu ác liệt cũng là chuyện thường. Vậy mà Kim Ngọc Quảng đã 2 năm liền liên tục không nghỉ bên tay lái. Đây thực sự là một tay lái thép và ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang năm 1969.

Cũng chưa ở đâu, mà con người lại có sức chịu đựng bền bỉ, dẻo dai như ở Trường Sơn. Đại tá Nguyễn Văn Lạn, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn xe 471 nói rằng, ở Trường Sơn không ngày nào không có người hy sinh. Nhưng vượt lên nỗi đau mất mát, các đoàn xe vẫn tiến về tiền tuyến, vì một ý chí thống nhất non sông: “ Ngày nào cũng có người hy sinh, nhưng chúng tôi không hề nao núng. Cũng không ai nề hà chuyện đói, khát. Mặc dù trong kho còn gạo nhưng không ai tơ hào một hạt của chiến trường. Tư lệnh cũng phải ăn cháo măng hàng tuần liền. Đó là ý thức của tất cả mọi người vì chiến thắng chung. Sư trưởng cũng nhịn ăn để làm gương cho chiến sĩ”.

Nhà văn Nguyễn Việt Phương, vốn là một thanh niên Hà Nội, nhiều năm sống và chiến đấu ở các binh trạm thuộc địa phận tỉnh Quảng Bình. Hàng chục năm đã trôi qua, người Chính ủy Binh trạm 14, trên đường 20 Quyết Thắng vẫn không thể quên một chuyến vần xăng dưới chân trọng điểm Chà Ang: “Lúc đó, xăng không còn mà đường không thể đi được, địch đánh tắc cả đường, phải chuyển tải bằng cách vần xăng ngay dưới chân trọng điểm Chà Ang. Trong lúc vận chuyển thì máy bay ném bom làm vỡ thùng xăng, lửa cháy bùng…Các chiến sỹ vội bẻ cành cây, rồi cởi cả quần áo dập lửa, có người ôm lấy thùng xăng. Vần được 30 phi xăng lên phía trước thì 29 anh em không bao giờ dậy nữa…”

Ở Trường Sơn, con người dành cho nhau tình nhân ái vô bờ: yêu thương nhau, nhường cơm, xẻ áo, điếu thuốc bẻ đôi… Đó là tình cảm đùm bọc của đồng bào địa phương với bộ đội, dân công, thanh niên xung phong. Đồng bào sẵn sàng ăn sắn, ăn rau, bớt cả khẩu phần ăn của người già, trẻ em, bớt từng củ khoai, củ sắn, miếng đường nhường cho bộ đội…

Theo Đại tá Trần Tiến Hoạt (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam), đường Trường Sơn- đường Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là con đường của khát vọng độc lập, thống nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc ta hun đúc qua mấy nghìn năm. Chúng ta có thể tự hào về đường Trường Sơn- đường Hồ Chí Minh, con đường đã trở thành một huyền thoại, một kỳ tích.

Hơn 2 vạn bộ đội, thanh niên xung phong đã ngã xuống để giữ cho con đường Trường Sơn huyết mạch thông suốt. 32.000 người bị thương, hàng ngàn người khác phải chịu ảnh hưởng lâu dài của chất độc da cam. Sự hy sinh to lớn ấy đã góp phần làm nên Mùa xuân đại thắng 1975. Những hy sinh to lớn năm xưa đã tiếp sức viết nên trang sử mới của đường Hồ Chí Minh của thời đại ngày nay- thời đại công nghiệp hóa-hiện đại hóa và hội nhập của đất nước.

Mai Hồng

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: