Cuộc tháo chạy tán loạn – Phần 26

Họ đang ở cửa

oOo

Đó là một buổi sáng mát mẻ và sương mù, một buổi sáng hiếm có ở Sài Gòn. Binh Minh vừa qua, quân đặc công Bắc Việt Nam đánh phá và đốt ngay một kho của chi nhánh cơ quan phát triển Mỹ bên kia Minh vừa qua, quân đặc công Bắc Việt Nam đánh phá và đốt ngay một kho của chi nhánh cơ quan phát triển Mỹ bên kia sông. Họ chiếm luôn hai vị trí tiền tiêu của chính phủ bên kia cầu Tân Cảng, cách trung tâm thành phố vài kilômét. Họ đặt một khẩu liên thanh giữa cầu, bắt đầu bắn vào mục tiêu di động. Phía chính phủ cho máy bay lên thẳng vũ trang đến phản kích. Cầm tách cà phê buổi sáng, tôi cùng Joe đi lên mái nhà sứ quán, xem họ bắn. Kể từ năm 1968, chiến tranh chưa bao giờ gần Sài Gòn như hôm nay. Họ chiếm cầu nên xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa không đi được. Biên Hòa cũng bị đánh phá không ngừng, lính đào ngũ đã cướp phá Sở chỉ huy Quân khu III.

Ở phía Nam, nhiều đơn vị quân Bắc Việt Nam từ đồng bằng tràn lên đường số 4, thâm nhập vào ngoại ô Sài Gòn. Về phía Tây Bắc, đêm qua, Tây Ninh bị bắn phá dữ dội. Sư đoàn 25 Nam Việt Nam cố phá vỡ phòng tuyến của quân Bắc Việt Nam trên đường số 1 về Sài Gòn mà không ăn thua

Các đường chính về thủ đô đều bị cắt làm cho quân lính mất tinh thần và không còn nguồn tiếp tế, không còn đường rút lui. Nhưng có thể có một vài thuận lợi. Do quân Nam Việt Nam phần lớn bị bao vây bên ngoài thành phố nên Sài gòn may ra không bị đánh. Quân Bắc Việt Nam không có lý do gì để phá huỷ Sài gòn, đội quân thua trận càng không thể phá huỷ nó được. Bóc vỏ củ hành, tướng Dũng đã cứu chúng tôi!

Các ông Lê Đức Thọ và Phạm Hùng vừa đến Sở chỉ huy tiền phương của tướng Dũng, cách Sài Gòn 48 kilômét về phía Bắc. Các ông nhanh chóng cho tướng Dũng biết tình hình chính trị và nhắc lại chỉ có thắng lợi quân sự thôi! Tướng Dũng tán thành và quay lại với bản đồ tác chiến.

Thủ đô căng thẳng như da mặt trống. Tiếng súng ở phía cầu Tân Cảng vang dội đến trung tâm thành phố. Phố xá đầy binh lính và dân thường từ đồng quê chạy ra bằng chân, xe hơi, xe đạp. Dọc các phố phụ sĩ quan cảnh sát và quân đội cởi binh phục, mặc quần áo thường, để khỏi bị bắt.

Đến chiều, hơn sáu nghìn người Việt Nam sợ hãi tập trung trước cửa phái bộ quân sự. Những người Mỹ ra đi chưa nhiều – cả ngày mới được 123 người, vì một số muốn ở lại thu xếp cho xong công việc. Martin muốn người Mỹ đi nhanh, tất cả các nhân viên không cần thiết đi ngay, nhất là những viên chức thuộc phái bộ quân sự, như ông đã hứa với Bắc Việt Nam, đi trước ngày 30 tháng 4.

Trên các đảo Guam và Wake, các trung tâm đón tiếp chật ứ người tị nạn. Trong số 20 nghìn người đến từ đầu tháng mới có 12 nghìn người đi California, ở căn cứ không quân Travis. Những người khác, do quan liêu, giấy tờ, chưa nhúc nhích được. Cơ quan nhập cư phải chịu trách nhiệm một phần về tình trạng này. Họ cử đến đây có 90 viên chức.

Lúc trận đánh cầu Tân Cảng diễn ra, bốn trong số năm tàu đậu gần đấy đã nhổ neo đi Vũng Tàu, không chở ai cả. Tàu thứ năm cùng với ba tàu kéo và bốn sà lan chạy ra quân cảng, chắc chắn và gần trung tâm thành phố hơn.

Phái bộ quân sự tiếp tục cho rằng sà lan không phải là phương tiện tốt để chở người di tản, trái lại, sứ quán đã nghĩ đến việc sử dụng sà lan vì sứ quán biết rõ là cẩu hàng không không thể chở hết người ghi trong danh sách.

Buổi sáng, một đám đông người mất trật tự đã tràn vào sân chơi đằng sau sứ quán. Người Việt Nam mỗi lúc một đông, nhất là những nhân viên làm việc cho các cơ quan của sứ quán. Họ đến, đem theo giấy giới thiệu, hy vọng có một chỗ ra sân bay. Nước bể bơi không thay mấy ngày qua, vàng như nước tiểu. Vẫn có người tắm giặt. Căng tin đã đóng cửa vì người phục vụ cuối cùng đã đi Guam. Một người Mỹ ở bộ phận hành chính của sứ quán lợi dụng lúc bấy giờ đem bán những bản khai danh dự cho người Việt Nam với giá đắt.

Giữa buổi sáng, một nữ Hoa kiều tôi quen biết từ lâu gọi dây nói đề nghị tôi giúp đỡ. Người chồng Mỹ của chị đã bỏ rơi chị ở lại với đàn con. Chị chẳng biết trông cậy vào ai lúc này. Tôi bảo với chị rằng tôi đang bận chưa giúp được chị. Một giờ nữa, chị gọi lại tôi thử xem. Yên lặng một lúc ở đầu đường dây đằng kia. Rồi chị bình tĩnh nói: “Nếu anh không giúp tôi, tôi sẽ tự tử với các cháu. Tôi đã mua thuốc độc rồi”. Tôi liếc nhìn giấy tờ xếp thành đống trước mặt. Polgar muốn tôi thảo nhanh một bản nhận định tình hình có lẽ chẳng dùng làm gì cả. Tôi không thể bỏ nơi đây được. Tôi bảo chị: Một giờ nữa, gọi lại. Tôi sẽ giúp chị”.

Như đã hẹn, một giờ sau, chị gọi tôi những tôi không có trong phòng làm việc. Chị để lại một mẩu giấy: “Tôi chờ anh, chào anh”. Đó là lần cuối cùng, tôi nhận thư chị.

Còn các đồng nghiệp của tôi, họ ném vào lò sưởi hàng đống hồ sơ. chỉ mấy giờ, mọi cái trong nhà đều đầy tro, khói.

Các người phụ trách chi nhánh Mỹ cơ quan AID xin phép gửi hồ sơ quí bằng máy bay đi Thái Lan hay Philippines. Đại sứ không đồng ý, theo ông, sau khi ngừng bắn, vẫn còn thì giờ.

Trong khi lò sưởi ngốn hàng đống hồ sơ, báo cáo, tin tình báo và nhiều giấy tờ, công văn thì nhiều viên chức khác gói hàng bó tiền. Buổi sáng, phái bộ quân sự đã rút trong tủ sắt ra ba triệu đôla. Để trả phụ cấp đi đường cho các nhân viên sứ quán. Đến trưa, trong số 900 người Việt Nam giúp việc chỉ còn 20 người chưa được lĩnh tiền.

Trong khi đó, ở cổng sau sứ quán, nhiều xe của chính phủ Nam Việt Nam đến. Một viên tướng, một đại tá, một nhân vật chính trị từ xe chui ra. gật đầu chào lính gác rồi chạy vào thang máy. Họ ra đi. Từ sáng sớm, những máy bay lên thẳng của không quân Mỹ không ngừng đỗ xuống mái nhà, bay đi chở theo giới thượng lưu Sài Gòn đến sân bay Tân Sơn Nhất. Ở đấy máy bay Mỹ đã chờ họ.

Sáng ấy, người khách quan trọng nhất là tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng. Ông đến sứ quán, chào lính gác (tr.296), nhân viên bộ ngoại giao đang mở cửa cầu thang. Ông tiến vào – cửa đóng. Chuyến “du lịch” cuối cùng của ông bắt đầu. Sau này tướng Smith nói: “Đó là một con người sung sướng. Khi ông đến phái bộ quân sự, ông xử sự như đồ con nít. Ông không giấu được vui vẻ mừng khi ông đổi binh phục lấy những quần áo thường. Một máy bay lên thẳng chở Viên ra tàu của Hải quân đận ngoài khơi. Còn tổng thống Hương, ông ta thuyên chuyển một số người chỉ huy quân đội, thực tế quân đội không còn tư lệnh nữa. Điều đó không ngăn cản các tướng, nhất là Quang và Kỳ, cấu xé nhau.

Tướng Cao Văn Viên (1921-2008)

Trong bữa ăn sáng, Bill Johnson viết vội mấy chữ cho vợ là Pat, đang ở Bangkok. Anh viết: “Đang đi đến dàn xếp thương lượng, em đừng lo”. Rồi anh lấy xe đi ra thành phố thăm mấy quan chức cao cấp thuộc Nha cảnh sát đặc biệt và Bộ thông tin. Anh định để họ di tản bằng một máy bay đặc biệt do CIA tổ chức hôm đó. Anh cho rằng nếu có thành lập chính phủ liên hợp thì những người trên ở ngoài có lợi hơn. Anh nói: “Tôi giúp họ không phái vì tình thầnh nhân đạo, tôi giúp họ vì tôi nghĩ sau này họ có thể giúp ta thành lập ở nước ngoài một mạng lưới tình báo cho Sài Gòn”.

Trong cuộc thảo luận giữa anh với những người nói trên, anh không hề đề cập đến việc di tản tám trăm nhân viên người Việt Nam mà tính mạng có thể bị uy hiếp. Anh giải thích: “Sự chăm sóc của chúng tôi hoàn toàn do nghiệp vụ chứ không do lòng nhân đạo”.

Gần trưa, Johnson chào vĩnh biệt viên chỉ huy mới Nha cảnh sát đặc biệt. Anh thuật lại: “Ông ta khóc, vì biết rằng nay là chỉ huy thì mai kia sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Tôi bắt tay, vỗ vai ông ta và nói: cố dũng cảm lên!”.

Hai ngày sau, tên này đã gí khẩu súng Browning vào đầu tự bắn vỡ sọ.

Sáng 26 tháng 4, Johnson còn làm mấy trò nữa để hy vọng sau này đánh lừa cộng sản. Anh ra lệnh làm một số tài liệu mật giả mạo, xếp trong tủ sắt của sứ quán. Trong số này có cả danh sách nhân viên tình báo CIA, nhiều người là quan chức cao cấp của cộng sản…

Polgar theo dõi mọi việc đang xảy ra. Ông cố pha trò nhạt. Joe Kingsley, cáu kỉnh nói đến ổ liên thanh trên cầu Tân Cảng. Polgar bảo anh đi xe ra xem thế nào, làm như đi xem một việc bình thường. Joe mặt tái xanh nói: “Ông cho tôi một tay súng giỏi để bảo vệ”. Polgar bảo anh đi tìm ở bộ phận khác rồi hất tay ra lệnh cho anh đi.

Joe vừa đi, Polgar gọi tôi lại giao cho tôi một nhiệm vụ đặc biệt. Tôi phải mang một bức thư đến cho người bạn lâu đời của ông là Malcolm Brown, phụ trách phòng phóng viên báo New York Times. Đây là những câu hỏi mà Brown sẽ đặt ra với người của anh trong Chính phủ Cách mạng lâm thời: Cộng sản có đồng ý để Minh làm Quốc trưởng không? Có đồng ý đề người Mỹ còn có mặt ở Sài gòn không? Ông nói với tôi: Phải đi nhanh, đừng đi xe anh, lấy xe tôi mà đi. Út, người lái xe của tôi rất thạo.

Ông nói đúng, Út lách qua hàng trăm xe Peugeot và Honda trên đường Tự Do trong năm phút.

Brown đi vắng. Hai nhà báo đang ngồi chờ. Tôi đưa cho họ thư của Polgar đề nghị họ giao cho Brown. Họ có vẻ hơi ngượng nhưng rất cảm ơn tôi. Sau tôi mới biết đó là hai phóng viên của tờ Washington Post. Tôi đã giao một thư tối mật của Polgar vào tay những người đang cạnh tranh. Thảo nào họ cảm ơn ghê quá. Dù sao Brown cũng nhận được thư ngay và gửi đi Tân Sơn Nhất cho đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời. Họ không trả lời ngay. Nhưng đài phát thanh Hà Nội trong một buổi phát thanh thường đã đưa tin phái bộ quân sự Mỹ sẽ rút khỏi Sài Gòn ngày 30 tháng 4. Họ cũng biết phái bộ này di tản đến nơi rồi.

Vẫn còn bám lấy ý nghĩ dàn xếp, Polgar bắt đầu tìm giải pháp đẩy mạnh di tản. Suốt buổi sáng ông nói chuyện với Martin ở phòng đại sứ. Họ thảo luận một vấn đề thoạt đầu tưởng như chẳng ra sao, đó là việc chặt cay me mọc giữa sân sứ quán để máy bay lên thẳng có thể hạ cánh chở người đi di tản trong trường hợp cấp bách. Martin phản đối. Ông nói chặt cây me sẽ được coi là dấu hiệu người Mỹ thất bại phải ra đi. Hơn thế, đến ngày E, sứ quán chỉ cho nhiều nhất hai trăm người, không cần phải chặt cây.

Cách đó không xa, trong biệt thự riêng của mình, ở số 3 đường Trần Quí Cáp, tướng Minh, tổng thống mới, đang ngẫm nghĩ. Tuỳ viên báo chí của ông ta đề nghị đầu hàng không điều kiện cho xong việc. Minh từ chối đi xa như thế. Ông cho rằng quân đội còn có thể làm một công cụ chính trị. Tuy nhiên Minh có một cử chỉ hoà giải: ra lệnh cho phó tổng thống nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn Huyền, báo tin chính phủ Minh không phản đối việc người Mỹ phải ra đi trong 24 giờ.

Suốt buổi sáng, Minh cố moi người trong giới chính trị Sài Gòn, để thành lập chính phủ. Nhiều người được mời đến. Minh bắt tay từng người, gật đầu chào, mời vào trong vườn, hỏi ý kiến rất lễ phép nhưng vẫn có vẻ thờ ơ. Vừa nói chuyện, ông vừa nhìn hoa phong lan. Nhưng không có đối tượng nào Minh vừa ý. Người này quá diều hâu, người kia quá bồ câu. Cuối cùng Minh quyết định chỉ lựa chọn sau lễ tuyên thệ và lúc này ông cầm quyền cùng với phó tổng thống Huyền và thủ tướng Mẫu.

Buổi sáng, tướng Pháp Vanuxem đến tìm Minh để giục hắn tiếp tục chiến đấu. Vanuxem được uống nước trà. Cả tướng Timmes, buổi chiều cũng đến ba lần hỏi Minh về chính phủ mới, cho ông ta biết phái bộ quân sự sẽ ra đi và đặt một đường dây thẳng từ dinh tổng thống đến sứ quán.

Timmes hỏi Minh nghĩ gì về tương lai. Ông ta mỉm cười và nói: còn khả năng thương lượng, vả lại Sài Gòn, Tây Ninh và vùng đồng bằng vẫn thuộc về ta. Timmes hỏi lại: Nếu những nơi ấy mất thì ông tính sao? Sứ quán sẵn sàng giúp ông, dành cho ông chỗ tạm trú. Minh một lần nữa lại mỉm cười, lắc đầu: “Người Việt Nam là nhân dân của tôi, tôi không muốn đi”. Tuy nhiên, Minh cũng đề nghị giúp các cháu và con gái ông ta, vợ một viên đại tá, di tản.

Trước bữa ăn sáng, Erich Von Marbod đi lẫn vào đám đông trên lầu ba của sứ quán. Anh định nói chuyện với đại sứ. Trông thấy Martin, anh giật mình, lo sợ. Mặt xám, ngơ ngác Martin bị cảm ho, tiếng khàn. Marbod cẩn thận đề nghị cho di chuyển khỏi Sài gòn cả phương tiện chiến tranh còn lại.

Maritn cúi xuống bàn, tìm một bức điện. Ông đã tìm thấy và đưa cho Marbod. Sau này, ông kể lại: “Tôi đã nhắc lại với Marbod những điều đã nói với anh nhiều lần: Không được làm gì có thể giảm năng lực chống cự của quân đội Nam Việt Nam, chống cự được càng lâu càng tốt. Mặc dù hôm ấy, ngày 28 tháng 4, quân đội Nam Việt Nam không còn lực lượng, không còn ý chí chiến đấu chống quân Bắc Việt Nam. Nhưng dù sao, quân đội Nam Việt Nam cũng là con chủ bài quan trọng trong trường hợp chính phủ Minh có thể mở cuộc đàm phán”. Marbod rất ngạc nhiên khi nghe Martin nói trong ba ngày nữa sẽ có ngừng bắn và có ba mươi ngày để thành lập chính phủ liên hợp. Một điều khoản của thỏa hiệp với cộng sản là phải giúp quân Nam Việt Nam và rút vũ khí , đạn dược đi. Von Marbod có đủ thì giờ để cứu phương tiện chiến tranh. Von Marbod liếc mắt đọc mấy bức điện. Không có bức nào chứng minh sự lạc quan ấy. Trước khi Marbod tỏ rõ sự nghi ngờ của anh, Martin cho anh biết ông chắc chắn như thế vì người Pháp và một số người Việt Nam bảo đảm với ông điều đó.

Sau buổi nói chuyện Marbod đi xe cùng đại sứ về nhà ông ăn sáng. Anh thấy Martin chưa hề thu nộp hành lý riêng. Bà Martin vẫn còn ở Sài Gòn. Marbod vội kêu lên: Trời, xin ông cho bà Dottie đi ngay. Martin từ chối: việc bà ấy có mặt ở đây làm yên lòng người Việt Nam!

Một giờ sau Marbod tìm cách sửa đổi lệnh của đại sứ. Ông cấm không cho di chuyển vũ khí ở Sài Gòn nhưng không nói đến đạn dược ở Biên Hoà. Anh liền cử Rich Armitage, người phó của anh, dùng máy bay lên thẳng đến Biên Hòa để vận chuyển vũ khí.

Tiếp đó anh đến gặp tướng Khuyên ở bộ tổng tham mưu, báo cho ông ta quyết định di chuyển vũ khí ở Biên Hòa. Anh đòi không quân phải cho các máy bay đi Cần Thơ và Phú Khánh và khuyên phải cho phá huỷ những kho vũ khí ở Biên Hòa mà Armitage không chuyển đi được. Khuyên hứa sẽ cố thực hiện.

Von Marbod sắp từ biệt Khuyên thì có điện thoại của Minh ra lệnh giữ lại một ít lâu các kho vũ khí, đạn dược. Minh nói: “sắp có ngừng bắn tại chỗ!”

Armitage thuật lại: khi tôi đến sân bay Biên Hòa, có 50 người Việt Nam đang trông nom vũ khí. Tôi hứa đưa họ về Sài Gòn nếu họ giúp tôi khuân vác lên máy bay. Tôi cũng nói: phải hạ sát ngay bất cứ kẻ nào định vượt rào để ngăn chúng ta. Trong nửa giờ sau, mấy kẻ đào ngũ định nhảy qua hàng rào dây thép gai, chúng tôi đã đuổi chúng đi và đóng gói được vũ khí vào hòm.

Chúng tôi đang tiếp tục làm việc thì chợt Von Marbod gọi radio cho tôi. Sau này mới biết phái bộ quân sự bắt được điện của Bắc Việt Nam nói: “Chúng ta đang bao vây địch ở Biên Hòa, không để chúng thoát!”

Tôi trả lời Von Marbod: tôi không thể đi nếu không cho 50 người Việt Nam đi theo. Marbod ra lệnh: “đồng ý, cho họ lên máy bay lên thẳng. Nhưng đi ngay!” Tôi đã làm như thế.

Một giờ sau, Von Marbod đề nghị với tướng Smith và Polgar sử dụng máy bay anh chưa huy động. Smith chấp nhận ngay và cho chuyển đi được nhiều vật liệu và hồ sơ. Polgar không thích làm thế. Ông bảo Marbod: “Tôi sẽ nói chuyện với anh về vấn đề này”. Ông không nói nữa, mất cơ hội sử dụng máy bay để di tản nhân viên CIA trong giờ phút cuối cùng này.

Đến trưa, ngồi trên xe Ford Pinto, tôi lách vào một con đường nhỏ đi đến câu lạc bộ thể thao. Nơi đây tôi đã được hưởng nhièu buổi chiều vui vẻ. Tò mò, tôi muốn biết xem có người Việt Nam giàu có nào vẫn cảm thấy mình bình yên, đến đây không. Không, chỉ có một kẻ giở người, hay là một nhân viên cộng sản?

Tôi thất vọng khi thấy nơi tắm nắng và nơi uống cà phê bên bể bơi vắng tanh. Có một nhóm người Pháp ngồi ở một bàn trong góc. Họ nhìn tôi vẻ hằn học hình như tức giận vì thấy một người Mỹ lúc này dám vào đây, xen vào cuộc nói chuyện thân mật của họ.

Đến trưa, mưa đầu mùa rơi rả rích. Bầu trời sẫm tối. Tiếng sấm xem lẫn với tiếng đại bác bắn vào Biên Hòa. Đến 16 giờ, nhiều nhân vật họp trong phòng tiếp khách của phủ tổng thống. Khoảng gần hai trăm người gồm nghị sĩ, tướng đã nghỉ hưu hay đang tại ngũ, một số người thuộc phe đối lập. Một số, hàng năm nay, chưa bước chân vào ngôi nhà đồ sộ này. Họ đến mừng quốc trưởng mới: tổng thống Dương Văn Minh.

Tổng thống vừa thoái vị Hương khai mạc buổi lễ bằng một bài diễn văn không đầu không đuôi, chắp vá, đầy những lời tự khen, tự bào chữa. Khi ông đọc xong, hai sĩ quan tiến ra, thay dáu ấn tổng thống bằng những phù hiệu riêng của Minh tiêu biểu cho đạo Khổng. Có tiếng xì xào khen ngợi.

Bài diễn văn đầu tiên của Minh đặc biệt ngắn và thiếu thực tế. Nói thẳng với Chính phủ Cách mạng lâm thời – lần đầu, một thủ lĩnh Sài Gòn chính thức công nhận Chính phủ Cách mạng – Minh đề nghị ngừng bắn ngay và họp một hội nghị hòa bình trong khuôn khổ hiệp định Paris. Ông hứa thành lập một chính phủ dựa trên cơ sở thật rộng rãi, có nhiều nhân vật độc lập, “nhất quyết hòa hợp”. Minh nói: việc tôi làm trước hết là thả những người bị bắt giam vì lý do chính trị và bãi bỏ chế độ kiểm duyệt đối với các báo.

Những điều cam kết ấy đáp ứng rõ ràng những đòi hỏi của Chính phủ Cách mạng muốn làm tiêu tan hiệu lực của bộ máy nhà nước và gây cho Martin một sự khó chịu khi ông ngồi nghe bản dịch trong phòng làm việc. Biết bao nhiêu lần, ông đã trình bày trước quốc hội và nhiều cơ quan khác: ở miền Nam Việt Nam, không có tù chính trị, báo chí ở đây là báo chí tự do nhất thế giới. Rõ ràng, tổng thống mới không đồng ý với nhân định của ông.

Minh cũng nói mấy lời với quân đội Nam Việt Nam: “Các chiến hữu có một nhiệm vụ mới bảo vệ phần lãnh thổ còn lại. Giữ vững tinh thần. Siết chặt hàng ngũ. Quyết hoàn thành nhiệm vụ. Khi có lệnh ngừng bắn, các chiến hữu thực hiện nghiêm chỉnh lệnh theo điều khoản của hiệp định Paris, và giữ vững trật tự an ninh những vùng các chiến hữu bảo vệ”. Những lời kiên quyết ấy không phải là lời của một kẻ sắp đầu hàng. Rõ ràng Minh còn tin rằng còn có thể thương lượng được!

Sau khi giới thiệu phó tổng thống và thủ tướng chính phủ. Minh cúi đầu chào những người tới dự lễ. Một ánh đèn chụp ảnh loé sáng, cử toạ vỗ tay. Lúc ấy là 17,50 giờ.

Mười phút sau, tư lệnh không quân cộng sản cho máy bay lượn trên toàn thành phố.

Trái với dư luận của nhiều nhà quan sát, cuộc oanh tạc bằng máy bay chiều nay không phải là câu trả lời bài diễn văn của Minh. Một nhân viên tình báo của tôi cho biết: trận ném bom đã được ấn định từ ngày 17 tháng 4, hàng tuần nay rồi. Trùng hợp với lễ tuyên thệ của Minh là một điều mỉa mai của số phận.

Bản tin chính thức của phái bộ quân sự khô khan và rõ ràng: ngày 28 tháng 4, 18 giờ, năm máy bay A-37 (máy bay phản lực cộng sản chiếm được) trang bị ĐK 81 đã bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất, bom rơi trúng nhà để máy bay của không quân Nam Việt Nam phá huỷ nhiều chiếc (ít nhất có ba máy bay AC-119 và nhiều máy bay C-47). Hai trái bom nổ giữa trung tâm điều khiển và vọng kiểm soát. Không có máy bay của không quân Hoa Kỳ bị bom.

Trong hồi ký của mình, tướng Dũng viết: “Lúc 15 giờ 40 phút, một biên đội năm chiếc A-37 các đồng chí ta lái do Nguyễn Thành Trung dẫn dường, đã cất cánh từ sân bay Thành Sơn đi đánh Tân Sơn Nhất. Một trận phối hợp tuyệt đẹp, một trận đánh hiệp đồng quân chủng, binh chủng đầy đủ nhất từ trước đến nay của quân đội ta vào một thời điểm hết sức quan (tr.303) trọng có tác động lớn đến diễn biến chiến dịch…Chính đồng chí Tư lệnh quân chủng Phòng không – Không quân đã đến ngay sân bay Thành Sơn cùng các đồng chí tại đó tổ chức kiểm tra và động viên anh em trước khi cất cánh, đi làm nhiệm vụ.

Tôi ở trong phòng làm việc, trên lầu thượng của sứ quán khi những máy bay đầu tiên bay tới. Trước đó, có mấy tiếng súng đơn độc. Rồi bỗng nhiên, đất rung giữa tiếng đạn đại bác và súng liên thanh nổ liên tục. Tôi cố đứng dậy, hai đầu gối run cầm cập. Một lần nữa, tôi cố bò ra hành lang. Các đồng nghiệp của tôi chen nhau trong gầm cầu thang. Mấy người bò ra hình như muốn nậy sàn gác để trốn. Tôi cố lấy lại tinh thần, chạy về phòng, quỳ bên máy điện thoại, an toàn, tôi gọi phái bộ quân sự, còn tay kia vội tắt đèn. Tôi không còn nghe rõ tiếng ở bên kia đầu dây nói vì tiếng vang của bom nổ và tiếng súng tự động. Chợt anh bạn ở phái bộ quân sự hét lên: “Chúng ta bị oanh tạc rồi. Nhiều máy bay A-37 đang bổ nhào xuống đường băng. Một hay hai máy bay F-5 có lẽ cất cánh được còn hầu hết những máy bay khác đều nằm tại chỗ. Nguy kịch. Không hiểu nơi người tị nạn ở có bị ném bom không? Còn chỗ các anh thế nào? Tôi trả lời: “Tôi chưa biết nói gì. Có cảm giác máy bay đang bay trên đầu. Ngoài phố, mọi người bắn loạn xạ”.

Tôi đến phòng Polgar. Hai thư ký của ông, sợ hãi đang trú sau bàn, gần cửa sổ. Tôi hét lên: “Xuống gầm bàn”, và chạy đến núp trước họ.

Polgar đứng gần cửa sổ, cố theo dõi máy bay. Tôi ấp úng kể lại: vừa gọi dây nói cho phái bộ quân sự…và chờ ông hỏi. Ông vẫn đứng lặng yên, đăm đăm nhìn bức tường bằng xi măng làm màn ảnh, ở bên kia cửa sổ. Tôi nói: “ông nên tránh xa chỗ này, đề phòng một viên đạn lạc”. Ông vội tỉnh lại, quay gót, theo tôi vào phòng đợi. Pittman cố động viên các cô thư ký. Bỗng nhiên, một tiếng kêu vang dội từ cầu thang lên: “Họ đang ở cửa! Họ đang ở cửa! Tôi không phải là người duy nhất nhớ lại cảnh năm 1968, ngày đặc công Bắc Việt Nam tràn vào sứ quán. Từ đầu đến cuối gầm cầu thang, chỉ có tiếng sửa lại súng. Các viên chức, người nọ đến người kia, ai cũng xem lại bao đạn. Tôi lấy khẩu 38, dắt lên hông, người nào đó từ phòng bên cạnh ra tay cầm khẩu M16. Tiếp đó, nghe thấy tiếng chân người trên cầu thang. Hai lính thuỷ, mặc áo giáp chắn đạn, đi lên mái nhà. Một người khi đi qua kêu lên: “Báo động giả. Sứ quán không có gì nguy hiểm”.

Trên lầu thượng sứ quán, Polgar cố khôi phục lại trật tự. Giơ tay lên, ông nói: Thôi, xếp vũ khí lại. Chúng ta là viên chức tình báo chớ không phải lính xung kích. Chúng ta đừng hòng chống lại quân đội Bắc Việt Nam.

Trong khi mỗi người chúng tôi xếp vũ khí lại, và không bằng lòng thì Pittman lấy một điếu thuốc, châm lửa vừa hút mấy hơi, vừa nghĩ, anh gợi ý tổ chức một trung tâm kháng cự tạm thời ở lầu dưới. Ở đó ít sợ máy bay hơn. Polgar đồng ý và bảo tôi: “Xuống viết bản báo cáo về tình hình vừa qua. Tiếp tục cho tôi tin tức và cố liên lạc với các nhân viên của ta ở phái bộ quân sự”. Đường dây nói trực tiếp và trạm vô tuyến điện ở trên lầu sáu, cạnh phòng làm việc của tôi. Bấy giờ tôi mới biết Polgar chỉ định tôi ở lại lầu trên. Tôi bối rối!

Tôi đang cắm cúi làm việc và trả lời dây nói, chợt nhớ đến Joe Kingsley. Đúng lúc phải nhờ anh giúp và hỏi kinh nghiệm chiến đấu của anh. Nhưng Joe không có ở phòng làm việc. Anh ra phố sắm cho vợ chiếc nhẫn và uống mấy ly rượu ở ba.

Sau này, anh kể lại: “Tôi đang đi xe giữa đường Tự Do chợt máy bay tiến đánh. Tôi biết ngay cái gì xảy ra. Tôi nhảy khỏi xe, chạy lại tủ sắt của “ba”, ở đây có cả một kho vũ khí: súng Thompson, súng M-16, lựu đạn ném tay. Tôi cố mang theo thật nhiều. Lúc ấy, hai lính thuỷ được phân công đến sứ quán ở ba đi ra, lắc lư say rượu. Hai người mặc thường phục. Họ bảo tôi: cho chúng tôi đi nhờ xe – OK. Rồi tôi ném cho họ khẩu 45 tự động và cùng họ nhảy vào xe. Tôi cầm chặt tay lái, cho xe phóng rất nhanh về sứ quán, xe vừa chạy vừa va phải nhiều xe khác trên đường, còn mấy khách đi xe của tôi thỉnh thoảng lại nổ súng. Tôi cầu trời họ không giết ai dọc đường!”.

Khi chúng tôi về đến sứ quán thì cửa đã khóa kỹ. Một lính thuỷ cùng đi với tôi chĩa khẩu 45 vào người gác Việt Nam. Người này kêu lên bằng tiếng Việt Nam: “Không có chìa khoá, không có chìa khoá”. Ngươi lính thuỷ không hiểu. anh định bắn vỡ sọ người Việt Nam. Tôi vội cướp lấy khẩu 45, khuyên anh bình tĩnh. Chợt, bất ngờ, một tên ngớ ngẩn nào đó, đứng ở ngoài phố, gần sứ quán Anh, bắn vào chúng tôi. Chúng tôi vội nấp vào sau một cây trong khi đó lính thuỷ đi lấy chìa khoá và mở cửa cho chúng tôi. Chúng tôi chạy qua đường lọt vào sứ quán, đạn bắn vu vơ, réo bên tai tôi. Từ trận Quảng Ngãi hồi năm 1968 đến giờ, chưa bao giờ tôi chứng kiến cảnh lộn xộn như thế!

Ở Tân Sơn Nhất, nơi bị ném bom, một số người lại thấy thích thú. Trước trận bom, các nhân viên hai đoàn đại biẻu Chính phủ Cách mạng lâm thời và Bắc Việt Nam đã xuống hầm trú ẩn mà họ đào dưới đất tuần trước. Họ ở đó suốt trận ném bom, nghe dây nói từ thành phố gọi đến và không ngớt khen ngợi tài năng của các phi công.

Ở sở chỉ huy phái bộ quân sự, đại tá Legro kém vui. Ông bị nghẹn trong bữa ăn của các sĩ quan với mấy nữ chiêu dãi viên Việt Nam. Một số khóc nức nở không thể nào nín được. Logro vừa dỗ, vừa vỗ nhẹ vào vai cô ta: “Đừng sợ, quân Bắc Việt Nam chưa đến đâu!”.

Các nhân viên của đoàn đại biểu Mỹ bên cạnh Uỷ ban quân sự hỗn hợp vội càng chạy từ nhà này sang nhà khác của khu vực phái bộ quân sự để đẩy những người Việt Nam vào góc tướng hoặc xuống gầm bàn và động viên họ giữ bình tình.

Moorefield kể lại: “Ở nơi phân loại người di tản, chúng tôi đang làm việc như điên thì máy bay bay tới. Tiếng bom nổ rất to. Đèn rơi từ trên trần nhà xuống. Một bóng đèn vỡ rơi trúng bàn của Mc Bride và vai anh. Nhiều tiếng nổ tiếp theo. Khoảng một trăm người Việt Nam đang còn làm việc với chúng tôi vừa kêu vừa chạy loạn xạ như đàn gà con bị cáo đuổi. Tôi đứng dậy, cầm khẩu súng, cùng với Bride, xua họ sang một ngôi nhà khác vững chắc hơn ở bên kia phố.

Chúng tôi đang chạy thì ba, bốn chiếc máy bay vòng lại. Trời đầy khói, mục tiêu chỉ cách chỗ chúng tôi hơn trăm mét, thiệt hại rất nặng.

Mặc dù trận ném bom chỉ diễn ra khoảng 15,20 phút nhưng chúng tôi phải ngồi xổm ở nơi trú ẩn đến hai giờ đồng hồ. Tôi rất buồn là máy bay Nam Việt Nam mất quá nhiều thì giờ để bay lên chống cự. Sau tôi mới biết là họ phải bay mò vì trạm hướng dẫn đã bị hỏng.

Thật là chuyện mỉa mai, trong hai năm chiến đấu ở đồng bằng, biết bao nhiêu lần tôi chỉ huy những trận ném bom xuống vùng Việt cộng, nay tôi mới biết rõ một mục tiêu không có bảo vệ thì như thế nào!

Vẫn bảo thủ và bướng bỉnh, Polgar, thoạt đầu cho là trận ném bom do phe cánh Kỳ gây ra, định làm đảo chính chống Minh lớn. Nhưng phóng viên báo New York, một bạn cũ của Kỳ, gọi tôi, cải chính nhận định ấy.

Một bản tin sau đã khẳng định là Bắc Việt Nam đã ném bom. Máy bay xuất phát từ căn cứ không quân Phan Rang, trên bờ biển. Khi tôi đưa đến cho ông tin ấy và lời cải chính của phóng viên báo New York, Polgar đang ngồi ở ghé một nữ thư ký trong một phòng khác và đang đánh một điện cho bộ tư lệnh CIA trên một máy chữ cũ. Ông vừa ở phòng đại sứ trên lầu ba về. Mồ hôi nhỏ giọt trên đầu hói, ông đang nghỉ lấy lại sức. Ông ghi những tin tức của tôi vào bức điện và bảo tôi gọi cho Malcolm Brown, người của báo New York Times để hỏi xem có phản ứng gì về phía đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời ở sân bay Tân Sơn Nhất không.

Trước khi tôi gọi được anh thì Brown đã gọi tới. Anh có vẻ tức giận và hốt hoảng. Anh nói, câu được câu chăng: Đồng nghiệp anh trông thấy một Mig-19 bay trên nóc nhà thờ, gần những ngôi nhà của sứ quán, nhiều máy bay A-37 bay nhiều lượt trên dinh tổng thống. Nhưng những tin tức nhận được từ Chính phủ Cách mạng lâm thời đều xấu cả. Qua dây nói, một người phát ngôn của chính phủ báo cho Brown: “Chính phủ Cách mạng lâm thời không chấp nhận Minh lớn. Hoa Kỳ phải chấp hành những điều khoản I, IV và IX của hiệp định Paris, phải tôn trọng ý chí và quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam. Người phát ngôn nhắc lại những điều khoản của hiệp định, đòi người Mỹ phải rút hoàn toàn, rồi mới ngừng bắn…Hai là, Hoa Kỳ phải từ bỏ chính quyền Sài Gòn, đó chỉ là một bộ máy chiến tranh và đàn áp. Những lời tuyên bố của Minh không đáp ứng những đòi hỏi ấy!”.

Đọc xong tin trên, Polgar tái mặt. chứng cớ rõ ràng những hoạt động của ông không được ích lợi gì.

Như đã dự kiến, trận ném bom cắt đứt hoàn toàn cầu hàng không. Chỉ mấy phút sau khi máy bay bay qua lần thứ nhất, tướng Smith đã ra lệnh cho hai máy bay C-130 chờ ở phía Đông Nam sân bay Tân Sơn Nhất. Ông cũng ra lệnh cho thuộc hạ đưa tất cả xe ô tô buýt chưa chạy đến tập trung ở các địa điểm đã qui định. Ông đã nhận được lệnh chuẩn bị rút hết trong 24 giờ, ông muốn sau khi tiếng súng ngừng, sẵn sàng cho xe đi đón những người giúp việc.

Đến 19 giờ 15 phút, đại sứ Martin gọi trúng Smith hỏi về sự thiệt hại. Nơi phân loại người tị nạn có việc gì không? Tướng Smith trả lời: Thưa không việc gì. Và ông cũng không biết ở nơi khác có người chết không? Đường băng thế nào? Có thể tiếp nhận được máy bay C-130 không? Smith cân nhắc. Tuy chưa đến tận nơi kiểm tra. Nhưng theo những bản báo cáo đầu tiên và từ cửa sổ ông nhìn ra thì thấy còn nhiều chỗ để máy bay lớn đậu.

Đại sứ thở dài, yên tâm. Quả thật, nhiều cộng tác viên trực tiếp của ông trong đó có Polgar đã đề nghị với ông lập ngay cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng. Nhưng việc đó chưa cần vì vẫn còn dùng được đường băng. Một cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng sẽ làm người Việt Nam hoảng sợ. Nhất là, làm mất hy vọng một cuộc dàn xếp thương lượng. Martin quyết định tiếp tục cầu hàng không bằng máy bay thường, đỡ nguy hiểm hơn.

Ở Hoa Thịnh Đốn, vì múi giờ khác, nên lúc ấy mới sáng sớm. Kissinger báo cho tổng thống Ford biết việc ném bom và nói rằng Martin bảo đảm cầu hàng không bằng máy bay thường vẫn duy trì được.

Tổng thống không bằng lòng. Ông vẫn chưa hiểu cái gì đã đưa người Nam Việt Nam đến thảm họa ngõ cụt không lối thoát ấy. Ông cũng không thấy cần để Martin một mình đưa ra những quyết định quan trọng. Vấn đề đàm phán đặc biệt làm ông suy nghĩ. Schlesinger cho là không có hy vọng gì. Còn Kissinger ngày càng nghi ngờ. Chỉ có một mình Martin nghĩ là có thể lợi dụng thời cơ! Thái độ Colby là sự thỏa hiệp giữa thái độ Schlesinger và thái độ Martin. Ngày 28 tháng 4, Colby nói: “Biên Hòa và sân bay có thể mất trong mấy giờ nữa. Quân Bắc Việt Nam tiếp tục uy hiếp mạnh. Cuộc kháng cự ở Long Binh (một căn cứ quân sự gần Biên Hoà) chắc không được lâu nữa. Tây Ninh và Long An sắp rơi vào tay cộng sản. Tóm lại quân Bắc Việt Nam đang uy hiếp Sài Gòn. Đối với Minh, thử xem ông ta có thể thương lượng được một cuộc đầu hàng cho phép những người cộng sản giữ một vị trí trong chính phủ Sài Gòn? Không còn nhiều thời giờ để đi đến kết quả ấy, từ một đến ba ngày là cùng”.

Cuối cùng, sau khi thổ lộ với Kissinger những điều băn khoăn của mình, tổng thống Ford quyết định thỏa hiệp. Đành cho Martin quyết định thời gian đưa người Mỹ đi, trao quyền cho Kissinger nói chuyện với Hà Nội.

Khoảng 20 giờ, giờ Sài Gòn, tướng Smith cho phép hai máy bay C-130 đỗ xuống sân bay Tân Sơn Nhất chở 360 người đi, không xảy ra chuyện gì. Trong lúc đó, từ Honolulu, đô đốc Gayler gọi dây nói cho Smith phổ biến quyết định mới nhất của Hoa Thịnh Đốn: Đình chỉ ngay tất cả các chuyến bay bằng C-141, để 24 giờ tới, có thể có được 60 chuyến bay C-130. Như vậy sẽ đi tản được mười nghìn người, trong đó có nhân viên phái bộ quân sự.

Tất cả các viên chức dưới quyền sứ quán đều được báo cho biết kế hoạch ấy. Và tất cả những người phụ trách các bộ phận đều được lệnh báo cho các nhân viên và tập hợp các cộng tác viên mà họ muốn đưa đi. Đại sự ước tính phải mất ít nhất hai ngày, đến ngày 30 tháng 4, mới di tản hết các viên chức cao cấp Việt Nam.

Trước khi đi ngủ, tôi sang phòng Joe Kingsley, uống một ly rượu và nói chuyện. Đài radiô đeo dưới thắt lưng tôi, chỉ phát ra tiếng kêu đều đều. Lúc Joe mở cửa cho tôi thì anh đã uống ly Martin thứ ba. Anh ấp úng: “Cho quên những việc xảy ra ban ngày!” Một anh lính mũ nồi xanh, bạn cũ của Joe đang say tuý luý, đến chỗ tôi: Thuyền gặp gió. Anh chàng ba hoa: “Trời, mình ở lại Sài Gòn, mình muốn đánh đắm tàu”. Joe cho anh uống một viên thuốc dã rượu. Ba chúng tôi ngồi nghiên cứu kế hoạch di tản từ trên mái nhà và thoả thuận với nhau, có việc quan trọng xảy ra ban đêm thì người này phải gọi hai người kia.

Tôi trở về buồng. Trước khi đi ngủ, tôi xếp mũ sắt, áo giáp, khẩu M-16 xuống đất, bên cạnh bàn ngay đầu giường để trong đêm tối có thể dễ dàng tìm thấy.

oOo

Chúng ta hãy nhìn hoạt cảnh “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn” của đế quốc Mỹ, thật là hỗn loạn không có kế hoạch và định hướng rõ ràng cho kiều dân Mỹ và bọn Việt gian Ngụy VNCH di tản có trật tự, vì Hoa Thịnh Đốn và tòa Đại sứ Mỹ vẫn còn mơ tưởng sẽ thành hình một chính phủ liên hiệp, có được thành phần Ngụy VNCH tham gia trong đó.

Cho nên, khi đế quốc Mỹ, hiểu thấu triệt con đường cách mạng thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh và đảng CSVN: “Nhân dân ta hoàn toàn tin tưởng và lực lượng chính trị và quân sự của mình và chắc chắn sẽ chiến thắng hoàn toàn, giải phóng miền Nam, đất nước của cha ông”, thì cuối cùng con đường di tản bằng hàng không (cầu không vận) phải hủy bỏ vì đường băng Tân Sơn Nhất không xử dụng được, chỉ còn giải pháp di tản bằng trực thăng vận mà thôi!

Đoạn cuối đời, mặt thật của bọn tướng tá và quan chức Ngụy quân – Ngụy quyền hơn 20 năm làm tay sai Việt gian phản quốc cho đế quốc Mỹ, đã tháo chạy theo quan thầy Mỹ thật là ô nhục vô cùng…

Tướng Timmes hỏi: “Vì sao người Pháp lại nghĩ thế?” Tướng Minh trả lời: “Trước hết, người Pháp biết rằng Trung Quốc phản đối việc Bắc Việt Nam chiếm toàn bộ nước này. Bắc Kinh sẽ dùng ảnh hưởng của mình để làm cho cộng sản không chiến thắng hoàn toàn. Sau nữa, Hà Nội không có đủ cán bộ để cai trị cả nước, có thể họ phải chấp nhận một chế độ giao thời. Quan trọng hơn nữa là Chính phủ Cách mạng lâm thời không muốn Bắc Việt Nam đô hộ!”

Timmes khẽ thở dài. Có phải đó vẫn là những luận điểm cũ mà người Pháp cố thực hiện một cách vô ích từ một tháng nay không? Thảo luận bây giờ cũng chẳng lợi gì. Tướng Timmes nghĩ thế rồi bảo Minh, ông sẽ báo cáo với Martin….(tr 310)

Người phát ngôn của Hà Nội không im tiếng. Gần một giờ sau đài giải phóng tuyên bố: “Nhân dân ta hoàn toàn tin tưởng và lực lượng chính trị và quân sự của mình và chắc chắn sẽ chiến thắng hoàn toàn, giải phóng miền Nam, đất nước của cha ông”. Trong một buổi khác, đài này gọi chính phủ Minh là “nguỵ quyền gian dối, một bộ máy chiến tranh trong đó lực lượng thứ ba là nạn nhân”.

Hà Nội cũng lên án Hoa Kỳ hết sức nặng: “Đề nghị đơn giản của Hoa Kỳ là để lại sứ quán với một nhóm nhỏ nhân viên không thể được coi là chấm dứt sự can thiệp của Mỹ. Vấn đề cần thiết là sứ quán ấy được quyền làm gì và tại sao tất cả nhân viên không rút đi ngay, không có hạn định (không có sự phân biệt giữa cố vấn với những người khác…) đế quốc Mỹ có chịu bồi thường và hàn gắn những vết thương sâu và nặng chúng đã gây ra cho nhân dân Việt Nam không? “Tóm lại, nếu người Mỹ muốn có mặt một cách chính thức nào đó ở Việt Nam, họ phải bỏ tiền ra và nhận tội. Những đòi hỏi ấy loại trừ hẳn việc duy trì một phái đoàn ngoại giao bình thường. Không còn vấn đề để lại một sứ quán Mỹ nhỏ nữa. (tr.311) Nhưng phải mất nhiều thì giờ. Nhà Trắng mới nhận rõ vấn đề ấy….

Một bất ngờ khó chịu khác lại đến với ông tướng khốn khổ ấy! không báo trước, năm hay sáu sĩ quan cao cấp không quân Việt Nam đến xin trú ẩn và đề nghị phái bộ quân sự giúp họ di tản. Smith lạnh lùng tiếp họ, lột vũ khí rồi đẩy họ vào một phòng rỗng. Sẵn sàng từ chối không chiến đấu? Không phải hẳn như thế. Họ còn có thể giúp ích được. Smith ra lệnh nhốt họ cho đến khi phái bộ quân sự hoàn thành cuộc di tản (tr 319)…

Quá 9 giờ, chiếc xe Chevrolet bọc thép của đại sứ đỗ trước phái bộ quân sự ở Tân Sơn Nhất. Tướng Smith vội vàng dẫn Martin vào hầm, ở đây đã có mấy sĩ quan Mỹ và Việt Nam. Đại tá Lương, trưởng phòng tình báo Nam Việt Nam báo cáo vắn tắt tình hình: Về mặt quân sự không còn hy vọng, quân đội đã suy sụp, đặc công Bắc Việt Nam đã tiến đến chung quanh sân bay (tr 323)…

Polgar trở thành tù binh trong sứ quán đúng lúc bạn bè Việt Nam chờ ông ở nhà, cách đó khoảng mười ngôi nhà. Polgar đứng bên hàng rào, bất lực; ông đang nhìn biển người trước mặt, chợt một tiếng quen thuộc gọi ông, gọi to và giật giọng. Đó là nguyên cố vấn an ninh của Thiệu, tướng Đặng Văn Quang vừa đến và len tới sát hàng rào. Ông ta mặc một chiếc áo đi mưa dài, đeo kính đen, xách hai cặp rất nặng. Polgar nói dõng dạc với người cai: “Cho người này vào”. Nhưng cũng phải tranh luận, người cai mới đồng ý hé cửa để Quang lách cái thân già và béo phệ của ông ta vào!

Tướng Đặng Văn Quang

Những giờ sau, Quang đi đi lại lại trong phòng làm việc của Polgar trên lầu sáu. Ông mặc bộ quần áo màu xanh nước biển, đeo nhiều nhẫn kim cương. Quang gọi dây nói khá lâu vì trong lúc sợ hãi và vội vàng vào sứ quán, ông đã quên con cháu đang đứng bên ngoài. Quang cố cầu cứu mấy người bạn khác. Phần lớn chúng tôi ghét Quang. Thấy ông ta ngồi trong phòng, chúng tôi ra ngay. CIA đã trả ông ta nhiều tiền và đề cao ông ta nhiều năm. CIA cũng đưa ông ta lên ngồi bên cạnh Thiệu nhưng ông ta đã phản bội chúng tôi, không cho chúng tôi biết chiến lược của Thiệu rút khỏi Tây Nguyên, đưa quân về cố thủ. Trong những giờ cuối cùng ở Sài Gòn này, mặc xác ông ta xoay xở. Buổi chiều, khi máy bay lên thẳng chở Quang đi, không có con ông ta, không người nào không nói: “đáng kiếp!” (331)….

Thực tế, trụ sở bộ tổng tham mưu liên quân, ở gần Tân Sơn Nhất, gần như bỏ trống hoàn toàn. Tướng Kỳ một mình, đi tìm tướng Khuyên, nguyên tham mưu trưởng. Sáng nay, Kỳ đã cho vợ con đi khỏi Sài Gòn, và ông muốn lấy một máy bay đi ném bom lần cuối cùng quân thù (sau này Kỳ mới nói lại như thế). Khuyên biến mất. Ở bộ tham mưu không quân người ta trả lời Kỳ, mọi người đã đến phái bộ quân sự. Lúc ấy, tướng Ngô Quang Trưởng, cựu tư lệnh Quân khu I, nay là một con người suy sụp và cay đắng, đang ở phòng tác chiến. Ông thở dài: “Tôi chẳng còn biết làm gì nữa”. Kỳ cúi đầu, đặt tay lên vai Trưởng: “Đến chỗ tôi”. Họ ra khỏi ngôi nhà, lên máy bay trực thăng riêng của Kỳ, bay tới tàu USS Mldway, trên biển Đông.

Ở phái bộ quân sự, một chỉ huy cao cấp của quân đội Nam Việt Nam đến thăm tướng Smith lần cuối cùng. Đứng trước người Mỹ, ông ta ăn mặc rất chỉnh tề, ngực đeo đầy huân chương. Đó là tướng Phạm Văn Phú, người đầu hàng không chiến đấu ở Tây Nguyên, viên tướng bỏ mặc quân lính tan rã. Ông ta chào trịnh trọng, thong thả tướng Smith, dậm gót chân rồi quay ra. Ông ta đề nghị Smith giúp một phần gia đình ông ta di tản, nhưng không nói gì đến ông ta. Một lát sau, Phú bắn vào đầu tự tử….

Ở dinh tổng thống, Minh giận dữ đi lại trong phòng. Đoàn sứ giả đi Tân Sơn Nhất không biết sống chết thế nào. (tr.356) Nhiều người trong giới thân cận lại khuyên Minh đầu hàng không điều kiện. Nhưng Minh không thể làm như thế. Ông ta nói: “Đồng bào tôi sẽ khinh tôi! Tôi sẽ quyết định sau”. Ông ta muốn thành lập chính phủ để khỏi một mình chịu sự ô nhục này.(DVM vẫn còn ngất ngơ, ảo tưởng thành lập chính phủ liên hiệp, NDVN)…(tr 357)

Khi chính giới biết rõ luận điểm của ông, Kissinger lập tức đề phòng việc nói ngược lại. Ông điện cho Martin đang ở trên tàu, ra lệnh không được nói gì với giới báo chí. Ông báo cho Thiệu ở Đài Loan (tr.375) biết ông ta không được phép vào Hoa Kỳ (con gái ông ta học ở đấy) trước khi cuộc bầu cử tổng thống diễn ra.

Chân Dung Tập đoàn “Lính Đánh Thuê” Ngụy quân – Ngụy Quyền VNCH

Ngô Đình Diệm
Tướng Nguyễn Văn Thiệu
Tướng Nguyễn Cao Kỳ
Tướng Ngô Quang Trưởng
Tướng Cao Văn Viên
Tướng Nguyễn Văn Toàn
Tướng Lâm Quang Thi
Tướng Vĩnh Lộc
Tướng Lý Tòng Bá

Trong lúc đó, nhiều nhân vật trong tấn bi kịch Việt Nam bị lăng nhục thậm tệ. Ít lâu sau khi họ đến Guam, nhiều tướng bại trận bị nhốt trong những chuồng sắt. Tướng Toàn, nguyên tư lệnh Quân khu III, kiệt sức, bị đẩy vào giữa nhóm, ngồi xuống một ghế quay. Tướng Tưởng, người bảo vệ Đà Nẵng đau mắt nặng, không còn trông thấy chiếc ghế. Một lúc sau, một sĩ quan hải quân Mỹ vào, bắt ông ta cởi binh phục. Một viên tướng hỏi: “chúng tôi có thể đeo huân chương không? Người Mỹ trả lời: “Không! Các anh không còn quân đội, không còn Tổ quốc!”(tr 376)….

Martin nhún vai. Có lẽ muộn quá rồi. Cộng sản muốn chiến thắng hoàn toàn. Sau khi cảm ơn Merillon một lần nữa về sự giúp đỡ của ông, Martin ra sân, đi tới bức tường chung của hai sứ quán, gõ ba lần vào cửa ngách, cửa mở, ông đi về phòng mình (tr 346)….

Trên lầu sáu, đứng dưới nơi đỗ của máy bay lên thẳng, Tom Polgar ngồi trong phòng làm việc trống trơ, trước chiếc máy chữ cũ kỹ. Ông vừa đánh xong một bức điện gửi Hoa Thịnh đốn, bức điện lịch sử như ông đã nhấn mạnh trong những câu đầu: “Đã nhận được lệnh tổng thống chấm dứt cuộc di tản vào 3 giờ 45 phút, giờ địa phương, ngày 30-4. Muốn hỏi xem đó có phải là thông điệp cuối cùng gửi chi nhánh Sài Gòn không? Phải mất 20 phút mới phá huỷ được máy móc ở đây. Đến 3 giờ 20 phút, giờ địa phương, chúng tôi sẽ chấm dứt việc liên lạc”. Đoạn sau có một nội dung rất triết lý. Ông biết rằng ông viết đây là cho thế hệ mai sau. Nhưng cũng như nhiều bức điện trước ông gửi về Hoa Thịnh đốn trong mấy tuần qua, những điều ông viết chỉ phản ánh ảo tưởng của ông, chứ không nói về hoàn cảnh, về thực tế lúc bấy giờ. Nay cũng vậy, Polgar cho rằng sự bủn xỉn của quốc hội, những biện pháp nhỏ nhen, nửa vời (danh từ, tính từ ông thích dùng), đã gây nên sự đổ vỡ của chế độ Sài gòn. Ông viết: “Đó là một cuộc chiến đấu lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. (tr.365) Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng sự nghiêm trọng của thất bại và hoàn cảnh đưa đến thất bại, buộc chúng ta phải nghiên cứu sâu sắc chính sách, biện pháp nhỏ nhen, nửa vời chúng ta thường áp dụng trong sự can thiệp của chúng ta vào nước này mặc dù chúng ta đã ném vào đây bao nhiêu người và tiền của. Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải nhắc lại lịch sử. Mong rằng chúng ta không phải học thêm kinh nghiệm của một Việt Nam khác mà nhớ đời bài học này! Chấm dứt liên lạc của Sài Gòn”.(tr 366)…

Nhiều người khác cũng phải chịu trách nhiệm về thảm hại của Sài Gòn. Đầu tiên là dân chúng Mỹ. Thật ra, sự bất bình trong cả nước cuối những năm 60 và đầu những năm 70 đã dẫn đến việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam và chấm dứt sự can thiệp dã man của Hoa Kỳ. Nhưng một khi lính Mỹ đã về nước thì tư tưởng “cuốn theo chiều gió” đã có trong các giới đối ngoại cũng lan tràn trong dân chúng. Vấn đề Việt Nam không còn ở trong lòng nước Mỹ nữa. Điều đó cho phép một số nhân vật có thế lực tiếp tục một chính sách hợp lý. Đây có thể là một điều cảnh cáo. Vì việc quân của tướng Dũng vào Sài Gòn tháng 4 năm 1975 chỉ là kết quả sự nhắc lại những sai lầm và thiếu sót đã làm cho chúng ta tham gia chiến tranh. Hai tổng thống Hoa Kỳ đã đánh lừa dân chúng. Đại sứ đã thổi phòng hy vọng thắng lợi. Người ta bỏ mặc những kẻ do chúng ta che chở ở Sài Gòn, thực hiện một chính sách thất bại. Mọi việc diễn ra như trong giới cao cấp của chính quyền, người ta vội quên những bài học của quá khứ.

Mong rằng với thời gian và khi những vết thương chiến tranh Việt Nam đã lành, có thể trả lại vai trò cho lịch sử. Nghĩa là đánh giá lại từ đầu, một cách khách quan, toàn bộ chủ trương, chính sách, sự việc xảy ra, kể cả những gì làm cho nhiều người trong chúng ta mù mắt, không nhìn rõ diễn biến thật sự của tình hình Việt Nam. Đừng bỏ lỡ dịp. Thôi, đừng coi vấn đề Việt Nam là một ảo ảnh, dễ quên hơn là dễ nhớ lại. Nhất là trong cơn hấp hối của nó. Nếu không, chúng ta không thể thoát ra khỏi các thế lực, trên lĩnh vực tình báo cũng như trong địa hạt chính trị, đã thay đổi “khoảng cách chịu được” của Sài Gòn thành một kết thúc thảm hại của tấm thảm kịch Mỹ. (tr.385)

nhandanvietnam.org

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: