Hiệp định Paris về Việt Nam, thắng lợi bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Một phiên họp toàn thể tại Hội nghị Paris.

ND – Trong 21 năm ròng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta đã trải qua biết bao gian nan thử thách, nhưng cứ mỗi lần vượt qua lại là một lần giành thắng lợi có ý nghĩa sâu sắc.

Ba thắng lợi mang tính bước ngoặt đi lên của cuộc kháng chiến đó là:

Một, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Hai, việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 27-1-1973.

Ba, Cuộc tổng tiến công và đại thắng lợi mùa Xuân năm 1975.

Tuy khác nhau về hoàn cảnh, tính chất và mức độ, các thắng lợi đó đều có cùng một nét chung rất giống nhau. Thắng lợi nào cũng là kết quả sức mạnh tổng hợp của cuộc chiến đấu, và thắng lợi trước bao giờ cũng tạo ra tiền đề và điều kiện cho thắng lợi sau, thắng lợi sau lại mở đường cho thắng lợi sau lớn hơn để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thắng lợi của việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam là thành quả cuộc đấu tranh kiên cường của nhân dân ta suốt 18 năm trước đó, đã đánh bại liên tiếp bốn chiến lược chiến tranh của Mỹ: chiến tranh đơn phương, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và chiến tranh “Việt Nam hóa”. Thắng lợi đó không chỉ khép lại giai đoạn Mỹ hóa cao độ chiến tranh bằng việc buộc chúng phải rút toàn bộ quân đội và vũ khí ra khỏi miền nam, cam kết không dính líu trở lại mà còn mở ra giai đoạn mới với những thắng lợi lừng lẫy hơn, oanh liệt hơn: đánh sập toàn bộ chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, giải phóng hoàn toàn miền nam và thống nhất đất nước.

Kỷ niệm 35 năm Ngày ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, chúng ta thử nhìn lại sự kiện lịch sử ấy như tất cả những gì đã từng diễn ra.

I- Tình hình dẫn tới Hội nghị Paris

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền nam, cả về quân sự và chính trị, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã phá sản – ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Ðể hòng cứu vãn tình thế, Mỹ thay đổi chiến lược, từ “chiến tranh đặc biệt” chuyển thành “chiến tranh cục bộ”, thực chất là Mỹ hóa cuộc chiến tranh. Một mặt, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền nam; mặt khác, tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền bắc.

Từ đầu năm 1965 đến cuối năm 1967, chúng đã đổ vào miền nam từ 18.000 quân lên 480.000 quân. Mục tiêu chiến lược của “chiến tranh cục bộ” là đánh bại cách mạng miền nam trong vòng 25 – 30 tháng để đến cuối năm 1967, Mỹ có thể ca khúc khải hoàn và rút hết quân về nước. Ðồng thời với quá trình leo thang chiến tranh, chính quyền Johnson rêu rao cái gọi là cuộc vận động “ngoại giao hòa bình”, đòi “miền bắc đình chỉ thâm nhập người và dụng cụ chiến tranh vào miền nam” và “đàm phán không điều kiện” với Mỹ.

Ðảng ta nhận định: Mỹ buộc phải Mỹ hóa cuộc chiến tranh là vì chúng đang ở trong thế bị động về chiến lược. Mặc dù Mỹ đưa vào miền nam mấy chục vạn quân và đánh phá ác liệt miền bắc, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch không có thay đổi lớn. Ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường, đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch.

Cuộc thử lửa trong ba năm liền 1965, 1966 và 1967 cho thấy nhận định của ta là đúng. Ðịch càng leo thang chiến tranh càng bị giáng trả mãnh liệt. Ðã bế tắc về mặt quân sự, Mỹ cũng vấp phải khó khăn lớn về mặt ngoại giao. Ta kiên quyết bác bỏ thủ đoạn “ngoại giao hòa bình” giả hiệu và cái gọi là “đàm phán không điều kiện” của chúng, đòi Mỹ phải chấm dứt xâm lược, rút hết quân ra khỏi miền nam, chấm dứt vô điều kiện mọi hành động chiến tranh chống miền bắc. Ðiều kiện tiên quyết của ta là: Chỉ khi nào Mỹ chấm dứt ném bom, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới nói chuyện của Mỹ.

Cuối năm 1967 đầu năm 1968, giữa lúc Mỹ còn đang chuẩn bị cho cuộc tiến công mùa khô thứ ba với 120 vạn quân (trong đó có 50 vạn quân Mỹ) và khoác lác rằng “chiến thắng đã ở trong tầm tay” thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân và dân miền nam nổ ra như sấm vang, chớp giật. Cuộc tổng tiến công đã đánh thẳng vào các thành thị và trung tâm đầu não chỉ huy cuộc chiến tranh của Mỹ- ngụy, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về người và phương tiện chiến tranh. Dư luận Mỹ cho rằng, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, quân đội Mỹ đứng trước nguy cơ bị thua trong một cuộc chiến tranh (!). Thất bại đó đã được Tổng thống Johnson thừa nhận trong bài phát biểu trên Ðài Truyền hình Mỹ đưa 31-3-1968. Ông ta tuyên bố đã ra lệnh chấm dứt mọi cuộc tiến công bằng máy bay và tàu chiến chống miền bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, cam kết “sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường xuống thang” và không ra tranh cử tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa.

Thế là nhân dân ta đã giành được thắng lợi quyết định. Ý chí xâm lược của Mỹ đã bị lung lay. Trong tình thế thay đổi có lợi cho ta, bằng một đòn tiến công ngoại giao mới, ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ.

II- Cuộc “hòa đàm thế kỷ”

Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ bắt đầu tại Paris và gần sáu tháng sau đã đi đến thỏa thuận về việc Mỹ chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31-10-1968, đồng thời thỏa thuận về việc triệu tập tại Paris một hội nghị để bàn việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm các bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Ngày 25-1-1969, Hội nghị Paris về Việt Nam (bốn bên) họp phiên đầu tiên, đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam: đọ sức trên mặt trận ngoại giao đồng thời với đọ sức trên chiến trường; với Việt Nam là tạo cục diện “vừa đánh vừa đàm”. Hội nghị Paris về Việt Nam là mũi nhọn và tiêu điểm của mặt trận ngoại giao của ta thời chống Mỹ, cứu nước.

Thế giới gọi Hội nghị Paris về Việt Nam là “cuộc hòa đàm thế kỷ”. Bởi đó là cuộc đàm phán để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20, cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước, nhưng lại là tiêu điểm của những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại: giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, giữa hòa bình và chiến tranh.

Cuộc đấu tranh này tiêu biểu cho cuộc đối đầu giữa hai nền ngoại giao đối lập nhau. Một bên là nền ngoại giao cách mạng, trưởng thành qua đấu tranh thực tiễn của hai cuộc kháng chiến cứu nước, dựa vào chính nghĩa và sức mạnh của dân tộc, kế thừa truyền thống ngoại giao của dân tộc mấy nghìn năm văn hiến. Một bên là nền ngoại giao của một đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực dồi dào, có quan hệ quốc tế rộng, nhiều kinh nghiệm, mưu mô, thủ đoạn và luôn luôn muốn thương lượng trên thế mạnh.

Cả ta và đối phương đều đến Hội nghị với những mục đích và đòi hỏi đối lập nhau. Ta đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền nam… Mỹ nói muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng lại đòi miền bắc và Mỹ cùng rút quân; đòi khôi phục lại khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn; có nghĩa là tiếp tục duy trì chế độ thực dân mới ở miền nam, chia cắt lâu dài Việt Nam.

Chính vì những đòi hỏi khác nhau đó mà đàm phán vừa mở ra mấy tháng đã dẫm chân tại chỗ. Ðể khai thông, ngày 8-5-1969, Ðoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam đưa ra Giải pháp toàn bộ 10 điểm về việc giải quyết vấn đề Việt Nam. Ðáp lại, ngày 14-5-1969, Tổng thống Mỹ R.Nixon, qua diễn văn đọc trên truyền hình Mỹ, đã đưa ra 8 điểm của giải pháp cho vấn đề Việt Nam. Giải pháp của hai bên vẫn đối chọi nhau như nước với lửa.

Ngày 6-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam thành lập. Ngày 8-6, Tổng thống Nixon công bố chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, chủ trương tìm một con đường khác chứ không phải thông qua đàm phán để rút được quân Mỹ ra khỏi chiến tranh mà vẫn giữ được chính quyền và quân đội Sài Gòn.

Thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ triển khai một kế hoạch toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế, trong đó quan trọng nhất là chuyển giao vũ khí hiện đại cho quân đội Sài Gòn, củng cố chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, ngăn chặn mọi âm mưu đảo chính. Trên chiến trường, Mỹ tiến hành bình định quyết liệt, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào ngăn chặn tiếp tế của miền bắc vào miền nam, cô lập lực lượng cách mạng miền nam từ bên ngoài. Về ngoại giao, chính quyền Nixon xây dựng một chiến lược toàn cầu mới trong khuôn khổ “học thuyết Nixon”, tìm cách lợi dụng mâu thuẫn Xô-Trung trong quan hệ với Việt Nam, tìm kiếm một giải pháp thương lượng theo điều kiện có lợi cho Mỹ.

Chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” đã thật sự đẩy cuộc đàm phán Paris vào chỗ bế tắc. Những năm 1969 – 1972 là những năm giằng co quyết liệt giữa ta và địch trên chiến trường cũng như tại bàn đàm phán.

Ngoại giao của ta lúc này vẫn kiên trì vận dụng sách lược “vừa đánh vừa đàm”, kết hợp đàm phán với vận động dư luận thế giới, phối hợp với chiến trường để củng cố thế trận đàm phán, vận động ba nhân tố: chiến trường, hậu phương quốc tế và đàm phán trực tiếp với Mỹ để cải thiện so sánh lực lượng, tạo chuyển biến có lợi cho cuộc chiến tranh cách mạng.

Tại cuộc đàm phán Paris, ta vạch rõ: “Việt Nam hóa” không phải là giải pháp cho cuộc chiến tranh mà là kéo dài chiến tranh. Về việc Nixon công bố đợt rút quân đầu tiên gần 25.000 quân Mỹ vào tháng 6-1969, ta lên án Mỹ “rút quân nhỏ giọt” và đòi họ rút nhanh, rút hết. Ðến mùa thu năm 1970, khi Mỹ đã đơn phương rút 140.000 quân, Chính quyền Cách mạng lâm thời đưa ra “tám điểm nói rõ thêm”, trong đó đòi Hoa Kỳ định thời hạn rút hết quân Mỹ trước 30-6-1971 và lập ở Sài Gòn một chính quyền không có Thiệu – Kỳ – Khiêm. Ðến giữa năm 1971, sau khi Mỹ đã rút được 300.000 quân, tại cuộc gặp riêng ngày 20-6-1971 giữa Lê Ðức Thọ và Kissinger, phía Việt Nam đã đưa ra “Ðề nghị hòa bình 9 điểm” và ngày 1-7-1971, Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa “Ðề nghị hòa bình 7 điểm”. Hai đề nghị đó có cùng nội dung: Ðòi Mỹ định thời hạn rút hết quân trước ngày 31-12-1971 và lập ở Sài Gòn chính quyền không có Thiệu. Ðề nghị 7 điểm còn nêu rõ: “Thời hạn rút hết quân Mỹ cũng là thời hạn thả hết tù binh”, một vấn đề mà dư luận Mỹ đặc biệt quan tâm thời bấy giờ. Sau đó, còn có những đề nghị khác của cả hai bên.

Ðàm phán thực chất chỉ diễn ra sau khi Mỹ đã cảm nhận được thất bại của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, nhất là sau thắng lợi của ta ở Ðường 9 – Nam Lào và trong chiến dịch Ðông Xuân 1971 – 1972, giải phóng thêm được nhiều vùng rộng lớn.

Một sự kiện đặc biệt quan trọng đã diễn ra ngày 8-10-1972. Ngày đó, trong một phiên họp tại diễn đàn đàm phán bí mật, cố vấn đặc biệt Lê Ðức Thọ đã trao cho H.Kissinger bản dự thảo Hiệp định về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, thực chất là giải quyết vấn đề ngừng bắn, Mỹ rút quân, trao trả tù binh hai bên còn về chính trị thì giữ nguyên hiện trạng. Bản dự thảo đó đã đặt cơ sở cho một văn bản được thỏa thuận sau đó gọi là “Hiệp định 20 tháng Mười năm 1972”.

Nhưng rồi do sự lật lọng của phía Mỹ và sự phá hoại dữ dội của chính quyền Sài Gòn, phải tiếp tục trải qua một thời gian đàm phán gay go nữa, nhất là sau trận “Ðiện Biên Phủ trên không”, Mỹ mới buộc phải chấp nhận ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” vào ngày 27-1-1973. Hiệp định này được sự công nhận và bảo đảm của một Hội nghị quốc tế về Việt Nam, thông qua Ðịnh ước quốc tế ký ngày 2-3-1973 cũng tại Paris.

Hội nghị Paris về Việt Nam, nếu kể từ cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ (tháng 5-1968) cho đến khi ký được Hiệp định đã kéo dài trong 4 năm 9 tháng, qua 202 phiên họp công khai và 24 phiên họp riêng.

III- Hiệp định Paris với đại thắng mùa Xuân 1975

Nội dung cơ bản của Hiệp định Paris và các nghị định thư kèm theo là:

– Mỹ và các nước khác phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

– Chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Mỹ chống lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Rút hết quân Mỹ và đồng minh, hủy bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ ở miền nam. Không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền nam Việt Nam, để nhân dân miền nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình.

– Hai bên trao trả tù binh và những người bị bắt trong chiến tranh.

– Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội và hai vùng kiểm soát.

– Mỹ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam.

Hiệp định Paris về Việt Nam đáp ứng những yêu cầu cơ bản, có tính nguyên tắc của Việt Nam đã nêu lên trong đàm phán.

Việc ký Hiệp định là thắng lợi tổng hợp của cuộc chiến tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao; là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu và can thiệp trở lại.

Với việc ký Hiệp định Paris, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, tạo ra so sánh lực lượng mới, thuận lợi cho việc thực hiện tiếp mục tiêu “đánh cho ngụy nhào” hoàn thành giải phóng miền nam. Ðiều chủ yếu nhất trong các điều khoản về quân sự là Mỹ phải rút quân nhưng Việt Nam vẫn giữ nguyên lực lượng chính trị và vũ trang ở miền nam.

Sau gần 20 năm xâm lược và sa lầy ở Việt Nam, ngày 29-3-1973, đội quân viễn chinh Mỹ đã phải lặng lẽ cuốn cờ về nước, không có khúc khải hoàn như người Mỹ cầm đầu Nhà trắng và Lầu năm góc từng mơ tưởng. Ðây là lần đầu tiên từ hơn một trăm năm, sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài đã chấm dứt trên đất nước ta.

Nếu như việc ký kết Hiệp định Paris là thắng lợi to lớn của nhân dân ta thì đó lại là thất bại nặng nề của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Chính vì vậy, ta kiên quyết đấu tranh để Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh, trước hết là Mỹ phải thực hiện các điều khoản về ngừng bắn, rút hết quân và chấm dứt dính líu. Ta cũng đấu tranh để chính quyền Sài Gòn nối lại bàn đàm phán với Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị La Xen Xanh Clu để giải quyết các vấn đề chính trị ở miền nam. Còn Mỹ và chính quyền Sài Gòn tuy buộc phải ký kết Hiệp định nhưng vẫn tìm mọi cách phá hoại việc thi hành.

Mỹ rút hết quân nhưng vẫn tiếp tay cho chính quyền Sài Gòn tiếp tục các hành động chiến tranh, lấn chiếm các vùng giải phóng, mưu toan xóa bỏ thực tế ở miền nam đã được Hiệp định thừa nhận, đẩy lùi các lực lượng cách mạng, giành giật lại những gì chúng đã mất. Do đó, cuộc đấu tranh của nhân dân ta để thi hành Hiệp định Paris thực chất là cuộc đấu tranh để tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền nam đã tiếp diễn quyết liệt và kéo dài hơn hai năm nữa mới kết thúc được.

Tháng 6-1973, năm tháng sau khi Hiệp định Paris được ký kết, tại Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương, Ðảng ta đã nhận định tình hình miền nam có thể phát triển theo hai khả năng: Một là, ta từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định. Hai là, xung đột quân sự ngày càng tăng cường và mở rộng, ta phải tiếp tục chiến tranh cách mạng một thời gian nữa để đánh bại Mỹ – ngụy, giành thắng lợi hoàn toàn.

Hội nghị chỉ rõ: Dù tình hình phát triển theo khả năng nào cũng đều phụ thuộc vào thực lực và sự đối phó của ta, và điều quyết định trước hết là cách mạng miền nam chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường cách mạng không ngừng, bằng bạo lực, dựa vào sức mạnh chính trị và sức mạnh vũ trang của nhân dân, tận dụng và phát huy những nhân tố mới, thuận lợi mới do Hiệp định Paris đưa lại.

Thực tế tình hình miền nam đã diễn ra theo khả năng thứ hai.

Cuối năm 1973 đầu năm 1974, phối hợp với đấu tranh chính trị, ngoại giao, ta kiên quyết phản công và tiến công, đập tan những âm mưu và hành động lấn chiếm của địch, tạo được thế mạnh mới trên nhiều mặt: giành quyền chủ động trên khắp các chiến trường; củng cố và hoàn chỉnh thế chiến lược liên hoàn từ bắc vào nam; xây dựng các binh đoàn chủ lực cơ động ở rừng núi, cải thiện tình hình nông thôn ở đồng bằng. Ta cũng phát động được phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi trong các thành thị dưới khẩu hiệu “hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc”, đồng thời tiếp tục tranh thủ thêm được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Tháng 10-1974, Bộ Chính trị Trung ương Ðảng ta họp bàn nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước trong hai năm 1975 – 1976. Kết thúc đợt I của Hội nghị, Bộ Chính trị nhận định: “Ðây là thời cơ thuận lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc, dân chủ…” Bộ Chính trị quyết định: “Ngay từ giờ phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975, 1976”.

Tình hình phát triển hết sức nhanh chóng. Ba tháng sau, ngày 7-1-1975, kết thúc đợt II của Hội nghị, Bộ Chính trị nêu quyết tâm: “Tranh thủ thời cơ lớn, kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975”.

Ngày 4-3-1975, Quân giải phóng mở đầu cuộc Tổng tiến công bằng chiến dịch Tây Nguyên; ngày 11-3, giải phóng Buôn Ma Thuột. Giữa tháng 4-1975, đại quân ta hình thành thế bao vây Sài Gòn. Ngày 16-4, Ủy ban quân lực Thượng nghị viện Mỹ bác bỏ viện trợ bổ sung cho Thiệu. Ngày 18-4, Xuân Lộc thất thủ, Tổng thống Pho ra lệnh di tản người Mỹ khỏi miền nam. Và ngày 23-4, Tổng thống Pho tuyên bố cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ. Thế là: “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản”!

Ngày 30-4-1975, với một cuộc tiến công và nổi dậy chưa từng có, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã đánh đổ toàn bộ quân đội và chính quyền Sài Gòn cùng chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã toàn thắng!

IV- Ý nghĩa quốc tế của Hiệp định

Thắng lợi của việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam không chỉ có ý nghĩa lịch sử đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mà còn có ý nghĩa quốc tế to lớn.

Như sách “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000” (1) nhận định:

Hiệp định Paris 1973 phản ảnh được ở mức cao thắng lợi và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”.

Hiệp định Paris và việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Lào và Campuchia – giải phóng về Lào gần như đồng thời với Hiệp định Paris về Việt Nam, tháng 2-1973. Hiệp định Paris mở đường cho thắng lợi của Campuchia tháng 4-1975.

Thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần mở ra cục diện mới ở Ðông-Nam Á, quân đội Mỹ rút khỏi khu vực; khối SEATO giải tán; xu thế hòa bình, trung lập trong khu vực phát triển.

Từ Hội nghị Genève về Ðông Dương (1954) đến Hội nghị Paris về Việt Nam (1968 – 1973), ta có bước tiến lớn trên con đường xây dựng nền ngoại giao độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế. Ðó là một thành tựu nổi bật của ngoại giao ta trong Thời đại Hồ Chí Minh.

————————–

(1) Sách do NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2002.

Hà Đăng

Advertisements
Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: