Những bài học chiến tranh (Kỳ 5)

Tính đến tháng 4 năm 1967, tôi đã chiến đấu trong trung đội bộ binh tại Việt Nam tròn một năm. Suốt ngày, chúng tôi tuần tiễu các vùng xung quanh Đại Lộc, một làng nhỏ nằm ở phía tây Đà Nẵng.

>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 1)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 2)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 3)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 4)

Kỳ 5: Thảm sát ở Đại Lộc

Ở Đại Lộc, chúng tôi tập trung ở một vị trí và biết khá rõ về làng mạc, địa hình đường sá trong làng. Chúng tôi lục soát tất cả các nhà để tìm vũ khí, thuốc nổ và nguồn cung cấp của quân địch. Thường thì chúng tôi đốt hết nhà cửa và giết hết súc vật trong quá trình lục soát các làng mạc. Chúng tôi cho phá tung những ngôi nhà mái lá và cho nổ hết các thùng chứa gạo để tìm bằng chứng về việc chủ nhà có thể đang giúp đỡ lính du kích của Việt Cộng. Buổi đêm, chúng tôi lập các điểm phục kích trên đường mòn dẫn vào Đại Lộc và dọc con sông chảy qua khu vực công sự boongke của chúng tôi phía trên đồi. Vài tuần một lần trực thăng đưa chúng tôi đi càn và triển khai các chiến dịch quy mô lớn ở phía tây và phía bắc.

“Gậy ông đập lưng ông”

Trong những chiến dịch lớn này, chúng tôi phải đi nhiều ngày qua những khu rừng núi giá lạnh và tối tăm hoặc phải vượt qua những cánh đồng lúa rộng mênh mông. Ở khu vực không quen thuộc lắm, chúng tôi thường bị phục kích. Khi chúng tôi vừa ngồi xuống để đổ nước ra khỏi giày và kéo đỉa ra khỏi chân thì bị lính bắn tỉa của Việt Cộng hay các nhóm du kích tấn công. Nhiều đồng đội của chúng tôi bị giết hoặc bị thương vì dẫm phải mìn chôn dưới đất, những quả mìn này thậm chí được làm từ đạn pháo chưa nổ của Mỹ nối với dây kích nổ. Chúng tôi bị sốc bởi những kiểu thương vong như thế và điều này làm chúng tôi cảm thấy mệt mỏi mất phương hướng. Quan sát những người lính có kinh nghiệm hơn xử lý công việc của họ, dần dần chúng tôi biết được là không nên nhìn vào cảnh tượng khủng khiếp của những người bị chết hoặc bị thương mà nên cố gắng nhìn về phía chân trời, về phía con sông, cây cối, và những đường hào để cố tìm ra dấu hiệu về những nguy hiểm đang rình rập mình.

Phụ nữ, trẻ em Việt Nam không có vũ khí trong tay vẫn bị lính Mỹ giết hại, đánh đập dã man. Ảnh: T.L.

Trong suốt một tuần lễ mùa mưa, chúng tôi phải trèo lên những ngọn núi phía bắc Đại Lộc. Càng lên cao thì sương mù càng dày. Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi thiết lập các vị trí phòng thủ trên những con dốc, đó là một vòng hố công sự không sâu lắm, chạy hướng lên phía trên, phía dưới và bao quanh sườn núi. Hai hoặc ba người một hố, chúng tôi thay nhau căng mắt nhìn ra bóng đêm để tìm kiếm những dấu hiệu của vật thể chuyển động. Sau hai ngày đêm đi trong mưa và sương mù, chúng tôi phải đến nơi tiếp cận nguồn lương thực và thuốc men cho những người bị thương, hầu hết trong số họ bị đau chân đến nỗi không thể đi được. Khi chúng tôi xuống núi, ánh mặt trời làm tan màn sương để lộ ruộng lúa rộng lớn. Mang súng cao qua đầu, chúng tôi lội qua một ruộng lúa cao khoảng nửa mét. Khi đã qua được bên kia đồng lúa, chúng tôi tới được một ngôi làng nhỏ nằm trên một vùng đất sét khô vững chắc, đây là vùng đất khô ráo đầu tiên chúng tôi gặp được trong vòng hai ngày qua. Ngôi làng không một bóng người; chúng tôi thả vũ khí và đồ đạc xuống đất, cởi giày bị ướt, rồi chờ máy bay tới tiếp tế lương thực và thuốc men.Bất chợt một tiếng nổ lớn vang lên kéo theo loạt đạn súng trường và súng máy tấn công chúng tôi từ hai hướng. Hai đồng đội của chúng tôi đã bị bắt phía ngoài khu đồng trống; họ đứng chờ ở đó để chỉ hướng cho trực thăng tới tiếp tế. Phần còn lại chúng tôi cố bò tới chỗ dựng vũ khí và bắn trả. Cox có một khẩu súng máy nhưng lại không có đồng đội nào gần đó để giúp anh bắn. Tôi và anh ta đặt súng ở rìa làng và bắn đủ mạnh để bảo vệ đồng đội ở những khu vực trống trải. Chúng tôi trông thấy kẻ địch đang tiến tới từ một chiến hào ngay phía ngoài làng. Trong năm phút, chúng tôi đã bắn trả để đẩy lùi cuộc tấn công và giúp những đồng đội ở vùng đồng ruộng trống trải có thể lùi vào trong làng. Không lâu sau đó, tiếng đạn tấn công từ phía địch phải ngừng lại.

Sai lầm

Cho đến lúc trời tối, chúng tôi đã sơ tán được những người bị thương và đã nhận được súng đạn lương thực tiếp tế. Cuộc sống trở lại bình thường. Một ngày như thế này có thể xem là sự tóm tắt cả một năm của tôi trên chiến trường: đó là trải qua nhiều ngày đi đến vùng đất lạ, bị ngạc nhiên, bị tấn công khi không phòng bị, được cứu bởi hỏa lực mạnh và trực thăng và lại tiếp tục chiến đấu. Chúng tôi có lợi thế về sức mạnh quân sự nhưng đôi lúc tôi cảm thấy điều này cũng không giúp được nhiều.

Sau đó nhiều ngày, trở lại trên đồi Đại Lộc, chúng tôi nhận được mật cáo là Việt Cộng đang di chuyển dọc theo con sông về hướng chúng tôi. Khi lục soát dọc bờ sông, tôi tìm kiếm lối mòn dưới mặt nước. Vừa bơi vừa phải mang một khẩu súng trên tay, tôi dẫm vào một cái hố nằm dưới bờ sông, ở ngay dưới mặt nước, dẫn tới một khoảng trống dưới mặt đất. Khi bóng tối đổ xuống, chúng tôi quyết định lập một điểm phục kích ngay trên bờ sông và chờ lính của địch vượt sông vào ban đêm. Một nửa trung đội chúng tôi trở lại đỉnh đồi, và khoảng 15 người ở lại để canh chừng lối vào của một cái động đá nằm cạnh con sông.

Ngay sau nửa đêm, đồng đội của chúng tôi trên bờ sông phát hiện thấy có thuyền đang đi về phía lối vào động đá. Chờ những con thuyền này đến gần, họ đồng loạt tấn công bằng súng trường tự động, súng máy và lựu đạn. Từ khu đồi hướng ra điểm phục kích, chúng tôi cũng hỗ trợ tấn công bằng pháo, đạn lửa và bộc phá. Sau khi ngừng bắn, các đội trưởng ra lệnh bắn pháo sáng và lục soát dọc con sông. Khu vực dưới bờ sông bây giờ trở thành là một không gian chết chóc, không có người nào trên thuyền còn sống sót.

Những người mà chúng tôi đã bắn chết đều là những phụ nữ, trẻ em và người già không hề có vũ khí, có lẽ khoảng 20 người. Khi đồng đội của chúng tôi trở về khu đồi đóng quân, sự đau đớn và buồn rầu hiện rõ trên khuôn mặt họ. Những đôi mắt vô hồn thờ thẫn, cố gắng hiểu xem chuyện gì đã xảy ra. Chẳng ai muốn nói gì về những gì đã xảy ra. Mọi người đều rất buồn vì những người trên thuyền đều là những người hoàn toàn không có vũ khí. Một số còn cảm thấy tội lỗi và hầu hết chúng tôi đều nhận thấy như vậy. Những lời ăn năn của họ có vẻ không liên hệ gì với nhiệm vụ mà chúng tôi được giao. Như thể chúng tôi không có quyền suy nghĩ về những nạn nhân của mình. Bàn luận về những cảm giác này là đi ngược lại với những gì chúng tôi đang tiến hành: không suy nghĩ gì cả, hãy cứ làm. Khi tôi nhìn những khuôn mặt với đôi mắt sâu hoắm của họ, tôi cố gắng không suy nghĩ tới bất cứ thứ gì.

Kỳ 6: Tìm kiếm sự tha thứ

John Merson

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: