Cuộc tháo chạy tán loạn – Phần 27

Buổi sáng

oOo

Buổi họp được tổ chức trước nửa đêm trong hội trường của sứ quán. Có khoảng 20 người mệt mỏi và mất tinh thần tới dự lúc George Jacobson đến chỗ ngồi của đại sứ để làm chủ toạ cuộc họp thay đại sứ. Một viên chức lặng lẽ cầu khẩn buổi họp xong sớm. Nhưng anh đã thất vọng. Buổi họp kéo dài hơn một giờ, người nào cũng tưởng mình là chuyên gia về di tản nên đều đứng lên phát biểu ý kiến. Jacobson mở đầu. Anh nói: “Đại sứ tin rằng quân Bắc Việt Nam còn chờ 48 giờ nữa mới mở cuộc tiến công cuối cùng. Sứ quán còn thì giờ để di tản mười nghìn người như dự kiến. Nhưng có một vấn đề là chất lượng. Đã dành quá chỗ đi cho bồi bếp. Đại sứ buộc mươi nghìn người di tản còn lại phải là những người mà “tính mạng bị uy hiếp”. Jacobson quay lại phía Shep Lowman đã làm một danh sách cho sứ quán và nói: “Anh thử xem có đủ tên hai nghìn người Việt Nam đáng được di tản không?” Lowman ngạc nhiên nhìn. Lần đầu tiên anh thấy người ta định chỉ tiêu.

Sau đó lại thảo luận về đường đi của xe buýt, nơi đón và khoảng một trăm chi tiết kỹ thuật khác. Cuối cùng, Lacy Wright giơ tay và hỏi: “Có ai có kế hoạch làm cho chúng tôi thoát khỏi nạn không? Nếu có thì nói đi”. Jacobson mỉm cười và nói điều gì đó không ai nghe rõ.

Lúc kết thúc buổi họp, Lowman hỏi Alan Carter bản danh sách mới những người được anh chọn đi trước. Carter kêu lên: “Tôi đưa mấy ngày nay rồi”.

– Tôi biết, nhưng để lẩn mất rồi. Phải làm lại tất cả. Lowman chỉ tập hợp được mấy đồng nghiệp làm thành một nhóm hôm sau xung phong đi đón và đưa người tị nạn. Rồi cùng với Don Brewster, anh gọi dây nói cho những người Việt Nam đứng đầu danh sách.

Người phát ngôn của Hà Nội không im tiếng. Gần một giờ sau đài giải phóng tuyên bố: “Nhân dân ta hoàn toàn tin tưởng và lực lượng chính trị và quân sự của mình và chắc chắn sẽ chiến thắng hoàn toàn, giải phóng miền Nam, đất nước của cha ông”. Trong một buổi khác, đài này gọi chính phủ Minh là “nguỵ quyền gian dối, một bộ máy chiến tranh trong đó lực lượng thứ ba là nạn nhân”.

Hà Nội cũng lên án Hoa Kỳ hết sức nặng: “Đề nghị đơn giản của Hoa Kỳ là để lại sứ quán với một nhóm nhỏ nhân viên không thể được coi là chấm dứt sự can thiệp của Mỹ. Vấn đề cần thiết là sứ quán ấy được quyền làm gì và tại sao tất cả nhân viên không rút đi ngay, không có hạn định (không có sự phân biệt giữa cố vấn với những người khác…) đế quốc Mỹ có chịu bồi thường và hàn gắn những vết thương sâu và nặng chúng đã gây ra cho nhân dân Việt Nam không? “Tóm lại, nếu người Mỹ muốn có mặt một cách chính thức nào đó ở Việt Nam, họ phải bỏ tiền ra và nhận tội. Những đòi hỏi ấy loại trừ hẳn việc duy trì một phái đoàn ngoại giao bình thường. Không còn vấn đề để lại một sứ quán Mỹ nhỏ nữa. Nhưng phải mất nhiều thì giờ. Nhà Trắng mới nhận rõ vấn đề ấy.

Đến 2 giờ 30 phút sáng, giờ Sài Gòn, ngày 29 tháng 4, khoảng hai nghìn người Việt Nam ăn cơm ở nhà phụ của phái đoàn quân sự. Cầu hàng không tạm ngừng vì phải bốc hàng từ ba máy bay C-130 xuống. Hơn một giờ sau, hai chiếc sẵn sàng chở người đi. Don Hays, người phụ trách việc phân loại mệt quá, không đếm được người đi. Hai chiếc máy bay bốc lên, chiếc thứ ba lăn bánh tới, Hays liếc nhìn đồng hồ: đã bốn giờ sáng. Một vài ngày sau. Trái rốc kết đầu tiên nổ vang. Nó làm rung chuyển phòng tôi. Tôi lăn khỏi giường trong đêm tối, mò cái mũ, chiếc áo giáp và khẩu súng, bò tới cửa sổ, thầm tính khoảng cách từ đây đến những nơi có tiếng nổ nhỏ tiếp theo: chỉ độ vài kilômét, chắc là bắn ở sân bay Tân Sơn Nhất. Trên các ngọn cây, tôi trông thấy những khói lửa tròn bay trong bầu trời tối mịt. Chân trời vang lên tiếng súng pháo binh. Một tiếng kêu phát ra từ đài vô tuyến nhận tin đặt trên bàn giấy. Ai đó thét lên: “Tân Sơn Nhất bị rốc kết và đạn 130 ly bắn phá!” Tôi vội mặc quần, đi giầy và chạy ra hành lang. Ngoài phố, cảnh sát Việt Nam sợ hãi nằm dưới đất, ló đầu khỏi mấy xe hơi đỗ bên hè hoặc khỏi mấy bao cát. Tôi cúi người, chạy ven tường đến phòng Joe Kingsley, xem anh đã thức chưa. Đúng lúc anh dậy. Anh vừa nói: “Lần này thế là hết”, vừa mặc áo giáp. Chúng tôi theo cầu thang bên ngoài, đi lên nóc nhà. Một trái rốc kết nổ gần máy bay C-130 đang đỗ trên đường băng, máy bay bị hư hại nặng một phần biến thành một tờ giấy nhôm. Hai trái nổ gần trạm gác Moorefield vừa cho đặt cách đây mấy giờ. Người cai Mc Mahon và anh binh nhất Judge chết ngay. Một trái nổ trên sân quần vợt của phái bộ quân sự. 1500 người Việt Nam ngồi gần bể bơi bị hơi đạn nổ đánh bạt đi như những ngọn lúa bị gió to lay đọng. Hays thét, họ nằm xuống và anh bị đè bên trên. Mấy giây sau, một trái nữa nổ ở góc phòng thể dục, làm sụt mái nhà và chết một phụ nữ. Ba, bốn trăm người tị nạn ở trong nhà định phá tường sắt chạy ra ngoài. Cách đó mấy trăm mét, một trái nữa nổ, hất tướng Smith và Marbod từ giường xuống đất . Trên lầu thường, một máy điều hoà không khí gắn vào tường bị ném cuống chân một giường trên có người ngủ. Anh này hoảng sợ vội vớ lấy khẩu M-16 chạy ra ngoài và ngảy xuống một hố. Sau anh mới biết là chưa mặc quần!

Cách đó năm kilômét, đứng trên mái nhà, chúng tôi tính thời gian từ lúc bắn đến lúc đạn nổ: khoảng năm giây. Jeo nói với vẻ thán phục: “chắc là đại bác 130 milimét. Không có đạn rốc kết nào có thể gây thiệt hại lớn như thế!” Rìa sân bay Tân Sơn Nhất, một kho nhiên liệu trung đạn, bốc cháy ngay bắt đầu đỏ lửa ra chung quanh. Một đám khói đen cuồn cuộn lên bầu trời. Mấy giây sau, một trái nữa nổ vào đám cháy.

Joe, chỉ khu vực Hoa kiều ở Chợ Lớn kêu lên: “Đằng kia cũng bị!” Anh nói đúng. Bầu trời Chợ Lớn đỏ rực, gió biến thành một cơn bão lửa.

Từ lúc trái rốc kết đầu tiên nổ, tướng Dũng đã theo dõi được tiến triển của cuộc bắn phá nhờ có hàng loạt báo cáo do đặc công nằm ở phía Bắc sân bay Tân Sơn Nhất gửi về. Đến 5 giờ, có tiếng dây nói gọi ông.

Ông viết trong hồi ký:

“5 giờ sáng ngày 29 tháng 4, khi các cánh quân ta đồng loạt nổ súng tiến công thì chúng tôi nhận được điện của Bộ chính trị gửi lời kêu gọi và những chỉ thị sau đây:

Nhiệt liệt khen ngợi toàn thể các đơn vị đã lập được chiến công lớn trong những ngày qua, kêu gọi toàn thể các cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, với quyết tâm lớn nhất, hãy nhanh chóng đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh của một quân đội trăm trận trăm thắng, đập tan mọi sức đề kháng của địch, kết hợp tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn – Gia định, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại!”

Sau khi phổ biến chỉ thị của Bộ Chính trị cho cán bộ có mặt ở bộ chỉ huy, tướng Dũng và cộng tác viên của ông còn gửi một “lệnh động viên” cho tất mọi người. Lệnh do ông Phạm Hùng thông qua, đã quyết định số phận của Sài Gòn.

Hà Nội còn cho tướng Dũng biết: một số đông người Mỹ và người Việt Nam sẽ rời Sài Gòn bằng máy bay trong mấy giờ tới, trong đó có cố vấn quân sự Mỹ còn lại; quân đội tiếp tục siết chặt gọng kim chung quanh thành phố, nhưng đừng động đến cầu hàng không…

Quá 5 giờ, tướng Smith mặc binh phục, đeo khẩu 45 bên hông chạy qua sân quần vợt đến sở chỉ huy của phái bộ quân sự. Ông chưa hết mẹt thì một sĩ quán mời ông đến nghe dây nói. Đại sứ Martin muốn nói chuyện với ông. Ông báo cáo: Vâng, chúng ta tiếp tục bị rốc kết bắn, một máy bay C-130 đang cháy”. Rồi ông nhớ lại chi tiết đáng buồn: hai lính thuỷ Mỹ bị chết bên hàng rào. Im lặng bên kia đầu dây. Có lẽ Martin chưa nghe rõ. Smith nhắc lại. Đại sứ cắt ngay: “Tôi rõ rồi”, tiếng khàn khàn, có vẻ ông bị viêm họng. đại sứ lại nhấn mạnh: việc đầu tiên là tất cả nhân viên phái bộ quân sự phải rời Sài Gòn trong 12 giờ tới dù có bị bắn phá hay không. Cầu hàng không C-130 phải bắt đầu ngay. Cái gì ngăn cản? Smith bình tình trả lời: Đường băng không chắc có còn sử dụng được!

Trở về nhà, tôi đi tắm, bình tĩnh cạo râu, mặc một quần cũ, một áo sơ mi và một áo ngoài thể thao. Đội mũ sắt lên đầu, đeo vào thắt lưng hai khẩu P.38. Cài khuy áo giáp xong, tôi buồn rầu nhìn lại lần cuối, căn phòng tôi ở, mấy cái quần áo bỏ đi, đài thu thanh, tất cả gia tài của một “thực dân” Mỹ trước giờ ra đi. Tôi đến cầu thang máy.

Lính gác Nùng ở ngoài cửa, dưới nhà, chào tôi, đi theo tôi trong một buổi sáng ảm đạm. Lính Nùng được coi là nhân viên an ninh trong các trụ sở chính thức của CIA, họ rất được tin cậy vì tinh thần chống cộng. Phần lớn họ tị nạn, từ Bắc Việt Nam vào. Đã hứa với họ có chỗ trên máy bay di tản nên họ đang chờ. Một người là chồng chị sen của tôi, giúp tôi đưa chiếc bọc đà vào xe Ford Pinto. Anh mở cửa xe cho tôi, chào tôi một lần nữa và ấp úng nói bằng thứ tiếng Anh giả cầy: “Đừng quên tôi”. Lần cuối cùng, tôi gặp anh. Anh và các bạn đồng ngũ với anh đều bị bỏ rơi!

Từ nhà tôi đến sứ quán chỉ mất ba phút đi xe hơi. Tôi phóng nhanh, trên những phố vắng người, nhưng có cảm tưởng là không bao giờ tới được. Sau cùng tôi dừng được xe sau sân chơi. Một lính thuỷ gác ở đây chỉ cho tôi chỗ đỗ xe ở ngoài phố. Đeo bạc đà lên vai, khoá xe, tôi đi về phía cổng sau ngôi nhà. Một lính thuỷ mở cửa đủ cho tôi len vào. Đi qua sân, tôi thấy một bóng người cao trước căn tin. Đó là George Mc Arthur, một trong những nhà báo tôi đã tiếp xúc trong bữa ăn tối của Carter 15 ngày trước và đã không tán thành luận điểm của tôi.

– Chào bạn, Mc Arthur nói bằng giọng kéo dài của người miền Nam nước Mỹ, có người cho biết, các bạn còn chỗ. Mấy phút trước đó, Mc Arthur được Eva Kim cho hay cầu hàng không hoạt động gấp và anh không muốn bị bỏ lại. Tôi sẽ gật đầu và tiếp tục đi.

Polgar chưa có ở phòng làm việc. Viên chức thường trực đưa cho tôi khoảng 20 bức điện và tin vô tuyến điện, trong đó có những tuyên bố mới nhất của Hà Nội và một bản sao nhận định của Hoa Thịnh Đốn. Tôi ngồi vào bàn, thảo hai nhận định cho Hoa Thịnh Đốn.

Kết luận, tôi nói rõ không còn nghi ngờ gì về chủ trương của Hà Nội đối với Sài Gòn: không có thương lượng. Đó là bản phân tích về chính trị, quân sự…cuối cùng đánh đi từ sứ quán Mỹ ở Sài Gòn.

Mệt mỏi vì phải quan sát, Kenneth Moorefield rời mái nhà về phòng, xin một xe hơi. Sau này anh kể lại: “Tôi muốn đến sứ quán để nói chuyện với nhân viên an ninh. Nhưng sau lại thôi. Garrett và cộng tác viên của anh không hề biết gì về cầu hàng không. Thấy thế, tôi bảo họ, mặc kệ, tôi cứ đi. Rồi tôi đề nghị Garrett cho lính hộ vệ tôi ra ra sân bay Tân Sơn Nhất. Đi cũng dễ. Ngoài đường có ít người. Nhưng khi chúng tôi đến cửa chính sân bay thì vấp phải ngay một chuyện: lính gác không cho chúng tôi vào. Họ cho tôi là nhà báo nên quá cáu kỉnh. Không thể trách họ được. Đạn rốc kết nổ khắp nơi. Máy bay Việt Nam định cất cánh và dưới đất mọi người đều bắn tứ tung. Tôi tưởng không thể nào vào được. Nhưng đúng lúc chúng tôi định quay về thì trái đạn rốc kết nổ cách chỗ chúng tôi mấy trăm mét, chúng tôi vội nhảy vào một cái hốc. Lúc chúng tôi đứng dậy thì những người lính gác quá sợ hãi. mặc chúng tôi muốn đi đâu thì đi.

Đến 6 giờ, đoàn ngoại giao đến sứ quán. Đi trước họ là Polgar. Ông vào phòng đại sứ báo cáo tình hình sân bay. Ông hỏi, rồi gợi ý: “đã đến lúc phải di tản bằng máy bay lên thẳng chưa? Ít nhất, phải cho cưa cây me ngoài sân đi”. Đại sứ không buồn nói chuyện nữa. Đối với ông, cầu hàng không bằng máy bay C-130 là quá đủ. Thế là chấm dứt. Tức giận, Polgar gọi Jacobson ra nói riêng: “Dù thế nào cũng phải cưa cái cây để bảo đảm an toàn”.

Cùng lúc ấy ở Hoa Thịnh Đốn là buổi chiều, tổng thống Ford họp hội nghị năng lượng ở Nhà Trắng. Một chuyên gia đang nói về khả năng người A rập cấm chở dầu lửa thì tướng Brent Scowcroft, phó thứ nhất của Kissinger, dón chân đi vào phòng và đưa cho tổng thống một tin “Tân Sơn Nhất bị bắn phá, hai lính thuỷ chết. Di tản tạm ngừng”. Ford hắn giọng, suy nghĩ một lát rồi ra lệnh cho Scowcrofl triệu tập Hội đồng an ninh quốc gia trong một giờ.

Tại bộ tổng tư lệnh ở Honolulu, đô đốc Gayler đi bách bộ. Ông muốn cấp tốc thực hiện phương án di tản, nhưng Martin tiếp tục không nghe. Ông đã gọi dây nói thẳng đến sứ quán mấy phút trước nhưng được trả lời là đại sứ bận!

Đến 6 giờ 30 phút, tướng Smith ra lệnh mới cho cộng tác viên: Tất cả nhân viên phái bộ quân sự sẵn sàng ra đi, đúng cầu hàng không C-130 lập lại. Tức thì đại tá Wahle, tuỳ viên quân sự gửi qua vô tuyến điện và dây nói một điện, báo động cho các địa điểm tập họp ở trung tâm thành phố. Đại tá giao cho đại úy Tony Woods tổ chức đoàn xe ô tô buýt và nói: chính thức ra thì chỉ có nhân viên phái bộ quân sự đi thôi nhưng nếu có người Mỹ khác xin đi thì cứ để họ đi.

Trước 7 giờ, một sĩ quan hải quân đứng ở đường băng vội chạy đến báo cáo tình hình với tướng Smith. Anh nói: ở đây rất xấu, rất xấu. Máy bay Việt Nam đậu trên đường băng như chim bị thương. Dầu, bom và nhiều vật liệu chiến tranh rải rác khắp rơi. Một máy bay phản lực F5, máy còn chạy, bị bỏ lại. Smith vừa nghe, vừa lắc đầu. Như thế thì máy bay C-130 hạ cánh thế nào được? Nghe vừa xong, ông gọi ngay cho Polgar ở Honolulu và đề nghị có một phi đội máy bay tiêm kích đi bảo vệ máy bay vận tải.

Cách sở chỉ huy của tướng Smith mấy trăm mét, Moorefield vừa đột nhập nơi phân loại người di tản của phái bộ quân sự. Anh thuật lại: “hoàn toàn như một trại người điên. Đánh nhau khắp nơi. Không có cơ quan an ninh kiểm tra. Không có gì hết. Trước đây, có Woods, một sĩ quan hải quân giúp vào việc di tản, tôi đi tìm anh ta định xin một vài lính thuỷ ra trông coi nơi phân loại. Nhưng khi thấy anh thì rõ ra là không ích lợi gì. Trời ơi, chính anh ấy lại đề nghị tôi giúp. Anh vừa được lệnh tập hợp các chuyến xe nhưng lại không biết rõ địa điểm ở đâu. Tôi biết nên phải giúp anh”.

Đến 19 giờ 23 phút, giờ Hoa Thịnh Đốn, Hội đồng an ninh quốc gia họp khẩn cấp đặc biệt ở Nhà Trắng. Tất cả cán bộ cao cấp của Bộ Quốc phòng, cơ quan tình báo đều tham gia. Ford ngồi đầu bàn, Kissinger ngồi bên phải. Bên kia, theo thứ tự là bộ trưởng, quốc vụ khanh Ingersoll, giám đốc CIA Colby, Schlesinger và phó của ông là Clements, tướng George Brown, tham mưu trưởng liên quân, và một số nhân vật ít nổi tiếng khác. Kissinger bắt đầu trình bày: không lập ngay cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng vì máy bay thường còn có thể cất cánh được ở sân bay Tân Sơn Nhất. Schlesinger và Brown không đồng ý, cho rằng đã đến lúc phải thực hiện phương án IV. Cuối cùng, Brown đề nghị một thỏa hiệp: trước hết, bảy máy bay C-130, từ Philippines và Thái Lan bay đi Sài gòn: nếu chúng đỗ được xuống thì tiếp xúc cầu hàng không, trái lại phải dùng máy bay lên thẳng. Brown cũng đề nghị, như tướng Smith đã đề nghị với đô đốc Gayler, cho một phi đội máy tiêm kích hộ tống. Nhưng Kissinger phản đối. Theo ý ông, mọi cuộc biểu dương lực lượng lúc này có thể làm Hà Nội hiểu lầm.

Sau đó Hội đồng an ninh quốc gia bàn về số phận bản thân sứ quán. Hà Nội có vẻ bác bỏ mọi sự có mặt của người Mỹ ở Sài gòn, nhưng Martin đã lầm, người Bắc Việt Nam nói có lý. Kissinger cau mày. Ford mỉm cười và cắt đứt câu chuyện. Cuối cùng, lại đi đến một thoả hiệp thứ hai: nhân viên sứ quán rút xuống còn một nhóm xung kích gồm 150 người. Những người khác phải di tản ngay trong ngày, cùng với đồng nghiệp ở phái bộ quân sự.

Sau buổi họp, Kissinger gọi dây nói cho Martin. Còn tổng thống Ford cho rằng bộ tham mưu đã nắm vững tình hình cuộc khủng hoảng nên đi lên tìm vợ ở lầu hai Nhà Trắng để cùng nhau uống một ly Martin trước khi ăn tối.

Ở Sài Gòn. Alan Carter đến sứ quán vào 7 giờ 30 phút. Phần lớn đồng nghiệp anh đã đến họp ở phòng làm việc đại sứ. Anh vừa vào, vừa hỏi: “Tôi sự họp được không?” Đại sứ chỉ cho anh một chỗ trên ghế dài. Polgar vừa trình bày xong bản nhận định của tôi và tuyên bố mới nhất của Hà Nội. Ông nói tiếp: “Những người của tôi ở sân bay Tân Sơn Nhất nói rằng đường băng không còn dùng được nữa. Có lẽ chúng ta phải sử dụng máy bay lên thẳng” Pittiman, phó của ông, ngồi không yên, vẻ ngượng nghịu. Anh đã dự kiến như thế. Mặt Martin bỗng căng ra như tờ giấy cũ. Ông rên rỉ: “Làm sao anh biết rằng đường băng không dùng được nữa? Anh chỉ nghe người dưới quyền nói qua điện thoại thôi chứ gì?”. Polgar định trả lời nhưng đại sứ đã thay đổi câu chuyện: “Dù sao tôi vẫn nghĩ rằng Hà Nội có ý đồ thương lượng”.

Lúc ấy, cuối phòng, có một cánh tay giơ lên. Jeo Bennet, cố vấn chính trị, bằng một giọng khiêu khích, đứng lên hỏi “Cái gì làm cho ngài tin như vậy?”. Hai ban đồng nghiệp nhìn nhau, lạ lùng. Joe Bennett vốn rất trung thành với Martin và kịch liệt chống cộng, không phải thuộc hạng người lên án sự suy xét của đại sứ.

Martin không thèm trả lời thẳng. Ông nói: Trước khi có quyết định: tôi muốn đến Tân Sơn Nhất xem tình hình thế nào? Carter há hốc mồm. Nhiều tiếng xì xào phản đối. Nhưng trước khi có người đứng dậy phản đối rõ rệt thì Martin phải đi nghe dây nói của Kissinger gọi sang.

Mấy phút sau, ông trở lại thì mặt ông mất cả vẻ nghiêm nghị. Ông nói nhỏ. Tổng thống đồng ý lúc này tiếp tục cầu hàng không nhưng ông muốn chúng ta giảm số nhân viên sứ quán xuống còn 150 người, nghĩa là một ê kíp xung kích.

Bất ngờ, mọi người đều nhao nhao lên. Polgar bắt đầu nói cái gì đó nhưng sau, cho rằng, dù sao cũng nên im lặng nên ông dựa vào ghế và lắc đầu. Hoa Thịnh Đốn muốn giải quyết cuộc khủng hoảng như thế đấy. Một nhóm xung kích! Việc đó có nghĩa là mọi người ở đây phải dành nhiều giờ để làm lại bảng phân công. Nói một cách khác, làm những việc vớ vẫn trong khi thành Rome đang bị cháy! Đó là ý nghĩa của tất cả việc đó. Khi buổi họp tan. Jim Devine đến gần Lowman. Thế còn những nhân vật Việt Nam thì sao? Lowman cho anh biết đã tiếp xúc với tất cả những người quan trọng. Nhưng vẫn còn vấn đề chưa biết giải quyết thế nào: Nếu máy bay C-130 không xuống được thì sao? Không có một Cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng nào có thể chở hết đám người di tản. Devine suy nghĩ. Anh gợi ý: Còn có sà lan, tàu thuyền. Còn thì giờ đi huy động chúng.

Mười phút sau, Lacy Wright và những người thuộc nhóm lực lượng bảo vệ nhỏ bé của Lowman, lấy máy điện thoại, gọi cho hằng trăm người Việt Nam đã được báo trước, nói cho họ biết cầu hàng không đang gặp nhiều khó khăn, nhưng có thể thay bằng biện pháp khác tuy có phần nguy hiểm (không ai nói đến sà lan, tàu thuyền cả) Ai sẽ đi? Ai nhận đi thì bất chấp thiết quân luật, mau mau tới một trong những biệt thự được chọn làm nơi đón tiếp. Một viên chức sứ quán sẽ đến đón họ và nói rõ thêm.

Wright đã gọi cho người Việt Nam thứ hai mươi hay thứ ba mươi gì đó thì bỗng anh nghi ngờ. Anh nói với một đồng nghiệp: “ta gọi nhiều người quá đấy. Không chở hết đâu”. Anh nói có lý, khổ thay!

Rời phòng làm việc của đại sứ, Polgar đến báo cho tôi, tôi thuộc nhóm xung kích nhỏ 50 người của chi nhánh CIA. Giọng ngắt quãng, ông nói thêm: Có thể có mất mát. Anh đã sẵn sàng chịu đựng chưa? Tôi gật đầu. Lúc ấy, tôi rất mệt và rất quen với những tấn bi kịch xảy ra chung quanh. Tôi tưởng như mình tránh được hết đạn.

Giữa lúc đó, George Jacobson tìm một máy bay lên thẳng đưa Martin đến phái bộ quân sự. Anh gọi cơ quan không quân Mỹ ở Tân Sơn Nhất nhưng người kiểm soát không quân trả lời: anh ta mệt quá không thể nào cho một máy bay đi được.

Nghe thấy thế, Martin tức giận mặc áo ngoài, đi ra thang máy, nói ồm ồm: “Trời! Tôi đi bằng xe hơi vậy”.

Lúc 7 giờ 30 phút, phó tuỳ viên không quân và mấy sĩ quan chạy vòng quanh nơi máy bay đổ, sang bên kia xa lộ, trước trụ sở phái bộ quân sự. sau này tướng Smith cho biết: Theo ý họ, lúc ấy, không thể tiếp tục cuộc di tản bằng máy bay thường. Tin lời họ, Smith ra lệnh cho nhân viên phái bộ quân sự chuẩn bị đi bằng máy bay lên thẳng, từ những sân quần vợt. Smith gọi sứ quán báo cho Martin. Nhưng Eva Kim cho biết đại sứ bận. Ông đã đi sân bay để kiểm tra đường băng. Nghe thấy thế, đương nhiên Smith cắm chân trong phòng làm việc.

Một bất ngờ khó chịu khác lại đến với ông tướng khốn khổ ấy! không báo trước, năm hay sáu sĩ quan cao cấp không quân Việt Nam đến xin trú ẩn và đề nghị phái bộ quân sự giúp họ di tản. Smith lạnh lùng tiếp họ, lột vũ khí rồi đẩy họ vào một phòng rỗng. Sẵn sàng từ chối không chiến đấu? Không phải hẳn như thế. Họ còn có thể giúp ích được. Smith ra lệnh nhốt họ cho đến khi phái bộ quân sự hoàn thành cuộc di tản. Làm như vậy, Smith chắc chắn sẽ nhận được sự hợp tác của những người lính Việt Nam khác.

Moorefield, trong đời, chưa bao giờ lái xe hơi. Anh cùng đại uý Woods phải lần mò vào nơi để xe của phái bộ quân sự. Mặc dù đã có lệnh, không một xe ô tô buýt nào dành để đón người tị nạn vì không có xăng! Trạm bơm cũng đóng cửa, lái xe người Việt Nam và nhân viên phục vụ đều trốn hết. Điều sợ nữa là hai người ở giữa nơi bị bắn phá. Moorefield kể lại: Đạn rốc kết nổ khắp chung quanh chúng tôi, một trái nổ chỉ cách 40 mét. Việt cộng bắt chúng tôi làm miếng xăng uých. Vừa chạy trong cỏ cao, tôi vừa nghĩ chắc hôm nay không có chuyện di tản. Chúng giết chúng ta mất. Bên cạnh tôi, trong bùn, có một người Việt Nam đang run sợ. Tôi gọi ông ta hỏi có biết lái xe không? Ông ta sợ quá chỉ nói được một từ: biết. Tôi dựng ông ta dậy, đẩy ông ta đến một chiếc xe vào bảo: Thử xem nào? Woods cũng làm như tôi khi gặp mấy người Việt Nam khác. Rồi chúng tôi nhảy vào xe gíp và một xe thường đi Sài gòn, đằng sau có bốn hay năm xe ô tô buýt.

Đến 8 giờ 15 phút, giai đoạn đầu cuộc di tản cuối cùng bắt đầu. Ở nơi phân loại người di tản, Don Hays, một tay bê một con nhỏ Việt Nam đang khóc, tay kia xách hai vali, anh nhìn đám đông, cố tìm chủ nhân. Qua làn khói và sương mù phủ lên sân bay, anh thấy một máy bay nhỏ bị bắn, đang rơi như sao sa cháy. Một lát sau, một đại tá không quân đi đến chỗ anh và nói: “chúng tôi nhận được lệnh tất cả người Mỹ phải rời ngay nơi này và tập hợp ở sân bay hộ tống chỉ huy”.

Hays đánh rơi vali, trả lời: Sao lại thế? Ở đây còn ba nghìn người Việt Nam không thể bỏ rơi họ đơn giản như vậy! Viên đại tá nhìn sát vào mặt Hays làu bàu: “Tôi không nhận lệnh của binh lính! Đi! Chấp hành ngay!” Hays trước đây cũng là lính bộ binh, có kinh nghiệm là tranh luận với một viên đại tá thường vô ích nên anh đưa đứa bé cho viên sĩ quan và chạy tới trạm điện thoại. Anh gọi được cho Jazynka ở sứ quán, Jazynka trả lời anh: “Đừng thắc mắc. Đại sứ đến xem đấy. Ông sẽ biết cần phải làm gì”. Hays quay lại chỗ viên đại tá, thở dài và nói: “Tôi cộng tác với ông nhưng ông phải cho tôi biết tình hình”. Viên đại tá nhún vai, trả anh đứa trẻ và bỏ đi, hững hờ. Hays báo cho khoảng 50 người Mỹ đứng rải rác trong đám đông đi về phía cửa sau, ở đấy có nhân viên CIA mở cửa cho họ ra.

Ở trung tâm thành phố, tướng Timmes đi xe của sứ quán đến dinh tổng thống. Một người phục vụ đi trước dẫn ông vào phòng làm việc của Minh. Ông rất lạ là không có sĩ quan, lính gác gì cả.

Tổng thống mới mặc đơn giản một áo ngoài, niềm nở tiếp ông. Timmes xin lỗi vì làm phiền Minh. Ông chỉ đến hỏi xem người Mỹ có thể giúp gì thêm. Minh cau mày, lắc đầu. Ông nói: “sáng kiến này thuộc về người Pháp. Mấy phút nữa, đại sứ Merillon sẽ đến nói chuyện với tôi. Ông cảm thấy vẫn còn chút hy vọng đến một thỏa hiệp”.

Tướng Timmes hỏi: “Vì sao người Pháp lại nghĩ thế?” Tướng Minh trả lời: “Trước hết, người Pháp biết rằng Trung Quốc phản đối việc Bắc Việt Nam chiếm toàn bộ nước này. Bắc Kinh sẽ dùng ảnh hưởng của mình để làm cho cộng sản không chiến thắng hoàn toàn. Sau nữa, Hà Nội không có đủ cán bộ để cai trị cả nước, có thể họ phải chấp nhận một chế độ giao thời. Quan trọng hơn nữa là Chính phủ Cách mạng lâm thời không muốn Bắc Việt Nam đô hộ!”

Timmes khẽ thở dài. Có phải đó vẫn là những luận điểm cũ mà người Pháp cố thực hiện một cách vô ích từ một tháng nay không? Thảo luận bây giờ cũng chẳng lợi gì. Tướng Timmes nghĩ thế rồi bảo Minh, ông sẽ báo cáo với Martin.

20 giờ 30 phút, giờ Hoa Thịnh Đốn, Nancy Kissinger mặc lễ phục đến Nhà Trắng. Cùng với bộ trưởng ngoại giao, bà sẽ vòi dự một buổi biểu diễn bi kịch của Noel Coward, vở Present Laughter, rồi đi chơi thủ đô. Nhưng Kissinger báo cho bà biết phải bỏ buổi xem kịch thôi vì Việt Nam đang hấp hối.

Mấy phút sau, lúc tổng thống và phu nhân ngồi vào bàn ăn thì Kissinger và tướng Scowcroft đi qua thảm cỏ của Nhà Trắng, về phòng làm việc. Một nhà báo hỏi: “Có tin gì thế?” Kissinger mỉm cười, không trả lời.

Bên kia sông Potomac, bộ trưởng Schlesinger và tướng Brown vừa ăn tôm hùm trong bữa tiệc của Lầu Năm Góc. Họ đến phòng tác chiến ở lầu hai. Lúc họ vào, loa phát thanh treo trên tường nheo nhéo phát tín của lực lượng can thiệp 76 ở Thái Lan và phái bộ quân sự Sài Gòn.

20 giờ 47 phút, nhận được lời nói của Gayler, máy bay C-130 đi Sài Gòn không thể có máy bay tiêm kích hộ vệ. Brown giằng lấy micro báo cho đô đốc biết: tổng thống cấm dùng lực lượng vũ trang. Im lặng ở đầu dây bên kia.

Trong những điều kiện bình thường, đi xe từ Tân Sơn Nhất về Sài gòn chỉ mất khoảng 15 phút. Nhưng Moorefield, đại úy Woods và đoàn xe ô tô buýt của họ phải mất hơn một giờ. Dân chúng không còn tôn trọng lệnh thiết quân luật nữa và đều ra phố để mong chạy thoát. Xe cộ chạy khắp các ngả đường. Sau tay lái có bà già mù và sĩ quan quân đội hoảng sợ. Ở các trạm kiểm soát, cảnh sát bắn chỉ thiên để nhắc nhở người đi lại.

Giữa đường, đoàn xe nhận được điện của phái bộ quân sự: về ngay nhà đại sứ. Woods suýt đâm vào cây khi nghe tin ấy. Không ai bảo anh rằng ở nhà đại sứ có người phải đón. Anh cũng chẳng biết nhà đại sứ ở đâu. Moorefield biết, bảo Woods cho xe đến, không gặp khó khăn gì. Họ hiểu rõ ngay lý do phải quay trở lại: phải di tản những người giúp việc đại sứ và gia đình họ.

Woods tức giận vì thấy mất bao nhiêu thì giờ quí báu. Nhưng thực tế, việc quay trở lại cũng tốt. Đến nhà đại sứ, thì thấy nhân viên giữ nhiên liệu đã bơm đầy xăng vào các xe ô tô buýt. Đại sứ không có nhà. Bà Martin có lẽ có nhưng không ra ngoài. Một người lính gác bảo Woods đưa tất cả nhân viên ra cảng. Moorefield kêu lên: “Ra cảng à! Tôi không hiểu anh nói gì?” Người lính nói. Đi sà lan. Cả Woods và Moorefield đều không biết tí gì về sà lan, tàu thuyền và cũng không biết chúng đậu ở chỗ nào. Lại phải quay lại và việc đón người di tản càng chậm thêm.

Moorefield quyết định gọi sứ quán để hỏi rõ chuyện. Jim Devine nghe dây nói cho biết: đó là lệnh của đại sứ, không được thảo luận. Anh chàng cũng không nói sà lan đậu ở đâu. May quá, những người lính gác cho biết mấy chi tiết.

Moorefield và Woods nhất trí để hai xe chở người giúp việc đại sứ ra cảng, có một lính gác bảo vệ, còn những xe khác đi đón người tị nạn ở các nơi tập kết.

Quá 9 giờ, chiếc xe Chevrolet bọ thép của đại sứ đỗ trước phái bộ quân sự ở Tân Sơn Nhất. Tướng Smith vội vàng dẫn Martin vào hầm, ở đây đã có mấy sĩ quan Mỹ và Việt Nam. Đại tá Lương, trưởng phòng tình báo Nam Việt Nam báo cáo vắn tắt tình hình: Về mặt quân sự không còn hy vọng, quân đội đã suy sụp, đặc công Bắc Việt Nam đã tiến đến chung quanh sân bay. Legro và Mc Curdy nhấn mạnh: đường băng đã hỏng.

Martin hỏi: có quân đội bảo vệ đường băng không?

Legro trả lời: thưa không. Lương nói đúng. Quân đội đã tan rã. Đại sứ nhún vai, gọi Smith sang một bàn giấy gần đấy và ra lệnh: cố di tản càng được nhiều người Việt Nam càng tốt. Cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng không chở hết. Phải làm thế nào để máy bay C-130 có thể đỗ xuống được.

Smith muốn trình bày nhưng đại sứ đã quay người, gọi dây nói thẳng cho Hoa Thịnh Đốn. Scowcroft nghe dây nói. Đại sứ nhắc lại quan điểm của ông: Rất cần phải mở lại cầu hàng không bằng máy bay thường. Scowcroft hiểu rõ việc đó. Ông nói: Lúc này Hội đồng an ninh quốc gia ủng hộ giải pháp ấy. Cầu hàng không bằng máy bay C-130 tiếp tục càng lâu càng tốt. Trước khi ngừng nói điện thoại, Martin ghi mấy tên trên và đọc to lên, muốn Smith hiểu. Rồi ông trở ra phòng tác chiến.

Erich Marbod ngồi ở bàn làm việc, trong một góc. Anh đang uống cà phê. Mặc quần áo kaki, vai đeo khẩu liên thanh K. của Thuỵ Điển, anh giống như một du kích hơn là thứ trưởng quốc phòng. Martin quần áo chỉnh tề, đi qua trước mặt anh, nhìn anh không bằng lòng. Sắp ra khỏi phòng thì ông quay lại, đến bên cạnh Marbod. Bất ngờ, mặt ông dịu lại, vừa mỉm cười, ông vừa hỏi Marbod: “Này Erich, sáng nay, khoẻ chứ?” Rồi ông để tay lên vai Marbod: “Tôi tự hỏi không biết anh có thể giúp tôi việc này không? Đó là việc đưa vợ tôi, bà Dottie đi Anh có thể thu xếp một chuyến bay để đưa bà ra khỏi nước này không? Anh có nhiều bạn ở bộ tư lệnh lực lượng không quân thứ bảy ở Thái Lan. Anh làm ơn nói với họ cho một chuyến máy bay đặc biệt để chở bà nhà tôi đi”.

Von Marbod nhìn vào mặt đại sứ trả lời: “Trời ơi, ông Martin, ông khốn rõ tình hình sao? Đường băng hỏng rồi. Không còn cầu hàng không bình thường nữa. Máy bay nào đậu ở đường băng quá mười phút là bị quân Bắc Việt Nam bắn ngay. Cách duy nhất đưa bà Dottie đi là bằng máy bay lên thẳng”.

Mắt Martin mệt mỏi như mắt người sắp chết: Thế mà tôi vừa mới nói với tổng thống rằng chúng tôi tiếp tục duy trì cầu hàng không bình thường”. Nói xong, Martin quay ra.

Von Marbod vội cầm tay áo, giữ ông lại. “Tại sao ông không cùng tôi ra xem đường băng?” Martin lắc đầu và cố đi ra. Lúc ấy, một tiếng nổ dữ dội làm rung chuyển ngôi nhà. Von Marbod thấy tay đại sứ run lên, hỏi đại sứ: “Thế ông vẫn muốn tổ chức một cầu hàng không bình thường à?”.

Martin nhìn Marbod, môi mấp máy nhưng không nói gì. Ông quay gót đi ra cửa. Sau này Martin nói với bạn: chắc đúng lúc ấy, Martin đã thay đổi ý kiến.

Nhưng Smith không cho là như thế. Sau khi đưa Martin ra xe Chevrolet và cho một đội hộ vệ vũ trang đi theo đại sứ, ông gọi dây nói cho Polgar ở Honolulu. Ở Hoa Thịnh Đốn, cả Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đều theo dõi cuộc nói chuyện của họ. Khi Smith nói xong quan điểm của đại sứ, Gayler hắng giọng và trả lời rằng mọi việc nay tuỳ thuộc vào những máy bay C-130 đang bay về Sài Gòn. Nếu chúng hạ cánh được thì có Cầu hàng không.

Mấy phút sau, một sĩ quan thuỷ quân, đội mũ sắt, mặc áo giáp chạy đến trước Smith báo cáo: Máy bay C-130 không thể hạ cánh được. Đường băng đầy mảnh vụn. Tai hại nữa là quân đội Bắc Việt Nam lại vừa bắn và phá huỷ chỗ đỗ chính.

Smith vội kêu lên: Trời ơi! Cho mọi người ra khỏi chỗ ấy, hành khách, lính thuỷ, mọi người ra tất: Ông vớ lấy micro ra lệnh cho máy bay C-130 đang bay đến, bay chậm lại để chờ.

Ở Hoa Thịnh Đốn, Schlesinger gọi dây nói cho Nhà Trắng: “Vì chúa, đề nghị cho sử dụng máy bay lên thẳng”. Ông hét như vậy với Scowcroft. Lần đầu tiên, người phó của Kissinger có vẻ đồng ý.

10 giờ 25 phút, Smith lại gọi Gayler: đã đến lúc phải dùng máy bay lên thẳng. Đố đốc thở dài thật lớn ở đầu đằng này, ở Sài Gòn, cũng nghe rõ. Ông hứa sẽ chuyển ngay đề nghị ấy cho Lầu Năm Góc.

Smith gọi cho Martin đã trở về sứ quán. Không còn hy vọng gì về cầu hàng không bằng máy bay C-130 nữa. Hay là phương án IV hoặc là không có gì. Đại sứ trả lời: đồng ý, giọng ông khản đặc vì viêm họng. Ông đã nghe Smith: dùng máy bay lên thẳng.

Giữa lúc ấy Kissinger, gọi cho Ford, báo cáo nhất thiết phải sử dụng máy bay lên thẳng. Nhưng Ford chưa đồng ý. Có quá nhiều tin tức, ông không hiểu dựa vào tin nào, để ông hỏi lại Martin đã rồi mới quyết định.

22 giờ 43 phút, Kissinger gọi cho Martin theo một đường dây riêng. Ông nói rõ quan điểm của ông và chờ ý kiến của đại sứ. Suy nghĩ một lúc, Martin nói đơn giản: “Dùng phương án IV thôi”. Kissinger lẩm bẩm: Ông đồng ý và một giờ nữa sẽ cho máy bay lên thẳng tới.

Được Martin tán thành, Kissinger báo cáo lại với Ford. Tổng thống ra lệnh cho Schlesinger huy động ngay máy bay lên thẳng. 22 giờ 51 phút, giờ Hoa Thịnh Đốn, lệnh tiến hành chiến dịch “Gió lớn” được ban ra, đó là tên một cuộc di tản bằng máy bay lên thẳng ở Sài Gòn trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975.

Ở Sài Gòn, lúc ấy, đài phát thanh Mỹ cho phát một bản nhạc cũ: Tôi mơ một đêm Noel trắng. Trước khi đi sân bay Tân Sơn Nhất, nhân viên đài mở liên tiếp điệu hành quân của Sousa.

Martin ra lệnh đốt hai triệu đô la. Sau đó ông hối hận. Ông có thể cần dùng đến số tiền ấy nếu có thỏa hiệp với Bắc Việt Nam. Trong những người di tản đầu tiên được tướng Smith gửi đến hạm đội của đô đốc Whitmire có vợ ông và hai sĩ quan cao cấp hải quân, các đô đốc Hugh Penton và Owen Oberg được bổ sang phái bộ quân sự từ đầu tháng 4. Sự khôn ngoan sơ đẳng nhất là cho bà Smith đi ngay. Còn hai vị sĩ quan kia thì đô đốc Gayley đã giải thích cho Smith rõ: không một sĩ quan cao cấp nào được ở lại Sài gòn trong trường hợp tình hình trở nên thất vọng.

Erich Von Marbod cũng có mặt trong nhóm người di tản ấy, theo đề nghị của ông. Từ sáng sớm, ông đã sốt ruột ngỏ ý muốn ra hạm đội để tổ chức cuộc di tản của những người còn lại của không quân Nam Việt Nam.

Máy bay lên thẳng vừa hạ xuống cầu tàu USS Bluebridge, tàu chỉ huy của đô đốc Whitmire thì Von Marbod đã vội chạy tới phòng thông tin để nói chuyện với Schlesinger ở Hoa Thịnh Đốn. Ông nói vừa rời Sài Gòn bằng chiếc máy bay lên thẳng di tản đầu tiên. Ông xin phép được sử dụng một tàu sân bay của đô đốc Whitmire để tổ chức việc cứu người tị nạn, việc mà Schlesinger giao cho ông làm tuần trước. Bộ trưởng quốc phòng đồng ý và giao cho Marbod tàu sân bay USS Dubuque. Đô đốc Whitmire rất bất bình vì thấy một người thường lại nắm quyền chỉ huy một tàu của hải quân. Nhưng ông không phản đối được vì đã có lệnh của Schlesinger.

Von Marbod cảm ơn Whitmire về sự hiểu biết của ông và lấy máy bay lên thẳng đi đến tàu USS Dubuque. Rồi tàu này chạy tới đảo An Thới, quần đảo Phú Quốc, ở ngoài khơi đồng bằng. Von Marbod định đặt ở đây một hệ thống thông tin để hướng dẫn máy bay Việt Nam bay đi Thái Lan.

Người giúp việc Marbod là Rich Armitage đã bay đến một tàu khác của Whitmire và cho tàu này chạy về đảo Côn Sơn. Anh đã hẹn các đơn vị hải quân Nam Việt Nam rời Sài Gòn chạy ra đó.

Khoảng mười giờ, đoàn xe ô tô buýt của Moorefield mới trở lại phái bộ quân sự chở chuyến đầu tiên người tị nạn. Anh thuật lại: “Khi chúng tôi đi ngang qua phía bưu điện thì đạn rốc kết bắt đầu nổ trên đầu như pháo nổ trong dịp Quốc khánh 4 tháng 7. Chắc chắn, quân đội Bắc Việt Nam có người đứng gác để báo tin có đoàn xe đi qua. Đạn nổ, người ngồi trên xe cuống cuồng, kêu la sợ hãi, ẩn núp dưới ghế hoặc tìm cách nhảy ra khỏi xe. Cùng với một người Mỹ nữa, tôi vội vàng mở cửa xe cho họ chạy trốn vào trong nhà bưu điện. Nhiều người không đi được nữa, nhất là trẻ em và phụ nữ có tuổi. Chúng tôi phải bế họ, chân thì đẩy hành lý. Lại còn bọn khốn kiếp phóng viên nhiếp ảnh nữa: Họ mắc kẹt vì máy móc, đèn. Tôi thét lên: Vứt đấy! Trời ơi, vứt đấy! Nhưng không có người nào bỏ đồ nghề của họ để giúp chúng tôi một tay.

Khi mọi người đã ở trong nhà bưu điện, tôi nhìn ra mới biết người lái xe đã bỏ đi. Lại phải tìm người khác. Tôi hứa sẽ giúp gia đình anh này di tản, anh mới nhận lái nhưng sau này, anh đi đâu mất, tôi không thực hiện được lời hứa.

Khi Joe Kingsley vừa đi vào phòng chân khập khiễng thì đã 10 giờ. Anh trông như một người vừa bị một máy bay phản lực F5 bay sát đầu: sơ mi rách hết, bám đầy mỡ, mặt đỏ gay. Anh để lựu đạn và súng tiểu liên xuống bàn, như muốn trút mọi gánh nặng trên đời. Ba giờ qua, anh vừa giúp những người Mỹ và người Việt Nam ở trong ngôi nhà, đi đến sứ quán. Anh nói: “có thể còn có người trong ngôi nhà, mỗi lần tôi đưa được một người ra thì lại có một kẻ khác lẻn vào. Người Việt Nam cho rằng một boing 747 sẽ đỗ trên mái nhà để đưa họ đi! Tôi giải thích, nhưng…”

Tiếng gọi liên lạc cắt lời anh: “Đây, Pittman đây”. Joe vội nói: “để tôi”, rồi anh đi ra. Pittman định giao cho anh một nhiệm vụ mới, cũng khó như nhiệm vụ trước, Pittman nói: “Xuống tìm Jacobson. Cố dẫn một ít người Việt Nam ra sà lan đang đậu ở Tân Cảng”.

Joe kêu lên: “Cầu Tân Cảng, trời ơi, cầu ấy đã bị chiếm từ hôm qua rồi. Việt cộng ở đấy. Không thể đưa người đến đó được”.

Nhưng Pittman không nghe và Joe, là một người lính tốt phải tuân lệnh. Anh đến phòng làm việc Jacobson, ở lầu ba, để nhận lệnh. Jacobson cũng sợ. Ngay cả đường phía bên này cũng không còn đi được. Carmody, tùy viên hải quân đã ra lệnh cho mấy tàu lúc trước đỗ ở đây, cho đi Khánh Hội, ở giữa thành phố, nơi Mel Chatman và Bob Lanigan đã neo mấy tàu của họ.

Trong khi Joe tìm cách dàn xếp ý kiến của một số người ở lầu sáu sứ quán, tôi tiếp tục suy nghĩ một cách chẳng lợi ích gì. Đã mấy giờ liền, tôi tìm hiểu ý nghĩa của những tin mới nhận được. Thường mỗi khi có điện hoặc tin vô tuyến, tôi đọc rất nhanh, nhớ kỹ những điều hiểu được rồi vứt vào thùng “để đốt”. Tin mới đều khẳng định kết luận tôi rút ra từ mấy tuần nay: cộng sản định chiếm thành phố trong thời hạn ngắn nhất.

Tôi cũng đã bắt đầu huỷ những bản đồ ghi tình hình những hồ sơ mật. Mặc dù tôi được tham gia vào nhóm xung kích của CIA, tôi cũng không muốn chút nào đứng trước quân đội Bắc Việt Nam với một ngăn kéo đầy tin tức có giá trị. Phần lớn những bản đồ của tôi đều bồi bìa dày, chỉ có một cách phá huỷ tiện lợi là lấy lưỡi lê đâm nát ra. Tin tức ghi trong hai năm qua, biết bao nhiêu công phu. Thế mà đến trưa, phòng làm việc của tôi đã đầy những đống bìa như là đổ rác.

Mọi bộ phận trong sứ quán đều làm thế, phá huỷ hồ sơ. Một cô thư ký ném một máy chữ giá năm trăm đôla vào gầm cầu thang. Phía sau nhà, người ta đốt liên tục giấy tờ hai lò lửa kêu át cả tiếng đạn nổ ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Bên ngoài ven tường sứ quán, lính thuỷ gác, đi bách bộ. Biết bao nhiêu cánh tay bám vào cửa ra vào. Hàng trăm người Việt Nam trong đó có nhiều người giơ những mảnh giấy trắng lên vẫy, chắc là giấy thông hành – van nài xin vào sứ quán. Bên trong, nhiều đồng bào họ, may mắn hơn – phần lớn là bồi bếp – đến sứ quán từ sáng sớm với ông chủ làm việc ở đấy, đang đợi xe ô tô buýt đi Tân Sơn Nhất. Ngoài sân chơi, gần một nghìn người Việt Nam đứng hết sức lộn xộn. Một số người đã lặng lẽ nậy cửa gian hàng tạp phẩm. Nhiều đồng nghiệp tôi thuộc chi nhánh CIA đến, lấy lại, đem về phòng Polgar rượu, phomát.

Trước 11 giờ, tôi đi thang máy xuống dưới nhà. Chật ních gia đình người Mỹ và người Việt Nam. Như trên cầu tàu hạng ba của một con tàu chở người hạng nhì. Có những người quay phim vô tuyến truyền hình, sắc trên lưng, đi đi lại lại; viên chức CIA cố tránh để khỏi bị họ quay. Hai phóng viên báo New York ngồi trên một hòm lớn đặt trong góc nhà trông thấy tôi và gọi nhưng tôi quay lưng đi, tảng lờ như không nghe thấy. Họ làm tôi nhớ tới những con chó rừng khi chúng ngửi thấy mùi thịt thối. Tôi không còn muốn làm vừa lòng sự tò mò của nhà báo nữa. Còn thủ trưởng kiên cường của tôi, ông Polgar, bắt đầu tỏ ra mệt mỏi. Không phải vì sợ, vì căng thẳng mà ông không còn giữ được vẻ bình thường, mà là vì ông quá tin vào luận điểm hoà bình thương lượng ông luôn giữ trong mấy tuần qua, nay rõ ràng đã thất bại:

Polgar là một trong những ủy viên hiếm có của đoàn ngoại giao đã được Việt Nam hoá trong nhiệm kỳ của tôi. Ông có quan hệ với người Việt Nam thuộc đủ loại, thân thiết riêng với nhiều người mà nghề nghiệp ông đòi hỏi. Trong lúc buổi sáng sắp qua, trật tự cũ đã đảo lộn chung quanh ông, Polgar thấy lòng mình bị dày vò, xé nát vì sự gắn bó, cảm tình đã mất cũng như về kỷ niệm một lỗi lầm. Từng giờ một, tôi thấy ông sút hẳn. Con người nhỏ bé cứng rắn mà tôi quen biết nay trở thành một người không thể nhận ra được. Tôi rất xúc động, muốn giúp đỡ ông nhưng tôi biết làm việc đó không ích lợi gì. Sau này, Polgar bảo tôi, lúc ấy, ông rơi vào một cơn mê kinh khủng.

Mọi ý nghĩ của ông đều tập trung vào khoảng ba chục người bạn quen biết cũ, ông định giúp ra đi. Họ họp thành một nhóm người Việt Nam kỳ lạ và rất khác nhau: nhà chính trị, cảnh sát, nhất là bộ trưởng nội vụ mà ông rất kính trọng.

Đêm trước, Ông đã gọi cho họ bảo đến tập trung ở nhà ông vào 11 giờ hôm nay. Giờ hẹn sắp đến, Polgar định đi đón thì thấy mình đang bị nhốt trong sứ quán.

Khi người lái xe đánh xe đến cổng sau sứ quán thì cửa đã hạ xuồng. Mọi việc xảy ra rất nhanh. Ngoài đường, kẻ nào vừa ném một quả lựu đạn. Không chù chừ, lính gác khoá luôn cửa lại và cấm mọi xe ra vào. Khi Polgar hiểu rõ sự tình đến xin phép người cai đi ra, thì anh này từ chối và nói: “Tôi đếch cần biết anh là ai!” Polgar trở thành tù binh trong sứ quán đúng lúc bạn bè Việt Nam chờ ông ở nhà, cách đó khoảng mười ngôi nhà. Polgar đứng bên hàng rào, bất lực; ông đang nhìn biển người trước mặt, chợt một tiếng quen thuộc gọi ông, gọi to và giật giọng. Đó là nguyên cố vấn an ninh của Thiệu, tướng Đặng Văn Quang vừa đến và len tới sát hàng rào. Ông ta mặc một chiếc áo đi mưa dài, đeo kính đen, xách hai cặp rất nặng. Polgar nói dõng dạc với người cai: “Cho người này vào”. Nhưng cũng phải tranh luận, người cai mới đồng ý hé cửa để Quang lách cái thân già và béo phệ của ông ta vào!

Những giờ sau, Quang đi đi lại lại trong phòng làm việc của Polgar trên lầu sáu. Ông mặc bộ quần áo màu xanh nước biển, đeo nhiều nhẫn kim cương. Quang gọi dây nói khá lâu vì trong lúc sợ hãi và vội vàng vào sứ quán, ông đã quên con cháu đang đứng bên ngoài. Quang cố cầu cứu mấy người bạn khác. Phần lớn chúng tôi ghét Quang. Thấy ông ta ngồi trong phòng, chúng tôi ra ngay. CIA đã trả ông ta nhiều tiền và đề cao ông ta nhiều năm. CIA cũng đưa ông ta lên ngồi bên cạnh Thiệu nhưng ông ta đã phản bội chúng tôi, không cho chúng tôi biết chiến lược của Thiệu rút khỏi Tây Nguyên, đưa quân về cố thủ. Trong những giờ cuối cùng ở Sài Gòn này, mặc xác ông ta xoay xở. Buổi chiều, khi máy bay lên thẳng chở Quang đi, không có con ông ta, không người nào không nói: “đáng kiếp!”

Khi Polgar đi từ sân lên phòng làm việc, ông có vẻ già thêm mười tuổi. Vừa đi bách bộ, ông vừa nói: Làm gì bây giờ? Tôi hứa với những người Việt Nam ấy, đón họ ở nhà tôi. Tôi không thể để họ ở đấy. Pitttman cầm tay ông, đề nghị cho máy bay lên thẳng đến đón họ. Tôi trả lời: “Không được. Các cơ quan an ninh đều nói súng nổ bốn bề chung quanh ngôi nhà Polgar. Không một máy bay lên thẳng, một xe ô tô buýt nào đến được đây vào lúc này”.

Tôi chợt nhớ tới ngôi nhà số 6 Quảng trường Chiến sĩ, nhà tôi ở, cách không xa biệt thự của Polgar. Tôi đề nghị cho máy bay lên thẳng đến đấy. Giải pháp đúng. Polgar gật đầu kêu lên: “Đúng, đúng. Để tôi gọi Út đưa họ đến. Tốt quá”. Mấy phút sau, người lái xe của Polgar, cao 1,64 mét, lách ra khỏi sứ quán, mang theo một máy vô tuyến điện.

T.D Latz không có vẻ gì là người anh hùng. Nguyên là phi công lái U-2, anh nói giọng người Arkansas, vừa thọt, vừa đui. Râu xám ít được tỉa đâm tua tủa như bàn chải. Đại diện hãng hàng không bên cạnh sứ quán, anh biết rõ hơn ai hết khả năng và hạn chế của máy bay lên thẳng hãng anh có. Anh là người Polgar rất cần lúc này.

Cho Út đi xong, Polgar gọi Latz qua một máy phát thử. Latz đang ở trong một máy bay Huey trên bầu trời Sài Gòn, hướng dẫn cho người lái, bay đến một nóc nhà đón một số người Mỹ sợ hãi. Hai mươi phút sau, máy bay lên thẳng của Latz đỗ xuống mái nhà sứ quán. Latz đi thủng thỉnh vào phòng Polgar. Ông này cầm lấy tay anh: “Này, tôi muốn anh bay đến ngôi nhà số 6, Quảng trường Chiến sĩ, đón 30 người của tôi”. Latz nhìn tôi, vẻ mỏi mệt. Mấy ngày trước chúng tôi cũng nghiên cứu khả năng cho di tản trên nóc nhà tôi. Vì mái nhà hẹp, lại có nhiều kẻ bắn lén nên máy bay đỗ xuống rất khó.

Latz suy nghĩ. Tôi nói: “Nên lấy lính thuỷ đi để bảo vệ. Trong nhà cũng còn một số người Việt Nam, muốn đi”.

Polgar không nghe thấy hay làm như thế không nghe thấy, vỗ vào tay Latz: “Đồng ý chứ?”

Latz trả lời: “Thưa ông Polgar, đồng ý nhưng tôi phải đem theo vũ khí để cho chắn chắn”. Hai mươi phút sau, Latz lại lên máy bay trực thăng và bay đến ngôi nhà ở Quảng trường Chiến sĩ để đón Út và nhóm người Việt Nam.

Ở gần đấy, trong nhà phụ của CIA, Jenry Locksley viên chức thường trực, không ngừng đốt giấy má. Đã hàng giờ, đồng nghiệp anh và anh cho hồ sơ lý lịch nhân viên CIA vào lò lửa. do nhiều nguyên nhân kỳ lạ, người ta để đến phút cuối cùng mới đốt. Lại phải huỷ những tấm phích in tên những người Việt Nam phải di tản ngày E nữa, tính mạng họ dễ bị uy hiếp. Những phích ấy đáng lẽ dùng để thay vào vé đi nhưng đã quên không phân phát chúng. Ném những tấm phích ấy vào lửa, Locksley có cảm giác vứt vào lãng quên tất cả những người đáng được trả công…

Dưới con mắt của giới thân cận. Graham Martin nay giống một xác chết đi. Da xanh, mặt nhăn nheo, ông đứng không vững. Từ ngày Hoa Thịnh Đốn ra lệnh di tản bằng máy bay lên thẳng, ông tỏ ra không còn ý chí đấu tranh nữa. Giới quân sự và đô đốc Gayler nay hoàn toàn nắm mọi công việc. Martin chỉ còn một lo lắng duy nhất: làm thế nào di tản càng được nhiều người Việt Nam càng tốt.

Nhưng phải chờ một, hai giờ nữa máy bay lên thẳng của hải quân mới đến. Từ ngày được bổ nhiệm làm đại sứ ở Sài Gòn đến nay, lần đầu tiên, ông thấy rỗi việc. Ông quyết định lợi dụng lúc này để làm việc riêng. Ông muốn quay về nhà tìm vợ.

Những người bảo vệ, lính thuỷ mặc thường phục, ngăn ông lại. Họ đi đón bà Martin thôi, còn đại sứ không được coi thường tính mạng, đi ra ngoài đường lúc lộn xộn ấy. Martin phản đối: “Tôi là đại sứ, không muốn bị nhốt”.

Nhưng xe không đi được. Ngoài đường, người Việt Nam trở nên điên loạn. Martin nói: “không sao, tôi đi bộ”. Ông ra hiệu cho ba người bảo vệ to, khoẻ rồi tiến tới cầu thang máy. Họ đi bộ về nhà đại sứ. Người đầy tớ ông, Chinh đón ông ở cổng. Bà Martin, một phụ nữ nhỏ nhắn, dũng cảm, đã chuẩn bị hành lý và sẵn sàng. Martin bảo Chinh chuẩn bị cho ông một sắc đi đêm.

Rồi ông đi chậm rãi quanh nhà, nhìn lại lần cuối cùng các phòng, các cửa…Ngôi biệt thự này trước đây đã là chỗ ở của ba đại sứ. Nó có ma! Người ta đã định cúng ma. Nhưng lúc này có những ma thật đang ở chung quanh Martin. Tấm ảnh của tổng thống chụp cùng gia đình, tặng ông, vẫn để trên đàn dương cầm. Mọi cái ông mua sắm thu nhặt được trong 40 năm hành nghề, vẫn còn ở chỗ cũ.

Trong lúc đi quanh nhà, martin chợt chú ý đến một vật mà ông đặc biệt thích: đó là hình mẫu một ngôi chùa Trung quốc. Ông lấy bỏ vào túi rồi đưa tay cho vợ, đi ra đường. Lính bảo vệ siết chặt hàng ngũ xung quanh họ. Còn bồi Chinh đi sau, đeo sắc đêm. Năm phút sau, họ trở về sứ quán.

Trước khi lên phòng làm việc, Martin đi qua cửa ngách sang sứ quán Pháp. Ông muốn thăm Merillon nhưng đại sứ Pháp không có đấy, đại sứ ở phòng riêng, không muốn dính vào các chuyện. Mérillon giải thích với cộng tác viên: “sự vắng mặt của ông ở sứ quán sẽ làm nản lòng những kẻ ăn bám và những nhân vật chính trị đến tìm nơi cư trú, như trường hợp đã xảy ra tại sứ quán Pháp ở Phnôm Pênh, ngày Campuchia sụp đổ”.

Mérillon tiếp Martin trong phòng làm việc riêng. Họ bắt tay nhau, trao đổi ngắn gọn mấy câu xã giao. Martin đi vào mục đích cuộc viếng thăm: cuộc gặp gỡ Mérillon và Minh lớn sáng nay có kết quả không? Chính phủ cách mạng lâm thời có thả bóng hòa bình mới không? Đại sứ Pháp châm lửa cho tẩu thuốc, hít mấy hơi. Khói thuốc lá Angiêri cay xè tỏa khắp phòng. Sau cùng, ông trả lời: không, không có gì phấn khởi đáng nói cả. Minh tiếp tục thăm dò phía bên kia còn Chính phủ Cách mạng lâm thời chưa trả lời. Martin đăm đăm nhìn thẳng một lát rồi hạ thấp giọng, nói với đại sứ Pháp: trường hợp như thế, ông có một gợi ý: để ông trực tiếp gặp Đoàn Đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời, ông Mérillon có thể thu xếp được không?

Đại sứ Pháp đổ thuốc trong tẩu ra, gõ tẩu vào cái gạt tàn thuốc. Ông nói ngập ngừng: sẽ có nhưng chưa dám hứa. Martin nhún vai, cảm ơn và đứng dậy để đi về. Vừa đứng lên, ông vừa rút trong túi ra hình mẫu ngôi chùa Trung Quốc, đặt lên bàn làm việc của Mérillon, cảm ơn đại sứ Pháp về tất cả công việc đại sứ làm vì “sự nghiệp hoà bình” trong những tháng qua!

Khi Martin trở về phòng làm việc trên lầu ba thì vợ ông đang nói chuyện với các cô thư ký về một vấn đề mà bà rất băn khoăn. Bà không muốn chút nào nhìn mặt Graham xanh nhợt như thế. Không muốn hoàn toàn. Rõ ràng ông ấy ốm, yếu. Ông ấy cần có một bữa ăn ngon và bà muốn trở về nhà mấu cho ông món ra-gu bò. Một cộng tác viên của Martin khéo léo an ủi bà. Một giờ sau, bà Martin lên máy bay trực thăng của hãng Hàng không Mỹ, bay đến tàu USS Denver, một con tàu của hạm đội di tản.

Gần 11 giờ, tướng Timmes lại đến dinh tổng thống. Lần nầy ông đem bức thư trả lời của Martin đến cho Minh về việc Minh yêu cầu tất cả sĩ quan quân đội Hoa Kỳ phải rời Sài Gòn trong 24 giờ. Martin rất đồng ý, nếu việc đó có thể củng cố được địa vị Minh trong cuộc mặc cả với cộng sản.

Ở sở chỉ huy của ông ở phía Bắc Sài Gòn, tướng Văn Tiến Dũng mỗi lúc một sốt ruột. Bộ chính trị đã báo cho ông mấy giờ trước, cố vấn Mỹ phải di tản. Thế mà, những người quan sát trực tiếp của ông ở Tân Sơn Nhất vẫn gửi tin về: phái bộ quân sự Mỹ đang tích cực hoạt động!

Cảnh giác và khôn ngoan, tướng Dũng quyết định không để mắc lừa. Ông truyền những lệnh cụ thể cho pháo binh trên mặt trận phía Đông: Nếu đến sẫm tối, người Mỹ không đi hết thì bắt họ phải trả giá đắt về sự bịp bợm ấy! Một nhân viên tình báo cho chúng tôi biết, đúng 18 giờ, giờ Sài Gòn, quân Bắc Việt Nam sẽ nã khoảng 20.000 phát đạn đại bác 130 ly vào dinh tổng thống, giữa Sài Gòn. 20.000 trái đạn 130 ly, điều đó nghĩa là không những dinh tổng thống tan ra như tro bụi mà cả sứ quán Mỹ, sứ quán Pháp ở gần đấy nữa. Tôi phải đọc lại ba lần bản tin. Đến 18 giờ, tôi chạy đến phòng Polgar, vượt trước những cô thư ký, đưa cho ông bản tin. Ông đọc một lát, mắt mở to sau cặp kính dày, trả lại tôi bản tin và nói, giọng khàn khàn: Đưa ngay cho đại sứ, đưa ngay! Tôi nhảy xuống lầu ba. Martin đang ở trong phòng Eva Kim. Tôi nén thở trong khi ông đọc bản tin. Nét mặt không thay đổi, nhún vai, ông trả tôi mảnh giấy, không nói một lời. Trở về lầu sáu, tôi mệt muốn đứt hơi. Tôi thuật lại cho Polgar biết. Ông bảo tôi đi tìm Timmes để ông ấy báo cho Minh lớn. Chính Minh lớn mới đề nghị được với cộng sản hoãn việc bắn phá. Mấy phút sau, Timmes đến, trao đổi rất nhanh với Polgar rồi nhắc dây nói. Ông quay số. Giữa lúc ấy, Kissinger khẩn cấp gọi Martin: không còn phương án nào nữa. Tất cả người Mỹ, kể cả nhóm xung kích 150 người và cả bản thân Martin, phải rời Sài Gòn trước khi trời tối. Rõ ràng, những tin tức mới nhận được ở Hoa Thịnh Đốn khẳng định với họ rằng người Mỹ không thể nào còn có mặt ở Sài Gòn được nữa.

Đến trưa, đại tá John Madison và bốn ủy viên trong đoàn đại biểu Mỹ trong ủy ban quân sự hỗn hợp vào sân sứ quán, chen qua đám đông. Đại úy Stuart Herrington, một sĩ quan chuyên nghiẹp biết nhiều thứ tiếng và có kinh nghiệm chién đấu, bực mình về những hành vi anh trông thấy: người ta công khai ăn cắp rượu của căng tin và vui vẻ uống Pinet Chardomaay ngoài hành lang!

Ngoài sân sứ quán, lính thủy đẩy những chiếc xe cuối cùng của bộ ngoại giao qua đám đông vây ở cổng. Những người lính gác khác hạ cây me theo lệnh của Garnett, người phụ trách an ninh của sứ quán, để lấy chỗ cho máy bay lên thẳng đỗ.

Sắp hết buổi sáng. Tôi cùng Pittman từ lầu ba đi xuống xem việc di tản đến đâu. Trong phòng Jacobson những bức ảnh chụp anh đứng với nhiều nhân vật Việt Nam quen biết vẫn còn treo trên tường. Jacobson vẫn mặc như thường ngày, một sơ mi kẻ sọc xanh, nói dấm dẳn điện thoại với mấy kiểm soát viên máy bay của phái bộ quân sự. Khi Jacobson ngừng nói, Pittman hỏi: theo ý anh, cuộc di tản mất bao lâu? Jacobson lắc đầu: Tôi không biết. Anh đi hỏi Lehmann. Chắc anh ta biết?

Lehmann bình tĩnh lạ kỳ trong bộ quần áo vải xanh xám, cũng không biết gì hơn. Anh bảo chúng tôi: sao không lên lầu bốn mà hỏi những người phụ trách việc di tản?

Tôi trả lời: “Thưa ông Lehmann, không còn trung tâm di tản trên lầu bốn nữa. Bộ phận nào lo di tản cho bộ phận ấy”.

Pittman ngắt lời: “Nghe đây, chúng ta phải hỏi xem còn bao nhiêu thì giờ nữa. Ít nhất phải mất ba tiếng để phá hủy các máy móc điện đài. Và nếu cuộc di tản diễn ra thì ta phải đi ngay”.

Lehmann phản đối lại: “Tôi khong biết gì nữa. Có thể còn một nghìn, hai nghìn có thể là mười nghìn người Mỹ cần di tản nữa. Các anh hãy đi làm việc của các anh”, rồi Lehmann xua chúng tôi ra khỏi phòng.

Tại Nhà Trắng ở Hoa Thịnh Đốn, lúc ấy đã gần nửa đêm. Tổng thốnh Ford, mệt mỏi và căng thẳng sau một ngày lo nghĩ dài, đã lên giường nằm. Ông sắp uống như thường lệ, một ly ba-bơ nóng đặt trên bàn.

Dưới nhà, Kissinger tiếp tục đọc tin mặt trận. Theo báo cáo mới nhất của chỗ tướng Smith thì quân đội Sài Gòn đã sụp đổ và bộ chỉ huy không còn.

Thực tế, trụ sở bộ tổng tham mưu liên quân, ở gần Tân Sơn Nhất, gần như bỏ trống hoàn toàn. Tướng Kỳ một mình, di tìm tướng Khuyên, nguyên tham mưu trưởng. Sáng nay, Kỳ đã cho vợ con đi khỏi Sài Gòn, và ông muốn lấy một máy bay đi ném bom lần cuối cùng quân thù (sau này Kỳ mới nói lại như thế). Khuyên biến mất. Ở bộ tham mưu không quân người ta trả lời Kỳ, mọi người đã đến phái bộ quân sự. Lúc ấy, tướng Ngô Quang Trưởng, cựu tư lệnh Quân khu I, nay là một con người suy sụp và cay đắng, đang ở phòng tác chiến. Ông thở dài: “Tôi chẳng còn biết làm gì nữa”. Kỳ cúi đầu, đặt tay lên vai Trưởng: “Đến chỗ tôi”. Họ ra khỏi ngôi nhà, lên máy bay trực thăng riêng của Kỳ, bay tới tàu USS Mldway, trên biển Đông.

Ở phái bộ quân sự, một chỉ huy cao cấp của quân đội Nam Việt Nam đến thăm tướng Smith lần cuối cùng. Đứng trước người Mỹ, ông ta ăn mặc rất chỉnh tề, ngực đeo đầy huân chương. Đó là tướng Phạm Văn Phú, người đầu hàng không chiến đấu ở Tây Nguyên, viên tướng bỏ mặc quân lính tan rã. Ông ta chào trịnh trọng, thong thả tướng Smith, dậm gót chân rồi quay ra. Ông ta đề nghị Smith giúp một phần gia đình ông ta di tản, nhưng không nói gì đến ông ta. Một lát sau, Phú bắn vào đầu tự tử.

Ở Dinh Độc Lập, tổng thống Minh buồn rầu nhìn người chiến sĩ già, Đô đốc Diệp Quang Thủy, tham mưu trưởng hải quân, bắt tay ông ta lần cuối cùng, Thủy đến đề nghị Minh rời thành phố xuống tàu đi cùng với nhiều người khác ở cảng. Nhưng Minh từ chối, ra lệnh cho Thủy cố cứu lấy mình và những sĩ quan chỉ huy khác của hải quân. Thủy cúi đầu, sửa lại áo, chào vị tổng tư lệnh.

nhandanvietnam.org

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: