Những bài học chiến tranh (Kỳ 2)

LTS: Chiến tranh ở Việt Nam đã lùi xa gần 35 năm, nhưng với những người lính Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam không thể nào quên được những gì mà họ đã gây ra cho đất nước và con người của mảnh đất hiền hòa, hiếu khách…

>> Những bài học chiến tranh

Bài 2. Họ mong muốn điều gì ở hậu phương?*

Chúng tôi biết một điều: Những gì Tổng thống Lyndon Johnson, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara và Tướng William Westmoreland đang làm đều có thể dẫn chúng tôi đến chỗ chết.

Họ muốn chúng tôi đi tuần tiễu nhiều hơn, phục kích ban đêm nhiều hơn, giáp mặt Việt Cộng và các đơn vị của quân đội Bắc Việt nhiều hơn. Họ bảo chúng tôi phải giữ liên lạc và chiến đấu với kẻ thù. Họ muốn có thêm những trận đánh lớn kèm theo nhiều thương vong cho cả hai bên.

Ai thực sự trợ giúp người lính?

Chiến lược của Mỹ – một cuộc chiến làm tiêu hao sinh lực địch – phụ thuộc vào việc lấy thân thể của chúng tôi để làm suy yếu lực lượng địch. Đó là cách một cuộc chiến làm tiêu hao sinh lực địch được triển khai. Nhưng nếu những người biểu tình chống chiến tranh sớm thực hiện các phong trào phản chiến thì có lẽ chúng tôi sẽ về nhà sớm hơn. Vậy ai là người thực sự trợ giúp những người lính?

Các Thượng nghị sĩ Ernest Gruening và Wayne Morse đã trợ giúp những người lính khi họ bỏ phiếu chống Nghị quyết về vịnh Bắc Bộ mà Tổng thống Johnson dùng làm lý do để leo thang chiến tranh. Những người dân luôn bàn luận về cuộc chiến ở nhà mình cũng như ở nhà thờ chính là đang trợ giúp những người lính. Bởi một số người chuyển từ thắc mắc sang nghi ngờ, rồi tham gia các cuộc tuần hành biểu tình nhằm kêu gọi kết thúc chiến tranh.

Sinh viên-học sinh miền Nam xuống đường biểu tình phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam. Ảnh: Tư Liệu

Sinh viên cũng chính là lực lượng hỗ trợ những người lính. Một số bạn học của tôi phản đối chiến tranh bằng việc không tham dự lễ kỷ niệm ngày tốt nghiệp khi trường đại học của tôi trao bằng danh dự cho McNamara. Một trong những bạn cùng phòng với tôi – Elliott Isenberg – thậm chí còn từ chối nhận bằng đại học. Một người bạn khác, Marshall Bloom viết bài xã luận trên tờ báo của sinh viên chỉ trích nhà trường vì đã trao bằng danh dự cho McNamara. Marshall cũng là người thường xuyên viết thư từ khích lệ tôi trong suốt thời gian tôi tham chiến. Trong những người bạn tốt nhất của tôi có nhiều người muốn thúc đẩy hòa bình như thế.

Tôi biết các cuộc chiến tranh nổ ra không phải với những ý tưởng mà với những khẩu hiệu ngắn ngủi đến nỗi chỉ viết vừa trên một mẩu giấy nhỏ, chẳng hạn như: xuất phát, đi cùng với sự nghiệp, chiến tranh chống khủng bố, mở rộng tự do, khiến thế giới an toàn để đảm bảo dân chủ, chuyển hướng, tiến triển, ánh sáng cuối đường hầm, đếm số thương vong, đếm số người tử trận, hòa bình và vinh dự, hãy cho hòa bình một cơ hội, hãy rút quân về nước và hỗ trợ những người lính. Thậm chí, những người lính cần những khẩu hiệu ngắn hơn bởi những biểu ngữ này cần đủ ngắn để viết vừa trên mũ của họ.

Ở Việt Nam, khẩu hiệu gắn trên mũ lính Mỹ phổ biến nhất là biểu tượng hòa bình hình mũi tên. Biểu tượng này thể hiện được những gì người lính muốn nói về chiến tranh. Thậm chí trông nó còn giống một loại vũ khí – một ngọn giáo hay một quả tên lửa. Biểu tượng này dường như muốn nói rằng: “Tôi sẽ mang hòa bình tới dù bạn có muốn hay không và nền hòa bình này sẽ giết chết bạn”.

Đặt người dân vào tình trạng nguy hiểm

Những người lính muốn công dân của đất nước họ nhận thấy rằng lúc đất nước có chiến tranh, người ta bị giết hoặc bị thương bởi chính phủ bỏ phiếu cử họ đến những nơi nguy hiểm. Nếu một người lính cho rằng quyết định tuyên bố chiến tranh là quyết định tai hại nhất mà chính phủ chúng ta có thể làm thì theo đó, anh ta cũng sẽ thấy khó chịu khi người dân không nhận thức được những hậu quả kinh khủng của nó.

“Không có cuộc chiến tranh nào là tốt đẹp cũng như không có nền hòa bình nào là xấu xa”.

Benjamin Franklin

Có lẽ khi tuyên bố chiến tranh, chính phủ cần phải tính đến cả ngân sách dành cho thương vong: Chúng ta bỏ phiếu để dự trù chi phí và hậu quả của cuộc chiến, chẳng hạn 4.500 lính tử trận; khi số thương vong đạt đến con số đó, chúng ta sẽ quyết định tiếp.

Tinh thần của người lính sẽ được nâng cao nếu ai đó nói rằng: “Cảm ơn anh, tôi biết đó là công việc nguy hiểm.” Công dân có thể đồng ý hoặc không đồng ý việc chính phủ tham gia chiến tranh; một số người phản đối tất cả các cuộc chiến tranh hoặc phản đối việc dùng vũ lực như một biện pháp giải quyết xung đột quốc tế. Nhưng mọi công dân đều thừa nhận một thực tế là chính phủ của họ đang đặt cuộc sống con người vào tình trạng nguy hiểm. Những người lính chỉ có thể biết rằng nếu người dân chấp nhận với việc chiến tranh xảy ra, điều đó có nghĩa là sẽ có nhiều thương vong và nhiều điều tồi tệ khác.

Những người lính có thể là những người tình nguyện, hoặc là lính quân dịch hay những người tình nguyện tham gia quân đội trong thời bình và sau đó được gọi trở lại thực hiện nhiệm vụ trong thời chiến. Tôi chưa bao giờ phân biệt được những người tình nguyện và lính quân dịch trong trung đội tôi: mỗi người đều có nhiệm vụ riêng, đều phàn nàn và đều để ý đến người khác. Nếu ai đó nói cho tôi biết anh ta là lính quân dịch, tôi cũng sẽ chẳng nhớ được. Bị đi lính quân dịch có lẽ là cách những người lính dễ dàng giải thích với nhau hơn.

Sau cùng, chúng tôi thường nghĩ, có điên mới tình nguyện nhập ngũ. Lính quân dịch cũng nhận được chế độ và được đào tạo như lính tình nguyện, họ hành xử cũng chẳng khác gì khi tới Việt Nam. Vì thế, căn nguyên của xung đột không phải là sự phân biệt giữa lính quân dịch và lính tình nguyện mà do sự khác biệt sắc tộc. Những gì lính tình nguyện mong muốn từ việc họ tòng quân không khác với những mong muốn của lính quân dịch. Cả hai đều muốn được đối xử như nhau khi họ trở về nhà.

Có một số việc đơn giản mà các công dân có thể làm trong thời kỳ chiến tranh. Dành một vài phút trong những dịp vui như sinh nhật, lễ kỷ niệm, đám cưới và các bữa tiệc trong kỳ nghỉ để nhớ tới những gia đình và bạn bè sinh sống ở nơi đang diễn ra chiến sự bởi tính mạng của họ đang gặp nguy hiểm. Trong các buổi lễ tôn giáo, những dịp hội họp ở trường học và đoàn tụ gia đình, hãy đọc to danh sách tên tuổi của những người bị thương và thiệt mạng hàng ngày in trên báo địa phương. Hãy yêu cầu báo địa phương in danh sách thương vong ở ngay trang bìa thay vì chỉ in ở ở những trang phía trong.

Chúng ta cần phải luôn nhớ rằng chiến tranh đang xảy ra. Hãy nói “Xin chào người lính” hoặc “Xin chào thủy thủ” với những người đang tham gia quân đội chúng ta gặp ở sân bay, ga tàu hay bến xe buýt. Có thể họ đang trên đường ra mặt trận hoặc vừa trở về từ chiến trận ở nước ngoài. Nếu bạn ngồi gần một người lính, hãy dành vài phút hỏi thăm anh ta đang chiến đấu ở đâu, nhiệm vụ của anh ta là gì và tình hình chiến sự như thế nào. Nếu những người lính biết người dân nước họ luôn quan tâm tới những gì đang xảy ra ngoài mặt trận, họ sẽ luôn vững tin cầm chắc tay súng. Nếu những người lính có thể tránh được những sự kiện như vụ Mỹ Lai thì sẽ tốt hơn rất nhiều cho chúng ta.

(Kỳ 3. Hãy cứu lấy tôi)
* Tít trong bài do Đất Việt đặt

John Merson

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: