Cuộc tháo chạy tán loạn – Phần 28

Buổi chiều

oOo

Đô đốc Donald Whitmire như một trái núi. To khoẻ, bụng phệ dưới quân hàm của hải quân và khoá thắt lưng, ông giống một hậu vệ bóng đá về già hơn là tư lệnh một đơn vị trên biển sẵn sàng can thiệp trước một cuộc chiến tranh. Mặc dù bề ngoài như thế nhưng ông đã tận tuỵ hoàn thành nhiệm vụ hết mức xuất sắc và khéo léo, nâng cao uy tín của quân chủng. Ông đã cứu nhiều người Việt Nam được Mỹ cho di tản trên biển, tập hợp máy bay, tàu bè, giữ vững kỷ luật trong những tình huống rất khó khăn. Đối với cấp dưới trong lực lượng can thiệp 76, ông nêu gương là một con gấu biển tài ba.

Tuy nhiên, sáng 29 tháng 4, ông đã thất bại! Mấy giờ trước ông tưởng chiến dịch “gió lớn” chưa bắt đầu vì nó chỉ được thực hiện khi những hoạt động chính trị không ăn thua gì. Do đó, lúc 10 giờ 51 phút, khi tổng thống bật đèn xanh cho việc mở cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng, Whitmire và đơn vị ông chưa sẵn sàng. Không thể nào cho máy bay đi nếu không kiểm tra cẩn thận từng chiếc một, mà đơn vị ông có tới 81 chiếc: Lại còn phải lấy thêm lính thuỷ về xin máy bay tiêm kích ở Thái lan.

Biết rõ lúc nào chiến dịch bắt đầu cũng là điều quan trọng. Thế mà việc thông tin liên lạc giữa Hoa Thịnh Đốn và lực lượng can thiệp khá rối ren. Kissinger nói vớ Martin: cuộc di tản bắt đầu lúc 11 giờ 51 phút, một giờ sau lệnh của tổng thống, nhưng đó là giờ Hoa Thịnh Đốn, Greenwich hay giờ Sài Gòn? Không ai trong hạm đội biết rõ. Hậu quả: đến trưa, không một máy bay lên thẳng quân sự nào bay đi Sài Gòn.

Martin gọi trực tiếp cho Gayler đề nghị giải thích. Mười lắm phút sau, lính thuỷ của lực lượng can thiệp được lệnh bay. Đến 12 giờ 30 phút, một phi đoàn gồm 36 máy bay lên thẳng đầu tiên rời cầu tàu USS Hancoch, có nhiều máy bay Cobra vũ trang hộ vệ. Một phút sau, những máy bay tiêm kích phản lực Phantom, từ các căn cứ ở Thái Lan bay tới bầu trời Việt Nam yểm hộ thêm.

Một giờ rưỡi trôi qua kể từ lúc tổng thống bật đèn xanh cho chiến dịch “Gió lớn”. Thời hạn không dài như thế nếu không có những rắc rối khác. Sợ phản ứng của cộng sản nên Lầu Năm Góc ra lệnh cho tàu bè đậu cách bờ biển hơn 12 hải lý, bên trong là hải quân Nam Việt Nam. Như thế bay tới Sài Gòn phải lâu thêm 40 phút. Đến phút chót, Whitmire còn xin thêm một thời hạn để hoàn thành việc chuẩn bị. Đoàn máy bay lên thẳng đầu tiên bay đi ông còn ra lệnh hoãn đến 14 giờ mới cho người xuống!

Ở sứ quán Sài Gòn, phần lớn chúng tôi không biết chiến dịch “Gió lớn” đã bắt đầu và gặp một số khó khăn. Martin và cộng tác viên chính của ông quá lo việc đưa người tị nạn về nơi tập kết thêm quên không phổ biến cho chúng tôi.

Còn riêng tôi, tôi vẫn phải theo dõi những tin tức gửi đến và nhận được qua vô tuyến điện. Tôi tập trung tư tưởng để đọc, hy vọng khám phá được lệnh tạm ngừng bắn đại bác của cộng sản. Nhưng tôi đã phí thì giờ. Điện gửi tới chỉ nói về sự tan vỡ dần dần của phòng tuyến bên ngoài thành phố.

Quá trưa, một nguồn tin chắc chắn công nhận hai sư đoàn Bắc Việt Nam đã chiếm tỉnh Tây Ninh, bao vây và tóm gọn sở chỉ huy sư đoàn 25 Nam Việt Nam ở Củ Chi. Trên các mặt trận khác, quân chính phủ rút lui như đàn cua trước nước lên. Chỉ có ở phía Tây Nam, một vài đơn vị tiếp tục kháng cự một cách yếu ớt. Hai trung đoàn thuộc sư đoàn 22, hồi trước bị tan rã ở Quân khu II, nay được tập hợp, bổ sung và tổ chức lại, đang ở phía Nam ngoại vi Sài Gòn.

Tướng Timmes đang nặn óc tìm ý nghĩa một bài diễn văn do đài phát thanh Sài gòn vừa phát. Đó là lời kêu gọi của thủ tướng mới Vũ Văn Mẫu đòi tất cả người Mỹ rời Sài Gòn ngay lập tức. Cách đây chưa được một giờ, tổng thống Minh chỉ nói với Timmes về việc phái bộ Mỹ ra đi, nay thì rõ ràng ông muốn tống cổ tất cả chúng tôi đi để vừa lòng cộng sản.

Timmes vội chạy tới buồng Polgar, báo cho ông biết sự thay đổi ấy, nhưng không ở lại được quá hai phút vì trùm CIA Sài Gòn đang lo công việc riêng.

12 giờ 30 phút, người lái xe nhỏ bé, cam đảm của Polgar cho ông biết rằng vô tuyến điện, anh đã tới ngôi nhà số 6 Quãng Trường Chiến Sĩ. Có một máy bay lên thẳng trên mái nhà, anh nhìn thấy rõ. Nhưng không vào dược nhà vì cổng sắt khoá kỹ, có tới ba trăm người đang chờ. Nếu mở khoá, họ sẽ tràn vào.

Polgar nhìn đài vô tuyến điện, chớp mắt như cố nín khóc. Ông trở về phòng làm việc, lấy một chai cô nhắc, tu một hơi. Nhiều sĩ quan ngồi ở phòng ngoài bắt chước ông, người uống Scotch, người uống cô nhắc, hai thứ rượu thường chỉ uống vào lúc vui. Ở bộ phận phân loại người tị nạn, chỉ còn Don Hays, hai người Úc và một đại tá không quân làm việc.

Giữa trưa, trời nắng chang chang. Không một bóng cây. Không gian óng ánh. Hays móc túi lấy khăn trùm lên đầu. Người Việt Nam đứng chung quanh mồ hôi nhễ nhại đòi uống nước. Bể đã cạn. Bọn lưu manh phá hàng rào vào ăn cắp mọi thứ còn lại. Mờ mịt chẳng thấy máy bay lên thẳng đâu!

Chợt ở phía nhà phụ, tiếng súng M-16 nổ. Hays nhào người ra phía sau một thùng sắt. Người Việt Nam, sợ hãi chạy nhốn nháo chung quanh. Họ kêu át cả tiếng súng. Hays chợt liếc mắt trông thấy hai sĩ qian không quân Mỹ, cầm súng chạy lên gác. Đúng lúc họ chĩa súng lên mái nhà thì nhiều phát đạn trượt qua khuỷu tay Hays. Anh chúi mặt vào cánh tay. Khi anh ngẩng lên thì một lính Nam Việt Nam, kẻ bắn lén, rơi từ mái nhà xuống, bị thương nặng. Khẩu M-16 của anh rơi liền theo.

Hays vớ lấy một loa, loạng choạng, đứng dậy. Anh hô hào bằng tiếng Việt Nam: “Bình tĩnh! Bà con hãy bình tĩnh! Không việc gì. Người Mỹ không bỏ bà con, tôi không bỏ bà con!”.

Ở đằng kia thành phố, một đồng nghiệp tôi, “Harvey Mitchell” gặp khó khăn, một giờ trưa, anh ngậm thuốc lá, đi ra, đi và khách sạn Duc chờ đoàn xe ô tô buýt hoặc một xe của sứ quán. Lần thứ sau, thứ bảy gì đó, anh không gặp may. Anh vừa đặt chân lên hè thì ở bên kia đường Pasteur, lực lượng an ninh chính phủ bắn hàng tràng đạn M-16. Anh chạy vội tới cổng, ra lệnh cho lính Nùng đóng kín cổng lại.

Từ sáng đến giờ, khách sạn Duc nóng lòng sốt ruột. Sáng sớm, mọi người đã đến sứ quán trừ 13 nhân viên CIA làm việc ở đấy. Nhưng mấy giờ qua, người Việt Nam tràn vào khách sạn. Phần lớn là chiêu đãi viên, bồi bếp, nhân viên văn phòng làm việc ở khách sạn từ lâu. Mitchell, bực mình, đã cho đóng cửa khách sạn từ nửa buổi để hạn chế dòng người vào. Nhưng thỉnh thoảng anh hoặc đồng nghiệp lại mủi lòng, ra mở cửa cho mấy người bạn hay người quen biết, hoặc đồng nghiệp. Cho nên, đến nay đã có hơn một trăm người ở rải rác khắp sáu tầng lầu khách sạn, thế mà ô tô buýt của sứ quán hoặc phái bộ quân sự không hề đến.

Có một hai máy bay Hney của không quân Mỹ đã đỗ xuống sân gần bể bơi trên nóc khách sạn nhưng không một người Việt Nam nào được đi. Sân thượng đằng trước chỉ để cho máy bay nhỏ đỗ nên Mitchell dành chuyến ấy cho người Mỹ đang ở trong khách sạn, trong đó có anh. Còn những người Việt Nam đi di tản bằng xe ô tô buýt!

Robert Kantor, nhân viên hành chính của Polgar vừa vào phòng thông tin thì Mitchell gọi về. Lúc đó là 13 giờ 30 phút. Mitchell lại xin xe, Kantor, người miền Nam nước Mỹ bình tĩnh, tóc hung, cuộn làn sóng, hứa sẽ cho một đoàn xe tới.

Polgar vào, hỏi, giọng mệt mỏi: “Anh có được tin Út không?”.

Kantor trả lời: không, rồi anh trình bày tình hình ở khách sạn Duc. Polgar lơ đãng nghe, vội vàng hỏi vài câu bâng quơ, nhún vai, rồi đi ra.

Polgar đi tới giữa sân, một người phụ trách hậu cần túm tay áo ông hỏi: “Tôi có hai trăm rưỡi người Việt Nam giúp việc. Họ ở cả trong ngôi nhà của cơ quan. Làm thế nào để đón được họ?” Polgar tiếp tục đi, phủi tay, thét lên: “Không biết, tôi không có thì giờ lo việc ấy!” (tr.341). Cũng như bao nhiêu người khác, hai trăm người Việt Nam này cũng bị bỏ rơi.

Trên mái nhà số 6, Quảng Trường Chiến Sĩ, T.D. Latz lại xem giờ. Cùng với viên phi công, anh đợi Út và ba mươi người Việt Nam quên thân của Polgar. Nửa giờ sau. Latz sốt ruột. Một phút trên mái nhà này là một phút mất toi, với thì giờ mất đi, cứu được bao nhiêu người Mỹ và Việt Nam!

Kantor giơ tay lên, vẻ thất vọng: “Nếu xảy ra cháy, anh đích thị là thủ phạm, nhưng anh phải đốt những bức điện mật đi”. Người này cùng với 12 đồng nghiệp mất hai giờ sau đó, thu dọn những mảnh giấy vụn, cho vào bao, đưa xuống sân, xếp dọc căng tin của người Việt Nam. Họ quên không đốt. Mấy giờ sau, máy bay lên thẳng tới. Gió cánh quạt xé rách bao, thổi tung giấy ra ngoài. Khắp sân, đều có chữ mật mã: cả một đoạn tin tối mật của sứ quán gửi đi, còn có thể đọc được. Máy bay cất cánh, những mảnh giấy ấy lại bay lên cây, sa xuống bụi, bám vào tóc phụ nữ Việt Nam giàu có đang đợi di tản.

13 giờ 50 phút, giờ Sài Gòn, đoàn máy bay lên thẳng đầu tiên của lực lượng can thiệp 76 từ Biên Hòa bay đến, định đỗ xuống Tân Sơn Nhất. Còn mười phút nữa thì xuống. Trong chiếc đi đầu, tướng Richard Carey, tư lệnh lực lượng an ninh Hải quân, kiểm tra lại máy móc lần cuối cùng.

Trên hạm đội di tản, đô đốc Whitmire tiếp tục tự hỏi về giờ giấc. Việc chuẩn bị cho đoàn máy bay thứ hai kéo dài. Đoàn trưởng không chắc 40 máy bay đang ở trên cầu tàu có thể bay tới Sài Gòn vào giờ sau không. Lập tức, đô đốc thảo một báo cáo nói rõ: kế hoạch triển khai chiến dịch “Gió lớn” cần có một thời hạn hai giờ để huy động lực lượng an ninh dưới đất, có đủ số máy bay lên thẳng cần thiết và tập hợp máy bay bảo vệ”.

Sau khi cân nhắc những yếu tố ấy, Whitmire mới có quyết định chính thức: chiến dịch được lùi lại: 15 giờ, đoàn máy bay lên thẳng thứ hai sẽ bay. Lùi về việc này, lùi vì cái khác, thì giờ qua đi rất nhanh. Phi công phải mở hết tốc lực. Trời sắp tối, quân Bắc Việt Nam đang sốt ruột. Một cơn giông từ biển tràn vào Sài Gòn.

Mặt trời càng xuống, hoảng loạn càng tăng. Phái bố quân sự không nắm rõ số người di tản. Ở Hoa Thịnh Đốn, Kissinger cáu kính liên tục vì sự chậm chạp. Ở sứ quán, Polgar mỗi lúc một rũ xuống.

Đi bách bộ trong phòng làm việc, ông mấp máy môi tự hỏi: Út và 30 người Việt Nam ở đâu? Hay vẫn là tù binh của đám đông ở ngoài và đang chờ lệnh mới? Pittman châm một điếu thuốc mới: “Có một sân thượng nhỏ trên mái nhà tôi ở đường Gia Long. Máy bay lên thẳng không đỗ xuống được nhưng nó có thể bay tại chỗ trên ấy để Út và bạn bè trèo lên”.

Nét mặt Polgar giãn ra. Ông liền ra lệnh ngay: Tìm Latz. Gọi Út bằng vô tuyến điện, bảo họ đến đường Gia Long. Latz lái ngay máy bay đến nơi hẹn, mái nhà Pittman. Buổi chiều, một nhiếp ảnh đã chụp được bằng ống kính tầm xa một bức ảnh những người Việt Nam trèo thang lên mái nhà để lên máy bay trực thăng. Trong số những người trèo này có cựu bộ trưởng quốc phòng Sài Gòn Trần Văn Đôn: Bức ảnh được hàng nghìn tờ báo trên thế giới in lại, trở thành biểu tượng cho ngày sóng gió ấy.

Ở sứ quán đang khẩn trương chuẩn bị để đón những máy bay lên thẳng đầu tiên. Không phải là không có va chạm giữa những người phụ trách chính.

14 giờ 30 phút, Robert Kantor bắt đầu mất cả điềm tĩnh vì tình hình ở khách sạn Duc. Những phố chung quanh đầy người, không một xe nào có thể chạy trên quãng đường ngắn đến sứ quán, Harvey Mitchell vừa loan báo lính Nam Việt Nam đóng bên kia đường bắn vào người qua lại. Những người Mỹ đứng với anh, bắt đầu sợ hãi. “Phải cho máy bay lên thẳng đến để đưa họ đi”. Kantor vừa nói xong thì Polgar vào hỏi tin tức về Út. Kantor không trả lời, chỉ hỏi lại Polgar cách cứu người ở khách sạn Duc. Polgar nói:

Đưa họ ra vậy.

– Đưa người Mỹ à?

Đúng, chỉ đưa những người Mỹ ra thôi!

Nghe thấy cuộc trao đổi ấy, tôi ớn người. Rõ ràng Polgar vừa ra lệnh bỏ rơi hàng trăm người Việt Nam ở khách sạn Duc.

Lúc những người Mỹ cuối cùng rời khách sạn Duc thì Lacy Wright và Joe Mc Bride được đưa đoàn người thứ năm ra cảng: T.D.Latz đã cho một số người lên máy bay trực thăng đang bay đứng trên mái nhà Pittman; đoàn xe ô tô buýt của Moorefild tiếp tục chạy trong thành phố. Đoàn xe đứng trước một ngôi nhà chung quanh có cây, gần sứ quán, ở đấy Shep Lowman chờ nhân vật cao cấp thứ một nghìn anh gọi sáng nay. Lowman đề nghị Moorefield cho mấy người Việt Nam đi xe, anh nói: “tôi xin xe mấy giờ rồi mà không có, anh giúp họ”. Moorefield lắc đầu: “tôi không chở thâm một ai nữa, quá tải rồi”. Anh mở máy.

Phần lớn những nhà báo Mỹ và nước ngoài đều tập kết ở một nơi giữa thành phố. Robert Shapler đã viết phóng sự về Đông Dương 20 năm nay, nửa khóc, nửa cười. Vội vàng thu xếp hành lý, rời khách sạn Continental, anh đi vội vàng đến mức làm hỏng cả dây khóa quần!

Một số nhà báo nhất định ở lại. Trưởng phòng phóng viên AP làm ra vẻ quyết tâm ra đi để mong đánh lừa người đồng nghiệp UPI, nhờ đó AP có thể độc quyền tin tức. Nhưng mưu mô của AP không ăn thua gì vì UPI không đi được, phải ở lại. Do đó sau này cả phóng viên hai hãng tin này đều được chứng kiến chiến thắng của cộng sản.

Ba giờ sáng, giờ Hoa Thịnh Đốn, Lawreinee Eagleburger, cố vấn đặc biệt của Kissinger báo cho bộ trưởng ngoại giao biết, máy bay lên thẳng bắt đầu đỗ xuống Sài Gòn “Gió lớn” hay phương án IV được thực hiện.

Trong sân trong của phái bộ quân sự, lính thủy Mỹ vũ trang đến tận răng, triển khai theo hình cánh quạt, những kỵ mã biển, những máy bay lên thẳng CH-40 và CH-53, lần lượt đổ xuống. Máy bay đậu ở ba nơi: sân ném bóng, sân quần vợt và sân trước nhà phụ. Dòng người di tản nhanh chóng xếp hàng dọc mỗi sân.

Don Hays muốn vỗ tay khi máy bay đỗ xuống sân nhà phụ. Đối với anh và ba nghìn người Việt Nam, lính thủy Mỹ đến đúng lúc vì bọn lính dù Việt Nam đã đục tường để chui vào trong. Nếu không có lính thủy, chúng sẽ tràn vào tất cả các ngôi nhà.

Một hạ sĩ quan hải quân khỏe như vâm chỉ vào những người mặc áo dân thường, hỏi Hays: Họ là những người nào?

– Những người tị nạn hợp lệ.

Người hạ sĩ quan gật đầu, ra lệnh cho lính xếp những người tị nạn thành hàng, mỗi hàng, 60 người. Anh còn khuyên Hays nên đi. Hays nói giọng buồn buồn: “Chưa đi được, tôi đã hứa với những người Việt Nam này ở lại, cho đến khi người cuối cùng lên máy bay”.

15 giờ 12 phút, giờ Sài Gòn, một máy bay khổng lồ CH-53 bay lên bầu trời từ phái bộ quân sự theo xa lộ Sài Gòn – Vũng Tàu ra hạm đội di tản. Một máy bay khác chở lính thủy bay về sứ quán đón một số người Việt Nam và nhà báo. Polgar vội vàng đến một cửa sổ trên lầu sáu, áp mặt vào kính mờ đi nói nhỏ: “Cảm ơn trời chúng ta may nắm rồi!”

Sự lạc quan của ông quá sớm. Cuộc di tản phải ngừng một giờ rưỡi để chờ lính thủy đến bổ sung cho nhóm 48 người cũ.

Trên lầu ba, Martin đi lại trong phòng riêng đọc lại những hồ sơ mới nhất và những điện quan trọng rồi xếp vào sơ mi dày. Trước đó lúc 14 giờ 30 phút, ông đã tắm. Ông đang mặc quần thì máy bay lên thẳng hạ xuống phái bộ quân sự. Eva Kim bất ngờ vào phòng làm việc của Martin. Hoảng sợ, cô suýt ngất đi: trước mặt cô, vị đại sứ cuối cùng của Hoa kỳ ở nước Việt Nam Cộng hòa, chỉ mới mặc quần, mà quần lại chưa cài khuy! Làm ra vẻ mải đọc, đại sứ không nói gì, không hề cử động!

Mấy phút sau, Martin mặc quần áo chỉnh tề, thắt cravate, vào buồng thư ký, giao hồ sơ, dặn cẩn thận: “phải giữ như giữ con ngươi của mình, đưa đi di tản vì hồ sơ chứa đựng những tin tức mới trao đổi với Kissinger, để làm tư liệu lịch sử sau này”.

Martin có lính thủy hộ vệ, trở về nhà “lấy cái này”. Đó là một con chó nhỏ đen tuyền. Nhưng khi trở lại sứ quán, ông không vào được vì quá đông người trước cổng. Ông phải vào sứ quán Pháp để đi qua cửa ngách.

Đại sứ Pháp vẫn ngồi ở trong phòng riêng, không có gì đáng nói với Martin. Đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Tân Sơn Nhất không đồng ý gặp đại sứ Mỹ. tổng thống Minh cả bốn người đến đề nghị giải pháp thương lượng – một hội nghị hòa bình gì đó ở Sài Gòn để bàn vấn đề quân sự, một hội nghị khác ở Paris bàn vấn đề chính trị – những Chính phủ Cách mạng lâm thời chưa trả lời.

Martin nhún vai. Có lẽ muộn quá rồi. Cộng sản muốn chiến thắng hoàn toàn. Sau khi cảm ơn Merillon một lần nữa về sự giúp đỡ của ông, Martin ra sân, đi tới bức tường chung của hai sứ quán, gõ ba lần vào cửa ngách, cửa mở, ông đi về phòng mình.

Chỉ có lần này, Jean Marie Merillon không lầm về ý đồ của cộng sản: Những đề nghị mới của Minh chẳng hề làm Chính phủ Cách mạng quan tâm. Họ đón tiếp lịch sự 4 sứ giả của Minh, mời những người này ăn chuối do họ trồng trong vườn chứ không thảo luận. Sứ giả của Minh bắt đắc dĩ phải nhận lời. Sau một giờ nói chuyện tào lao, họ đứng dậy xin kiếu về, đại diện cộng sản mỉm cười…

Ở sứ quán, người nào cũng cố giúp bạn bè, người quen đi ra cảng, xuống tàu bè, sà lan nhưng chỉ có sáu nghìn người tị nạn đi được và tàu bè chỉ chở hết nửa số người.

Giữa những viên chức và khách khứa mệt mỏi, Polgar quay cuồng trong phòng làm việc như một con sấu bị nhốt trong chuồng. Út bây giờ ở đâu? Sao không có nhiều máy bay trực thăng đến sứ quán? Không có tin gì ở dinh tổng thống? Ông tự đặt cho mình những câu hỏi trên – mà ông không thể trả lời được – hình như ông muốn quên đi, hay là muốn cho chúng tôi quên đi, những cảnh đáng buồn trong ngày. Howard Archer, nguyên trùm CIA ở Quân khu II bảo tôi sẽ đi chuyến bay tới. Anh không muốn sống lại những giờ cuối cùng trong cuộc di tản ở Nha Trang.

Trước 16 giờ, Moorefield chấm dứt việc đi tập hợp người tị nạn ở trung tâm thành phố, cho đoàn xe ô tô buýt vào để trong vườn ở bên kia đường trước sứ quán. Anh khuyên người tị nạn trên xe vào sứ quán bằng cửa bên hoặc trèo tường mà vào vì hàng nghìn người Việt Nam khác đang tập trung trước cửa sứ quán. Keyes Beech, nhà báo làm việc ở Sài Gòn từ lâu, cũng ở trong đám người tị nạn này, anh gọi tôi giúp anh vào sứ quán.

– Cố chen tới cửa, rồi tôi sẽ liệu.

Sau này, anh kể lại: “Ngập vào đám người nhốn nháo này, tụi mình khồn còn là nhà báo nữa mà là những người chiến đấu để sống. Huých tay, đá chân…cố làm sao chen được tới bức tường… Chúng tôi giống như những con súc vật. Tôi nghĩ: nay tôi mới hiểu người Việt Nam khổ đến mức nào! Nhưng nếu tôi vượt được qua tường rồi thì tôi trở lại là người Mỹ!

Người nào đó nắm lấy tay áo, giữ tôi lại. Tôi quay lại thấy một thanh niên Việt Nam. Anh kêu lên: “Nhận tôi làm con nuôi, cho tôi di tản, tôi sẽ giúp ông. Nếu không, ông không thể đi được!”. Tôi đồng ý ngay và anh ta nói thêm gì, tôi cũng không phản đối. Sao tôi lại bị mắc kẹt vào chuyện này? Chợt tay tôi được tự do và tôi tiến về phía bức tường. Hai lính thủy đứng trên đang xua đẩy người Việt Nam, giúp người (tr.347) Mỹ vào sứ quán. Một anh nhìn tôi, tôi cầu khẩn: giúp tôi với, anh làm ơn giúp tôi!

Anh lính thủy đưa tay xuống, kéo tôi lên như kéo một đứa bé. Tôi đứng trên một mái nhà tôn lượn sóng, sặc sụa như một con cá bị vứt khỏi nước”.

Trong một biệt thự ở đường Trần Cao Vân, gần sứ quán, Shop Lowman nhìn cảnh lộn xộn ngoài phố. Anh chờ tới bốn giờ rồi mà không có xe ô tô buýt để chở một nghìn người anh tập hợp được. Những người này đã sốt ruột, anh cũng đâm cáu kỉnh và bắt đầu thất vọng. Lowman lại gọi dây nói cho Mel Chatman, ở sứ quán: “Phải, sà lan vẫn ở Khánh Hội, nhưng ô tô buýt không có rồi!” Lowman quay lại nhìn những người Việt Nam, nói thật với họ và khuyên những người muốn di tản, đi ngay Khánh Hội – Họ nhao nhao phản đối. Một người nói: “Có lẽ chúng tôi cứ chờ ở đấy, sẽ có ô tô buýt”. Lowman lắc đầu. Rồi lợi dụng lúc người Việt Nam mải thảo luận với nhau, anh lẻn ra khỏi nhà, chen vào đám đông, về sứ quán.

Khi đi qua nhà anh, anh gặp ngay hai người bạn cũ: Đỗ Kiếm Nhiễu, nguyên thị trưởng Sài Gòn và Nguyễn Văn Ngãi, thượng nghị sĩ. Anh mời họ cùng đi đến sứ quán. Hai người vui vẻ nhận lời nhưng Nhiễu xin chờ mấy phút để ông cho người đi tìm vợ ra cảng từ sáng sớm. Ba người ngồi nói chuyện ở phòng khách. Vừa được mấy câu thì một tiếng nổ vang làm rung chuyển ngôi nhà. Một mảnh đạn bay qua cửa sổ, cắm vào tường, phía sau thượng nghị sĩ Ngãi. Lowman hoảng: Chúng ta có nên chờ không? Hai người Việt Nam nhìn nhau, quay sang phía Lowman lắc đầu. Không chần chừ, ba người vội chạy ra cửa. Sau này họ mới biết, mụ Nhiễu gặp may đã xuống tàu rồi.

Trước cổng sứ quán Mỹ quá lộn xộn, ba người phải vào sứ quán Pháp. Lính gác Pháp, thoạt đầu đuổi họ ra vì Merillon đã ra lệnh không cho một người tị nạn nào vào nhưng Lowman cố năn nỉ. Mấy phút sau họ đi qua cửa ngách, về sứ quán Mỹ.

17 giờ, tướng Smith gọi sứ quán hỏi số lượng người di tản. Lần đầu tiên ông nhận được câu trả lời có vẻ nghiêm chỉnh. Một cộng tác viên của Jocobson vừa đếm lại số người trong nhà, ngoài sân: từ 1500 đến hai nghìn người.

Tình hình những người này lúc đó rất nóng nẩy. Mới có ba máy bay lên thẳng đến chở người tị nạn. Phải 40 phút nữa mới có chuyến khác. Sốt ruột vì chờ đợi, dân tị nạn kêu ca, oán thán, chửi bới.

Trên lầu sáu, tôi cố không quan tâm đến những chuyện xảy ra, chăm chú nghe dây nói, đọc những bức điện, mỗi lúc một ít đi. Tôi không thể không ở chỗ làm việc. Cũng như Polgar, tôi suy sụp rất nhanh.

Tôi vừa trả lời dây nói người Việt Nam cáu kỉnh thứ một trăm thì “Harry Linden”, một đồng nghiệp đến tìm tôi: Đôi kính dày, giọng kim loại óng ánh mồ hôi, anh nói giọng run run: “Những người phiên dịch của chúng ta! Quên họ rồi. Họ đang ở ngôi nhà gần khách sạn Duc. Phải đón họ”.

Linden, người phiên dịch cừ khôi của CIA, cho ằng anh phải chịu trách nhiệm đối với đồng nghiệp. Hầu hết đều nói giỏi hai thứ tiếng Anh, Pháp. Họ đã dịch cho chúng tôi những tài liệu quan trọng và giúp chúng tôi tuyển người. Trong số những người Việt Nam giúp việc, họ là những người chắc chắn, biết nhiều về hoạt động của các nhân viên CIA và biết nhiều điệp viên. “Thế mà – Linden vừa thở – vừa nói, viên chức CIA chịu trách nhiệm an ninh của họ, đã bỏ đi trước rồi!”.

Tôi đẩy Linden về phòng Polgar và nghe anh báo cáo chuyện trên. Polgar bực mình. Ông chỉ sang nhóm người viên chức đang ngồi nghỉ ở phòng trước mặt, nói chuyện tếu và uống rượu: “Lấy một người phụ trách việc này”. Tôi ra kéo tay Harry, dẫn anh đến phòng dây nói: “Gọi cho những người phiên dịch, báo họ đến nhà Pittman. Ở đây đã có 30 người bạn của Polgar. Sẽ có máy bay trực thăng đến đón. Phiên dịch phải chờ sau, đến lượt mới đi, tuy nhiên họ còn gặp may”.

Khi anh đàn nói chuyện thì tôi nghe rõ nhiều tiếng nổ, dội tới cả cầu thang, trên lầu bốn. Chuyên gia thông tin đang phá hủy máy móc liên lạc với Hoa Thịnh Đốn. Họ vừa bắt đầu dùng búa và lựu đạn thì đại sứ tới. Ông nổi giận ra lệnh bằng một giọng khàn khàn: “Ngừng ngay cái trò xiếc ấy! Tôi không thể chịu được tiếng ồn”. Nhân viên CIA tiếp tục phá nhưng nhẹ nhàng hơn.

Tôi ngồi ở đấy nghe Harry nói và nghe tiếng búa. Tôi tự hỏi bao lâu nữa mới kết thúc. Tôi rút trong túi một điện, đọc lại. Đó là tin báo cho biết đến 18 giờ, cộng sản sẽ bắn phá dinh tổng thống. Tôi nhìn đồng hồ: còn chưa đầy một giờ!

Quá 17 giờ, tướng Timmes gọi dây nói cho Minh hỏi tin về cuộc tiếp xúc với Chính phủ Cách mạng, về những điều sứ giả của Minh nắm được. Cộng sản có đánh đến cùng bằng pháo binh không? Minh vẫn như trước, chẳng biết gì cả, lơ mơ hết chỗ nói. Minh trả lời: ông ta định thu xếp một việc gì đó nhưng cho đến nay, đại diện Chính phủ Cách mạng từ chối không thảo luận, lấy cớ họ chỉ là những người lính không phụ trách vấn đề chính trị. Ông nói thêm: tuy vậy chưa phải là hết hy vọng. Ba nhân vật trung lập vừa đến chỗ đại diện Chính Phủ Cách mạng lâm thời, đề nghị ngừng bắn. Nghe nhắc đến tên ba người đó. Timmes hơi ngán: luật sư Trần Ngọc Liễng, giáo sư Châu Tâm Luân và linh mục Chân Tín đều là những người chống lại chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Thật mỉa mai, số phận những người Mỹ cuối cùng ở Sài gòn lại nằm trong tay họ!

Timmes biết rằng ông không còn gặp lại người bạn già Minh lớn nữa nhưng ông không muốn một cuộc chia tay đầy nước mắt. Ông chào đơn giản: Tạm biệt! Đó là cuộc nói chuyện cuối cùng giữa hai người.

Trong hồi ký của mình, tướng Văn Tiến Dũng viết vào lúc hai giờ sáng, phái đoàn quân sự của ta ở trại David trong Tân Sơn Nhất điện về Bộ chỉ huy chiến dịch báo cáo: “Có ba người do chính quyền Sài Gòn cử đến gặp chúng tôi để thăm dò việc ngừng bắn. Đồng chí Võ Đông Giang tiếp họ và nói rõ lập trường quan điểm của ta trong Tuyên bố của Chính phủ Cách mạng lâm thời ngày 26 tháng 4. Sau đó họ xin ra về. Tôi nói pháo của quân ta đang bắn mạnh vào sân bay, rất nguy hiểm, không nên về. Cuối cùng, cả ba người đồng ý ở lại. Hiện giờ họ đang ở trong hầm với chúng tôi”.

Cuộc du thuyết của ba nhân vật trung lập là hy vọng cuối cùng của Minh. Ông quyết định không có sáng kiến chính trị gì nữa một khi ba người trên trở về. Việc ba người ở lại với phái đoàn Chính phủ Cách mạng làm cho Minh lo lắng, không còn biết làm gì nữa.

Chiều đến, những tàu kéo và sà lan cuối cùng rời cảng Khánh Hội chạy đi Vũng Tàu. Phần lớn những tàu bè này mới chở hết nửa món. Trừ mấy tiếng súng nổ lác đác ở cửa sông, chuyến đi ra biển này bình yên như một cuộc du ngoại đi viếng đất thánh!

Đoàn xe ô tô buýt cuối cùng của phái bộ quân sự, chở tám trăm người, vượt qua cổng chính sân bay Tân Sơn Nhất. Người ngồi trong xe đi đầu là đại úy Tony Woods, bạn cũ của Moorefield. Chuyến xe này là chuyến xe tồi tệ nhất trong ngày. Lính gác, năm lần, bắt đoàn xe quay ra, chỉ cho đoàn xe vào khi tướng Smith doạ sẽ cho không quân can thiệp.

Cách đó ba kilômét, ở nơi phân loại người di tản, Don Hays tiếp tục cho người Việt Nam lên máy bay trực thăng, nhanh được chừng nào hay chừng ấy, tuỳ theo sức lực anh. 17 giờ 31 phút, tướng Smith báo cho hạm đội di tản biết còn khoảng 1300 người nữa, trong đó có đơn vị an ninh hải quân gồm 840 người. Từ sở chỉ huy ở Thái Lan, những người nhận dịch tin của đoàn quân thứ bảy không quân, tính ra phải mất ít nhất hai giờ nữa mới xong.

Chập tối, trời đổi gió. Buổi chiều, trời nóng bức thế mà bây giờ, gió thổi ào ào. Trong sân sứ quán, lính thuỷ phải ra hiệu, hét to để hướng dẫn máy bay đỗ. Lúc không còn trông rõ nữa, họ định dùng máy vô tuyến điện nhưng không biết rõ làn sóng của máy bay. Phải liên tiếp hỏi phái bộ quân sự mới được thiếu tá Kean cho biết. Khi Lacy Wright vào phòng làm việc của đại sứ, anh chững lại. Theo lời anh “Trong ấy vô cùng rối ren, có khoảng 15 người đang uống rượu và nói chuyện ba hoa. Martin đang trao đổi với Mc Arthur, phóng viên báo Los Angeles Times. Chỉ có Eva Kim làm việc, một mình nghe ba, bốn dây nói. Cô vừa ngắt một đường dây, lại nhấp nháy ở đường khác. Wright cầm lấy máy “để tôi”. Ở đầu dây đằng kia tiếng nói trộn tiếng khóc thổn thức, rất khó nghe. Một nhân viên Việt Nam giúp việc ở phái bộ quân sự cho biết bọn họ suốt ngày nay ở trên một nóc nhà mà không có ai đón. Hai trăm người tất cả!

Wright mệt nhọc trả lời: “quá muộn rồi, không có xe hoặc máy bay đêm. Chịu khó đi bộ ra cảng “May ra tàu bè còn chỗ”.

Yên lặng. Rồi: “Các ông để mặc chúng tôi chết ở đây à?”

Wright kiên trì: “Chỉ còn cách đó thôi, đi bộ ra cảng!”

– “Các ông chả giúp gì chúng tôi cả. Chúng tôi chết mất!”

– “Rời ngôi nhà, đi ra cảng thì sống đấy!”

Trên bãi cỏ dằng sau sứ quán. Ken Moorefield, nhân lúc hơi rỗi việc, vội ăn bữa ăn tối. Vừa nhai xong món đậu, anh thấy một bóng người quen thuộc rẽ đám đông lao đến. Đó là một đại biểu Iran trong Ủy ban quốc tế kiểm soát anh từng gặp khi làm sĩ quan liên lạc cho Ủy ban mấy tháng trước đây. Ông ta không còn là một nhà ngoại giao điềm đạm, chững chạc mà Moorefield nhớ mãi. Mấy phút trước, ông lẻn vào sứ quán Pháp rồi sang sứ quán Mỹ. Với nhiều đại biểu khác trong đoàn Iran. Ông đang đứng ngoài sân giữa những người Việt Nam nóng tính. Các vị muốn được hưởng quyền ưu tiên!

Tuy biết là mình không ở cương vị phải giúp đỡ họ, Moorefield không chần chừ, nghĩ thêm: cần đối đãi thật tử tế với những người con của hoàng đế, anh rẽ đám đông, đi tới họ, dẫn họ về phòng làm việc của Martin. Khốn khổ thay, sau đó, chúng tôi biết ngay họ sẽ làm phiền chúng tôi. Khi lẻn vào sứ quán Pháp, đi qua cửa ngách, họ đánh rơi mất mật mã. Cửa ngách bị đóng chặt ngay, họ không trở ra tìm mật mã được nữa. Nhân viên thông tin, giữ mật mã phát điên. Nhiệm vụ vụ duy nhất trên đời của anh ta là giữ mật mã, thế mà…Việc một chính phủ khác, nhất là chính phủ Pháp, giữ lại mật mã, đối với anh ta, không thể có được! Anh rất lo trở về Téheran sẽ bị xử bắn. Đại sứ Iran trình bày sự việc với Martin. Martin gọi dây nói cho Merillon. Chẳng ăn thua gì. Không lấy lại được mật mã. Người Iran, tay trắng, đi chuyến máy bay sau đó.

Sau vụ đánh rơi mật mã ấy, tôi muốn nghỉ một chút. Xách ghế sân cỏ đằng sau sứ quán, tôi ngồi ngắm cảnh chung quanh. Đã mười ngày nay, tôi mới lại được ngồi như thế. Cầu hàng không máy bay lên thẳng hoạt động đều, mặc dù gặp khó khăn: sân hẹp, CH-53 là loại máy bay trực thăng lớn, nặng, mỗi chiếc phải chở tới 70 người, mức trong tải cao nhất.

Nhiều lần, gió cuốn suýt gây ra tai nạn. Đã có một máy bay trực thăng lên được ba mét lại phải hạ xuống. Lên ba mét nữa lại phải hạ xuống lần nữa. Chúng tôi rất lo. Công suất máy có thể đưa máy bay lên được không? Tai hại biết mấy nếu một chiếc rơi, nổ trong sân sứ quán!

Phi công của hải quân quả có tài. Thấy hết khó khăn ở đây, càng phục họ. Họ phải chở nặng, bay đi, bay lại từ sân sứ quán, hoặc từ mái nhà ra hạm đội, cho người xuống xong, lại bay vào. Chắc họ mệt vô cùng.

Những người lính thủy Mỹ cũng có những cử chỉ đẹp, hành động đẹp. Sắp xếp người di tản nhanh, đưa họ lên máy bay để khỏi phải chờ lâu, điều đó có nghĩa là, bánh xe máy bay vừa chạm đất, người tị nạn phải chạy ngay đến cửa sau. Ngoài ra còn sức gió 130 kilômét/giờ của cánh quạt quay, nếu để phụ nữ hay trẻ em bị cuốn đi thì thật là nguy hiểm.

Thỉnh thoảng, một sứ giả của đại sứ, khi thì Wolf Lehmann, khi thì George hay Brunson Mc Kingsley, lại xuống giảng giải. Họ làm ra vẻ quan trọng, lúc nào cũng đeo máy vô tuyến điện, nét mặt đăm chiêu! Hình như chỉ có họ là những người chịu trách nhiệm! Thực tế, đó chỉ là những người lính ăn chơi không cần ai giúp đỡ. Có lúc Mc Arthur ra sân cỏ, nhìn qua ống dòm. Anh vẫn tươi trẻ, không có gì mệt mỏi. Không ghi sổ, không chụp ảnh, ảnh chỉ quan sát.

Tôi biết trên kia, ở phòng đại sứ, họ đã uống rượu khan thỏa thích. Ở phòng Polgar cũng vậy, uống tha hồ, mặc sức. Ở đây, sống trong những ngày qua tôi thấy ớn những bữa rượu chè.

Từ sáng đến giờ, ba hay bốn máy bay Nam Việt Nam đã bị súng phòng không của cộng sản bắn rơi ở ngoại ô Sài Gòn. Một giờ rưỡi trước, quân Bắc Việt Nam đã sử dụng tên lửa SAM-7, bắn vào máy bay Phantom của Mỹ, cách thành phố 16 kilômét về phía Đông Bắc. Phi công Mỹ bắn tên lửa Wild Veasels chống lại, phá hủy bệ phóng của cộng sản. Thực tế, người Mỹ đã trở lại tham chiến!

nhandanvietnam.org

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: