Ðấu tranh cách mạng trong các nhà tù với đại thắng mùa Xuân năm 1975

ND – Giặc Pháp, giặc Mỹ đến xâm lược nước ta, luôn phải đương đầu với một sự phản kháng rất quyết liệt. Ðối phó với một dân tộc như vậy, chúng phải sử dụng nhiều thủ đoạn, đặc biệt là đàn áp đẫm máu và bắt bỏ tù những người yêu nước để hành hạ về thể xác và tinh thần.

Ngày 29-11-1861, giặc Pháp chiếm Côn Ðảo thì đến đầu năm 1862, chúng xây dựng ở đó nhà tù đầu tiên ở nước ta. Nhà tù Côn Ðảo là nơi giam giữ những người có trọng án được đưa từ các nhà tù trong đất liền ra như Hỏa Lò, khám lớn Sài Gòn, Sơn La, Lao Bảo, Ban Mê Thuột… Tù nhân được phân loại theo tội danh: tù lưu, tù thường phạm và quốc sự phạm (bao gồm cả tù chính trị và tù binh). Trong kháng chiến chống Pháp, vào lúc ta bắt được nhiều tù binh Pháp, trong đó có một số sĩ quan, chúng phải lập trại tù binh có quy chế để khi cần có thể trao đổi tù binh. Ngoài tù binh, còn có tù thường dân trong chiến tranh.

Ðấu tranh cách mạng trong các nhà tù là cuộc đấu tranh của các quốc sự phạm, được tạm chia ra hai thời kỳ: thời kỳ thuộc các thế hệ những người dân và sĩ phu yêu nước từ 1862 đến 1930 và thời kỳ sau năm 1930. Ðấu tranh trong các nhà tù trước năm 1930 là những phản ứng chống đối tự động của cá nhân, những cuộc nổi dậy chống đối tự phát, tố cáo chế độ giam giữ khắc nghiệt, chống chế độ lao dịch khổ sai, giết bọn cai quản ác ôn và tìm cách vượt ngục… Ðấu tranh trong các nhà tù từ 1930 về sau phần lớn là những cuộc đấu tranh của các thế hệ những người đã tham gia phong trào yêu nước, tham gia các tổ chức cứu quốc và những đảng viên cộng sản. Ðiểm khác trong thời kỳ này, là có sự lãnh đạo của Ðảng.

Ðế quốc Mỹ xâm chiếm miền nam, lập ra bộ máy chính quyền tay sai, ngoài các nhà tù đã có, chúng cho xây dựng thêm nhiều trại giam, nhà tù với nhiều tên gọi khác nhau. Thời Ngô Ðình Diệm, có 44 trại giam cấp tỉnh, 176 trại giam cấp huyện. Ðến thời Nguyễn Văn Thiệu tăng lên 2.000 trại giam và nhà tù lớn nhỏ. Trên hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ cũng có chỗ giam người.

Ðể tìm bắt những người yêu nước, được chúng gọi là “Việt cộng”, có cả một mạng lưới an ninh, mật vụ dày đặc. Ngoài ra, quân đội Sài Gòn, quân Mỹ còn mở nhiều chiến dịch để đánh phá, bắt người. Nơi giam giữ đông nhất là nhà tù Côn Ðảo và trại tù binh Phú Quốc.

Ðối với người bị chúng bắt, sau thẩm vấn chưa thấy có dấu hiệu khả nghi là Việt cộng thì kiếm cớ buộc phải lo lót để được trả tự do với điều kiện là viết lời cam kết trung thành với chế độ Việt Nam Cộng hòa và chịu hợp tác với chúng trong việc tố giác “Việt cộng'”. Những người nghi là “Việt cộng” thì chúng tìm đủ cách có thể làm được để người bị chúng bắt phải đau đớn, hoảng sợ, phải khai các bí mật của cách mạng, của Ðảng cho chúng.

Sau những ngày đầu tra khảo, chúng đưa một số vào các trại cải huấn, bắt người tù học tập nội quy “tố cộng”, buộc xé cờ Ðảng, xé cờ đỏ sao vàng, xé hình Bác Hồ, chiêu dụ hàng phục, cam kết từ bỏ tư tưởng cộng sản.

Ðối với số người chúng cho là cán bộ tình báo quan trọng của ta, chúng không đưa ra tòa xử mà gọi là tù không án để chúng tự do tra khảo, khai thác dai dẳng. Ðối với số người chúng đưa ra tòa kết án rồi tống vào các nhà giam thì bị cầm cố khắc nghiệt, hoặc bắt làm công việc khổ sai nặng nhọc đến kiệt sức, cốt làm cho người tù lâm bệnh chết, hoặc sống thì lúc mãn án cũng “thân tàn, ma dại” không làm gì được mà chỉ thêm nỗi khổ cho người thân. Hàng vạn đồng chí, đồng bào yêu nước bị giam ở các nhà tù, nhiều nhất là ở nhà tù Côn Ðảo và trại tù binh Phú Quốc đã hy sinh, đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt.

Trong tình cảnh bị bắt, bị tù như trên, nếu muốn được sống, muốn không bị làm ô danh, chỉ có đấu tranh. Ðó là cuộc đấu tranh mà vũ khí của những người tù chỉ là tinh thần, tư tưởng, sức mạnh để đấu tranh với địch, là đoàn kết, đoàn kết trong nội bộ tù chính trị, đoàn kết giữa tù chính trị với các bạn tù khác. Trường hợp đặc biệt, đoàn kết cả với bạn tù người nước ngoài đấu tranh cho cách mạng Việt Nam.

Ðó là một cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn, gian khổ, ác liệt, dai dẳng suốt thời gian ở tù.

Yêu cầu của cuộc đấu tranh đó là:

Giữ vững khí tiết của người cách mạng, quyết bảo vệ các bí mật của Ðảng, của cách mạng.

Giữ uy danh người cách mạng trước kẻ thù, giữ một lòng trung thành với Tổ quốc, với Ðảng, với nhân dân, với Bác Hồ.

Nêu cao chính nghĩa của người yêu nước, trước các phiên tòa xử án.

– Chống nội quy hà khắc, đòi cải thiện đời sống vật chất tinh thần, đòi cấp cứu bạn tù bị ốm nặng, đòi tổ chức lễ tang cho bạn tù bị chết, với nhiều hình thức: hô la, tuyệt thực, mổ bụng, giết giám thị ác ôn… Các cuộc đấu tranh này không phải lúc nào cũng giành được thắng lợi. Có nhiều trường hợp bị gây khó khăn thêm. Có cuộc chúng huy động cả đại đội, cả tiểu đoàn cảnh sát cho phóng phi tiễn, lựu đạn cay vào phòng giam làm cho ngất xỉu hết.

– Ngoài tự lực đấu tranh, còn tìm mọi cách thông tin cho giới báo chí trong nước, ngoài nước có tư liệu tố cáo chế độ nhà tù dã man của địch.

– Khi có thời cơ thì tổ chức vượt ngục.

– Biết được Hiệp định Pa-ri có điều khoản trao trả tù, thì đấu tranh đòi được trao trả, chống địch cưỡng bức bằng bạo lực, bắt lăn tay, chụp hình lập hồ sơ hòng biến người tù chính trị yêu nước thành “gian nhân hiệp đảng”, để không trao trả.

Tháng 4-1975, nhà tù Côn Ðảo có 7.448 tù nhân trong đó có 4.334 tù chính trị (494 phụ nữ) không chịu lăn tay, chụp hình nhưng vẫn không được trao trả.

– Khi hay tin về cuộc nổi dậy và tổng tiến công của quân đội ta vào Sài Gòn, tù chính trị ở Côn Ðảo đã vận động các giám thị không thi hành lệnh ném lựu đạn vào các phòng giam. Trong đêm 30-4 đến sáng 1-5-1975, tất cả tù chính trị đã nổi dậy, vừa tranh thủ, vừa khống chế giám thị các trại giam để thoát ra khỏi nhà giam. Việc trước hết là thành lập Ðảo ủy Ðảng lâm thời, để thống nhất lãnh đạo và thành lập Ủy ban hòa hợp, hòa giải dân tộc tỉnh Côn Sơn quản lý toàn vùng Côn Ðảo.

Chính quyền cách mạng được bố trí một vị linh mục làm chủ tịch, có đại úy chỉ huy lực lượng bảo an (cơ sở bí mật của ta) làm phó chủ tịch, số còn lại là các đồng chí ta làm nòng cốt. Chính quyền đã công bố 12 điều kỷ luật và chính sách an dân, thành lập “đơn vị bảo an ly khai theo cách mạng” do viên đại úy (cơ sở bí mật của ta) chỉ huy và đứng ra kêu gọi số cảnh sát, số lính bảo vệ đảo chạy trốn vào rừng trở về. Phân công người chiếm kho gạo, kho thuốc, kho vũ khí. Ðến trưa ngày 1-5 đã thành lập được ba đại đội (đều là cựu tù chính trị) được trang bị đầy đủ, cả súng đại liên và súng 12 ly 7. Các đại đội đi chiếm đài viễn thông Lo-ran và sân bay Cỏ Ống, thu 27 máy bay, chiếm chi khu quân sự và đài ra-đa trên núi Thánh giá. Ðối với công chức, ra lệnh tiếp tục phục vụ về điện, nước, y tế như bình thường. Phân công anh em đi xây dựng đài liệt sĩ, sửa sang các mộ của cụ Nguyễn An Ninh, đồng chí Lê Hồng Phong, chị Võ Thị Sáu. Thông báo cho hơn 3.000 thường phạm, quân phạm tiếp tục ở yên trong các phòng giam, chính quyền bảo đảm cung cấp đầy đủ cho việc ăn uống. Một số anh em được theo anh em ta lái tàu đi đánh cá để cải thiện đời sống.

Sáng ngày 4-5-1975, có hạm đội của ta ra. Ban lãnh đạo đã bàn giao cho quân đội ta để thực hiện chế độ quân quản và bố trí nhiều chuyến tàu chở anh chị em ta về đất liền.

Nhìn lại cuộc đấu tranh cách mạng trong các nhà tù của địch, tuy có nhiều người đã hy sinh nhưng thắng lợi giành được là rất to lớn và có nhiều ý nghĩa.

Trước hết, đã buộc địch phải đưa lực lượng ngày càng nhiều đến các nhà tù để đối phó.

Hai là chế độ khắc nghiệt ở các nhà tù bị lên án, đã tác động đến phong trào phản chiến, rõ nhất là ở Mỹ.

Ba là giải phóng Côn Ðảo, đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn hệ thống nhà tù tàn ác của thực dân đế quốc đã tồn tại 113 năm trên đất nước ta.

Bốn là cuộc nổi dậy tự giải phóng của tù chính trị Côn Ðảo, là sự phối hợp rất đẹp với chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng vùng Côn Ðảo là một tỉnh, được thời Ngô Ðình Diệm xác định là tỉnh Côn Sơn.

Năm là ý đồ của địch nhằm hủy hoại thể xác, ý chí, lý tưởng của người cách mạng đã không thực hiện được. Với chủ trương biến nhà tù thành trường học cách mạng, anh chị em ta lúc thoát cảnh ngục tù, ai cũng có thêm vốn hiểu biết và được rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tình cảm đồng chí, đồng bào. Về đời, đã tiếp tục công tác và đã nêu nhiều gương tốt. Nhiều đồng chí đã trở thành Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và cán bộ cao cấp của Ðảng, của Nhà nước.

Ðại thắng Mùa Xuân 1975, cả nước được hoàn toàn độc lập, do dân làm chủ, giang sơn thu về một mối. Ðó là thắng lợi rất to lớn, là kết quả của cuộc đấu tranh của dân tộc ta trong 117 năm. Nếu kể từ lúc có Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là 45 năm. Ðóng góp vào thắng lợi đó, có cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài vô cùng gian khổ, ác liệt của các thế hệ quốc sự phạm trong các nhà tù của địch, mãi mãi không thể nào quên.

TRẦN TRỌNG TÂN
(Nguyên Ủy viên T.Ư Ðảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa T.Ư)

nhandan.com.vn

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: