Cuộc tháo chạy tán loạn – Phần 11

Thoát khỏi địa ngục

oOo

Ngày 28 tháng 3, mới trước bình minh nhưng ở Đà Nẵng, ngoài bến tàu, dòng người sợ hãi đã đông nghịt. Nhưng tấm gỗ xám, lâu đời kêu răng rắc dưới sức nặng của hàng nghìn người Việt Nam. Họ chen lấn, xô đẩy nhau. Đây là chuyến đi cuối cùng. Chung quanh mỗi cột cầu tàu, thuyền và tàu kéo đậu thành ba hàng, chở người tị nạn đứng ngồi như nhét khoai tây.

Trong lúc đó, ở phía Tây thành phố, dưới tầm súng của lính bắn tỉa Bắc Việt Nam, nhiều người tị nạn thất vọng, chiếm vọng kiểm soát của sân bay chính, ngăn cản mọi chuyến bay. Một lúc sau, khoảng 4 giờ sáng, Francis, sau khi đi thăm thành phố trở về nhà, người mệt lử. Ông báo cho nhóm 30 người Mỹ, những người Việt Nam và người nước ngoài khác đang chờ ông biết rằng tình hình rất xấu, buộc ông phải ra lệnh cho tản cư ngay lập tức toàn bộ những người ông chịu trách nhiệm.

Một số người trong nhóm đi lẫn lộn vào đám đông, tới sân bay nhỏ ở bên kia đường dành cho máy bay lên thẳng của Ủy ban quốc tế kiểm soát. Lúc đó những máy bay đầu tiên của hãng Hàng không Mỹ bay tới. Những người còn lại của nhóm tiến ra bến ở bên kia lãnh sự quán, ở đấy có một xuồng máy vừa từ cảng chạy tới. Họ vừa mới xuống xuồng thì hàng trăm người Việt Nam đã xô ra cầu tàu. Trong không đầy 20 phút, hơn bốn nghìn người đứng trên đó, nặng gấp hai lần sức chở bình thường. Custer, từ kho nhìn ra, thấy mình bất lực, không thể nào cho tản cư được nhân viên của anh.

Giữa lúc rối ren ấy, Francis gọi một sĩ quan của phái bộ quân sự và hai nhân viên CIA theo ông. Ông vất cho một người khẩu súng M-16 và nói: “Có khi phải sử dụng đến. Đừng chần chừ gì mà không sử dụng”. Ông vội đi đến lãnh sự quán, ở bên kia đường. Một nhóm người đi xe Honda bắt đầu bao vây ông.

Sau khi nhanh chóng vào trụ sở, lấy máy radiô cực mật của CIA, ông lên một xe vận tải nhỏ, đi ra bến. Giữa sự chen lấn của những người tị nạn, ông đưa được máy radiô xuống một xuồng máy.

Trong khi đó, lính Nùng của Thiệu, xông vào trụ sở, tìm kiếm vơ vét những gì CIA để lại. Khi họ hiểu rằng người chủ Mỹ đã bỏ rơi họ, họ lập tức đập phá và đốt những ngôi nhà. Hai nhân viên CIA xuất hiện, họ lia súng buộc hai người phải chạy trốn qua cửa ra vào.

Còn Ron Howard, anh không tự hào chút nào về mưu mẹo của mình. Anh gọi riêng mấy nhân viên người Việt Nam, nhanh chóng cho họ ý kiến, đánh xe vận tải lại, cho ba nghìn người tị nạn nhanh chóng lên xe, chở ra trung tâm thành phố, ở đấy sẽ có máy bay lên thẳng đến đón!

Lệnh của anh được chấp hành ngay. Howard cũng giúp phụ nữ và trẻ em trèo lên xe. Rồi từng chiếc một, những xe vận tải chở 2,5 tấn nặng nề chạy qua cửa sắt, đi về phía địa điểm tập kết ma. Rõ ràng mưu mẹo này không cao. Việc ngần ấy người lên xe phải mất hơn một giờ đồng hồ. Khi chiếc xe cuối cùng đi được thì những chiếc xe đầu tiên đã quay về, người trên xe giận dữ tưởng phát điên. Họ sẵn sàng giết người. Họ đã chờ đợi và nhìn về phía chân trời hết sức thất vọng. Đúng thế, chưa có một máy bay lên thẳng nào đến cả mặc dù người ta đã hứa hẹn!

Howard đóng và khoá được cửa sắt, nhưng hàng trăm người tị nạn nổi giận đã tập họp ngoài đường phố và xô tới cửa. Chợt Howard nghe thấy tiếng nói của Custer ở radiô để trong túi phát ra, giục anh mau mau ra cảng: mọi người đều đi! Run vì sợ, Howard nghe lõm bõm lời giục giã. Trong bóng tối, anh nhìn đồng hồ: năm giờ rưỡi rồi. Lần này tính anh có thể nguy hiểm.

Anh không thể đi bằng bốn con đường được. Anh không có quyền lựa chọn. Anh bám lấy cổ áo một người Việt Nam, một người thợ có khi rất quen. Anh thề với người này sẽ bảo đảm mọi thứ quý giá cho anh ta và gia đình, chỗ trên máy bay hoặc trên tàu nếu anh này nhận giúp anh trốn thoát. Người Việt Nam có vẻ không tin nhưng anh cũng chẳng còn cách nào khác. Anh nhận lời. Trong khi hơn một chục người tị nạn đột nhập được trụ sở, đốt vòi bơm dầu xăng, cướp phá tự do thì Howard và người thợ, cùng gia đình lặng lẽ vòng ra đằng sau nhà, lên một xe vận tải bỏ không. Người Việt Nam cần lái (Howard ngồi xổm bên cạnh) cho xe đâm vào đám người tụ tập, những người này tản ra; mấy phút sau, xe đi được tới cảng.

Cầu hàng không lại có, đúng lúc bình minh ở sân bay chính. Lúc những máy bay 727 đầu tiên của hãng Hàng không thế giới hạ cánh, một đoàn xe quân sự chở gia đình binh lính Việt Nam đến đỗ ở đường băng và bắt đầu cho người xuống. Tức thì, năm nghìn người Việt Nam khác, kiến nhãn chờ ngoài cửa, chạy ập tới máy bay, dẫm cả lên đàn bà, trẻ con. Lính gác Mỹ ra oai. Nhưng không có kết quả. Người lái máy bay khởi động, bắt đầu cho máy bay lăn bánh. Rất nhiều tay người còn bám lấy cửa máy bay chưa đóng. Hàng chục người còn bị treo lơ lửng khi máy bay rời đường băng:

Ron Howard lái mò trong sương mù dày đặc. Trong ánh sáng mờ, tiếng kêu cầu cứu của người Việt Nam át cả tiếng sóng vỗ.

Howard tìm thấy Custer và 16 người Mỹ khác đang chờ anh bên bờ biển. Máy canô đã khởi động, không ngoái cổ lại một lần, họ ra khơi. Howard ngồi đằng trước, lái ca-nô. Bên anh là Custer, Brunson Mc Kinley và ba người Mỹ khác. Người thợ cơ khí Việt Nam và gia đình bị nhét ở phía sau. Bên phải, hai chiếc xuồng máy khác của lãnh sự quán vừa kêu vừa chạy qua những con sông lớn.

Howard chưa hiểu sẽ đi đâu. Anh cũng không quan tâm đến việc ấy nữa. Cái chính là thoát khỏi Đà Nẵng, được sống bình yên sau nhiều ngày khốn khổ. Lấy cái compa bỏ túi, anh lái canô đi về phía Đông Nam, tới một đảo nhỏ của những người đánh cá.

Custer, mệt mỏi, ngồi khuỵu bên anh. Sau cùng, mới ấp úng: “Một tàu LZ đón chúng ta”. Thật vậy chẳng mấy chốc, một ống khói đỏ, trắng xanh lơ và bóng xám một tàu chở hàng Mỹ xuất hiện giữa sương mù. Đó là tàu Pioneer Contender.

Ở Đà Nẵng, lúc Francis nghe nói có biểu tình ở sân bay chính, ông quyết định tất cả các máy bay của hãng Hàng không Mỹ đều đỗ xuống sân bay Ngũ Hành Sơn, để lại hơn mười nghìn người Việt Nam ở sân bay chính. Trong những người này có nhân viên lãnh sự quán với gia đình họ. Francis đề nghị cho hai máy bay Huey đến chở “hành khách hợp pháp” này về sân bay “Ngũ Hành Sơn”. Nhưng hai máy bay vừa đỗ xuống thì đám đông đã xô tới, một lần nữa, lại đánh nhau để lên.

Trên biển, những xuồng máy nhỏ đỗ dọc chiếc tàu Pioneer Contender, dưới tiếng kêu thét vui vẻ của Ron Howard và các bạn đồng nghiệp. Một người Việt Nam níu chặt lấy các thập tự nhỏ. Howard đứng dậy, lấy một thang dây trên tàu, quăng xuống cho anh ta và gọi Custer để cùng giúp người tị nạn leo lên tàu. Nhưng Custer vừa lắc đầu vừa xua tay và nói: Tôi không muốn ở trên tàu, tôi còn phải lo nhiều việc ở Đà Nẵng. Tìm nhân viên quan trọng người Việt Nam bị bỏ sót lại. Có ai giúp tôi không?

Howard không tin ở tai mình nữa. Anh nhìn những người khác ngồi trong tàu, không ai động đậy. Brunson Mc Kinley cuối cùng gật đầu và nói: Tôi đi. Anh là người duy nhất xung phong.

Custer chào vĩnh biệt những người trèo lên thang sau cùng. Gặp may mắn, giữ gìn sức khoẻ. Chiếc xuồng máy quay lại, biến trong sương mù. Howard trông thấy anh lần cuối cùng trong lúc leo lên cầu giữa. Anh nói với người bạn Việt Nam leo trước anh: “Trời chứng giám, tôi không có tình cam đảm!”

Howard tự an ủi mình quá sớm. Tình hình trên tàu Contender cũng như giấc mộng khủng khiếp anh đã thấy ở Đà Nẵng: 15.000 lính Nam Việt Nam chen chúc trên boong, một số đánh nhau, một số bắn những người dân đứng lẩn với họ. Cách đó mười mét, một tên hiếp một phụ nữ trong khi đó một tên khác gì súng vào người chồng chị ta. 35 người tị nạn Mỹ thì họp thành một nhóm rất nhỏ gần buồng lái.

Một người Mỹ nói to với Howard, tay chỉ một binh lính Nam Việt Nam cầm súng, đứng trên boong ở tầng trên: chúng muốn đi Philippin, và đã nhốt thuyền trưởng rồi.

Howard không cần phải suy nghĩ lâu mới biết nên làm gì. Anh ra hiệu cho mấy lính Mỹ cùng đi Đà Nẵng, trình bày nhanh với họ kế hoạch của anh. Sau khi xem lại vũ khí, lính Mỹ đi lên boong trên. Bốn lính Nam Việt Nam đứng dựa vào thành tàu mải nói chuyện với nhau không hề biết gì. Howard và lính Mỹ đánh ngã ngay, chúng không kịp kêu. Họ phá khoá. Người thuyền trưởng, choáng váng, đi từ cabin ra, theo sau là mấy thuỷ thủ. Khi đã hoàn hồn, ông mới ồm ồm nói: “Các bạn biết không, chúng bảo với tôi từ Sài Gòn, chúng đến đây để lấy xe của Mỹ còn để lại. Tôi không ngờ lại xảy ra chuyện này”.

Ở Sài Gòn, không một ai trong chúng tôi có ý niệm gì về sự khổ cực của các đồng nghiệp ở Quân khu I. Tin tức sơ sài chúng tôi nhận được buổi sáng là một mớ phóng sự của các nhà báo và báo cáo của lái máy bay kèm theo ảnh chụp từ trên không. Kèm theo nữa là việc Custer tỏ ý với Polgar chưa vội về Sài Gòn, làm cho chúng tôi yên tâm. Chúng tôi lại nói với nhau để tự an ủi: người chịu trách nhiệm ở ngoài đấy nắm vững tình hình. Thế rồi chúng tôi bình tĩnh đi làm việc.

“Việc” này không chán như trước vì ngày 28 Martin và người thân cận của Weyang đến Sài Gòn. Ngay lúc Ron Howard và các bạn anh ở lãnh sự quán ngoài Quân khu I vật lộn để sống, thì Pat, Joe và cả tôi nữa đang hối hả chuẩn bị những bản báo cáo để trình bày với những nhân vật quan trọng về những sự kiện mà ngay bản thân chúng tôi cũng khó hiểu.

Mc Kinley ngồi bên cạnh Custer, trên guồng máy vượt sóng chạy vào bờ, kính đầy nước. Giữa đường, họ trông thấy một tàu kéo, chiếc Osela (Mc Kinley nghĩ: đúng là một từ Mỹ), họ cho xuồng chạy đến. Custer nói: có thể tàu có nhiều sàlan. Họ đang cần để chở người tị nạn.

Thực tế, không còn sàlan nào trống cả, chỉ có thể đứng được thôi. Hai người quyết định lấy hẳn chiếc Osela làm căn cứ.

Họ trông thấy AL Francis trên bến, mắt trũng, vẻ mệt mỏi. Nhưng Francis từ chối không chịu tản cư. Ông nói: tôi còn phải ở lại một lúc nữa để giữ tình thần người Việt Nam. Mc Kinley nói đùa một cách buồn bã: “Thế thì ở lại nhé”, rồi đi với Custer. Đấy là lần cuối cùng họ trông thấy Francis ở Đà Nẵng. Mc Kinley từ biệt Custer ở bến bên kia lãnh sự quán. Anh đi ngược phố đến biệt thự của Francis, liếc nhìn đám đông xem có mặt nào quen không. Bọn kẻ cướp đã phá cửa nhiều nhà, nhiều cửa hàng vắng chủ. Chúng gói của cải vào vải bạt, vác lên vai chạy vượt qua Kinley. Lửa cháy ở những phố gần đấy.

Trên tàu Pioneer Contender, Howard và các bạn Mỹ quan sát một cách bực mình hàng nghìn lính Việt Nam cùng đứng trên boong. Họ đã lên tàu gần một giờ, đã giải phóng thuyền trưởng và ổn định tư tưởng của thuỷ thủ bất bình nhưng chung quanh họ vẫn là hỗn độn và bạo lực. Lính Nam Việt Nam giết những người nghi là Việt cộng! Thực tế đó là lính và dân đánh nhau đến chết để tranh một chỗ ở boong dưới. Thế rồi có tin loan truyền người nhái cộng sản sắp đánh đắm tàu. Một lính Mỹ nêu ý kiến đuổi những người Việt Nam ở boong trên xuống, lấy dày bao quanh họ, phòng khi họ quay lại tiến công người Mỹ thì dễ bảo vệ hơn. Đuổi họ khỏi boong trên không phải là chuyện dễ: có đến gần một nghìn lính Nam Việt Nam phần lớn có vũ khí. Đuổi họ đi sẽ gây chuyện đánh nhau ngay. Nhưng nên chọn cách nào? Howard và mấy người nữa hỏi thuyền trưởng. Ông chấp nhận. Cong việc được tiến hành ngay. Howard cầm súng, tiến đến nhóm lính gần nhất, yêu cầu gọi sĩ quan đến nói chuyện. Anh chững chạc bảo họ: tàu không thể chạy được nếu trên boong này còn cảnh hỗn loạn. Suốt buổi sáng và cả trưa nữa. Howard và bạn anh lần lượt đi nói với các nhóm lính như thế. Đồng thời họ tước vũ khí của lính và đẩy họ dần dần về phía sau, nhất là đối với những tên cứng cổ.

Ở trên bờ, Mc Kinley phải len lỏi mới ra được bến cùng với mấy người cộng sự Việt Nam. Được Custer giúp đỡ, anh đẩy những người bạn này lên một xuồng máy. Mất 45 phút mới ra tới tàu Oseola và 5 phút mới lên được tàu. Custer quay mũi xuồng vào bờ.

Trong khi đó, tài Oseola kéo theo nhiều Sàlan tiến về nơi hẹn trước bằng radiô với tàu Pioneer Contender sẵn sàng chở người tị nạn.

Suốt buổi sáng, hai máy bay lên thẳng của hãng Hàng không Mỹ bay đi bay lại giữa sân bay nhỏ của Ủy ban quốc tế kiểm soát ở gần nhà Francis và đường băng ở núi Ngũ Hành. Đến trưa, cả hai máy bay đều sắp cạn dầu. Phi công báo cho Francis, họ phải đến một đảo nhỏ cách bờ khoảng một trăm kilômét để lấy nhiên liệu. Không để mất một phút, Francis gọi đến sở chỉ huy của Trưởng yêu cầu cho một máy bay lên thẳng đến chở người tị nạn từ sân bay nọ đến sân bay kia. Trưởng nhận lời, cho hẳn máy bay lên thẳng và phi công riêng của ông đến.

Có thêm máy bay, Francis cho chở được hết khách ở sân bay của Ủy ban quốc tế kiểm soát trước ba giờ chiều. Khi người tị nạn cuối cùng lên máy bay, Francis ra lệnh cho người lái bay đi, không chờ ông, Francis muốn quay lại lãnh sự quán xem còn ai không.

Mười phút sau, người lái máy bay của Trưởng đỗ xuống phía Đông sân bay núi Ngũ Hành và cho người xuống. Nhưng anh ta không biết rằng những người kiểm soát của hãnh Hàng không Mỹ vừa chọn một nơi khác để máy bay đỗ nên nhóm người tị nạn này bị bỏ lại.

Xế chiều, Francis đến núi Ngũ hành kiểm tra lần cuối, ông thấy những người tị nạn rét run, ôm lấy nhau như đám gà con sợ hãi, ông gọi radiô cho hãnh Hàng không Mỹ xin một chuyến bay nữa nhưng binh lính Nam Việt Nam đã đặt pháo binh sẵn sàng nhả đạn vào đường băng. Francis đến thảo luận với họ, họ đồng ý hoãn việc phá đường băng để máy bay đỗ với điều kiện chở một số sĩ quan và binh lính đi tản cư. Do đó trong số 93 người đi trên chiếc C-47 cuối cùng, một nữa là binh lính Nam việt Nam.

Nhưng cả sự nhượng bộ ấy cũng không ích gì. Máy bay vừa lăn bánh trên đường băng, hàng trăm binh lính khác đỗ xô đến, bám lấy cánh, lấy càng như họ muốn giữ máy bay lại để báo thù. Francis chạy đến, thét mắng, chửi bới, thậm chí đánh những người lính. Sự khiêu khích có hiệu quả ngay: Lính quay lại đánh ông, máy bay cất cánh ngay, Francis có thể bị giết nhưng ông nhanh trí, giả vờ chết. Bọn lính sợ hãi lùi lại, rồi trở về với đại bác của họ. Một người Đức, hai người Anh giúp việc cho một tổ chức từ thiện, đứng xa chứng kiến cảnh này. Họ vội vàng chạy đến nâng ông tổng lãnh sự dậy. Tuy bị đánh và ngất đi nhưng ông không đau lắm. Chỉ bị thương ở cổ. Tuy vậy, Sài Gòn thất thủ hai năm rồi, ông vẫn còn khó chịu.

Quá trưa ngày 28 tháng 3, sư đoàn 3 Nam Việt Nam đóng ở phía Tây Nam Đà Nẵng không còn nữa: Vừa bị pháo binh cộng sản bắn, vừa bị gánh nặng gia đình thôi thúc sư đoàn tan rã nhanh. Một số lính thuỷ ở phái Bắc thành phố lùi ra bở biển vì trước chúng, lực lượng Bắc Việt Nam rất đông sắp đè bẹp chúng. Tin thất trận bay về bộ tư lệnh tướng Trưởng. Trưởng gọi cho Thiệu ở Sài Gòn đề nghị dành cho ông ta một sự “linh động” nào đó. Thiệu không thèm hỏi gì vì biết rằng linh động có nghĩa là tản cư ngay và triệt để bằng đường biển!

Còn Francis và trưởng chi nhánh CIA ở Đà Nẵng có vẻ tranh nhau tỏ rõ cho đồng nghiệp đã xuống tàu, mình có vinh dự là người Mỹ cuối cùng rời thành phố! Tổng lãnh sự vừa thoát chết ở sân bay Ngũ Hành Sơn. Cùng với mấy người Anh, đi máy bay lên thẳng đến sở chỉ huy của Trưởng nói là để giúp ông ta. Custer dành cả buổi chiều để đi đi lại lại giữa tàu Oseola và bến sông Hàn. Trước tối, xuồng máy anh ta hết dầu, cách lãnh sự quán không xa lắm. Anh cùng với người lái dùng một xuồng khác đi ra tàu kéo.

Chiều xuống, sương mù toả ra. Nhìn xa được đến đâu thì thấy mặt nước biển ở đấy đầy những thứ thành phố vứt đi. Tàu, thuyền bè đánh cá, phà nhấp nhô trên sóng. Trên tàu Pioncer Contender, Ron Howard và các bạn đã đuổi được phần lớn binh lính Việt Nam xuống dưới. Nhưng ở giữa tàu chật như nêm cối. Những người Mỹ thấy rằng họ khong thể giữ riêng cho họ bong trên.

Suốt buổi chiều, tàu Contender vẫn tiếp nhận người tản cư. Nhưng thuyền, cuồng áp mạn tàu đến đâu thì trên tàu lại thả thang và cho cầu xuống đến đấy. Những người tị nạn mạo hiểm trèo lên boong. Nhiều người, nhất là người già và trẻ em, trượt chân, ngã xuống biển, bị thuyền buồm nhận chìm hoặc sóng cuốn đi. Thuyền, xuồng cũng bị sóng vỗ va vào tàu. Đến tối, Ron Howard thôi không đếm số người chết nữa. Anh đã trông thấy hơn một nghìn người xơi xuống nước rồi.

Ở sở chỉ huy của Trưởng, Francis và hai người Anh thấy ông ta đang hủy hồ sơ và bản đồ. Phần lớn bộ tham mưu của Trưởng đã đào ngũ. Ba người phương Tây giúp ông ta đốt tài liệu rồi cùng lên máy bay lên thẳng của Trưởng bay về bộ tư lệnh hải quân Việt Nam, đặt trên một bán đảo nhỏ gần bến lớn cảng Đà Nẵng. Đêm xuống, khi họ hạ cánh trước trụ sở có ánh đèn mờ. Dọc bến có nhiều xuồng chở đầy binh lính. Những người lính khác ngồi trên bến, chân thò xuống nước, Francis hỏi một sĩ quan mượn một chiếc xuồng để ngược sông đến lãnh sự quán, anh này nhún vai.

Trong đêm, Ron Howard xem đồng hồ bỏ túi. Sắp mười giờ. Trong tám giờ trước đó, tàu Pioneer Contender chở được bảy nghìn người tị nạn. Tiếp tục nghe thấy tiếng súng nổ ở boong dưới. Bọn lính Nam Việt Nam vẫn giết dân để chiếm chỗ, mỗi lúc một nhiều hơn. Mấy người Mỹ định can thiệp nhưng nhiều người khác không muốn có một cuộc đụng độ với lính. Cuối cùng, quyết định không chở thêm người nào nữa.

Giữa lúc đó, ba sà lan lớn đến gần tàu Contender, chở khoảng ba nghìn người. Một trọng lượng quá sức chứa của tàu. Sà lan thứ nhất cho người lên. Những người Mỹ đứng trên boong trên bắn một tràng đạn trước mũi sà lan thứ hai để cảnh cáo. Một tàu kéo chạy sau sà lan lập tức quay mũi. Trên tàu lấp lánh dưới ánh sáng một đèn chiếu: Oseola, chiếc tàu Mỹ khác!

Khuya rồi mà máy bay từ Đà Nẵng vẫn tiếp tục hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Người Việt Nam và người Mỹ bước xuống đường băng, đầy nước mắt. Nhiều viên chức của chi nhanh quốc tế “cho sự phát triển” và của cơ quan hành chính sứ quán tổ chức một cuộc phân loại. Người Mỹ được phân loại nhanh chóng đi các khách sạn hay những biệt thự công của sứ quán. Nhưng không ai sắp xếp chỗ ăn, ở cho người Việt Nam, phần đông chưa ra khỏi Đà Nẵng, bao (tr.172) giờ. Những cơ sở tiếp nhận họ ở Cam Ranh và vùng đồng bằng chưa chuẩn bị xong.

Đêm ấy, tôi đi lang thang giữa những người Việt Nam. Họ im tiếng, ngồi yên trên nền xi măng, khuỷu tay đặt trên va ly, nhìn đăm đăm, khó chịu. Nhân viên sứ quán và bộ ngoại giao phân phát cho họ nước chè và bánh săng-uých.

Một số nhân viên CIA vừa đi máy bay từ Đà Nẵng đến, cố lấy lại tinh thần bằng cách đến “ba” ở khách sạn Duc. Nhưng chỉ được một lúc, phần đông đi nằm.Một viên chức già khuỵu xuống, khóc trước mặt vợ. Mặc dù không muốn, ông thuật lại quá trình ông đưa bạn bè và cộng tác viên người Việt Nam vượt qua bao nhiêu chuồng sắt đặt ở núi Ngũ Hành để bao vây họ. Đó là kỷ niệm đau buồn nhất của ông trong những ngày cuối cùng ở Việt Nam: sau những chuồng ấy là những khuôn mặt điên dại, những cặp mắt hoảng sợ và những trẻ con khóc hết hơi.

Đến 12 giờ, Custer ở trên tàu Oseola, bình yên, cùng với nhiều đồng nghiệp CIA. Anh đã từ bỏ ý định một mình cứu Đà Nẵng. Anh nằm dài trên boong, nghỉ ngơi. Trong đêm, tiếng đại bác nổ, những tiếng kêu của người hấp hối làm anh không thể nào ngủ được. Từ buồng lái, thuyền trưởng có thể trông rõ ở xa xa, ánh sáng tàu Pioneer Contender. Nhưng nay, ông quyết định không cho tàu mình tới gần nó, nhất là vừa rồi lại có những viên đạn nhằm vào tàu Oseola. Chắc là tàu Contender không muốn cho thêm người lên nữa, nay ông phải tìm cách xa lìa hàng nghìn người tị nạn chất trên sà lan do tàu ông kéo. Một nhân viên CIA, đánh radiô cầu cứu (SOS) tất cả các tàu ở phía Nam biển Đông.

Quá nửa đêm, một quả đạn đại bác nổ sau sở chỉ huy. Quả thứ hai nổ đằng trước mặt. Quả thứ ba, trúng giữa, quả thứ tư, trúng một sà lan giết khoảng trăm người. Những cơ sở của hải quân đặt trên một bán đảo nhỏ, bên ngoài Đà Nẵng, căn cứ cuối cùng của tướng Trưởng, đang bị pháo binh cộng sản bắn phá dữ dội.

Lúc trận pháo kích bắt đầu, Francis đang đi dọc bến, tìm một sà lan máy để ngược dòng sông. Trong lúc hoảng sợ, ông tưởng những tiếng nổ đầu tiên do đạn rốc kết 122 milimét, và ông rất yên trí vì súng rốc kết này bắn thiếu chính xác. chắc cộng sản gặp may nếu họ trúng mục tiêu! Nhưng họ bắn mỗi lúc thêm chính xác, ông hiểu rằng có người chỉ mục tiêu ở gần đâu đây và không phải đạn rốc kết mà là đạn đại bác 105 milimét họ chiếm được của quân Nam Việt Nam. Cùng với hai người bạn người Anh, Francis vắt chân lên cổ chạy xuống bãi biển và những xuống nước. Bơi khỏi tầm súng, họ nghe thấy tiếng máy nổ của một tàu tuần tra ven sông đang từ từ quay lại. Họ bơi đến và lên tàu. Ba người ở cách bờ biển khoảng hơn một nghìn mét.

Họ được chuyển sang một tàu HQ5, tàu tuần tra ven biển. Francis rất bằng lòng thấy binh lính trên tàu có kỷ luật vì có sĩ quan chỉ huy cùng đi với họ. Thuyền trưởng báo cho Francis biết ông phải ở trên tàu cho đến khi xong việc tản cư. Nhờ vậy, thuyền trưởng chắc chắn được người Mỹ giúp đỡ.

Đài radiô tàu HQ5 không thể liên lạc trên sông với các tàu dân sự chạy quanh khu vực ấy. Francis buộc phải đánh một điện về bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam ở Sài Gòn đề nghị chuyển cho những tàu đang tuần tra gần tàu HQ5 biết tin ông. Nhờ đó Custer và các bạn anh mới rõ Francis đã thoát được.

Suốt đêm ấy, những người Mỹ trên tàu Oseola thay nhau gác. Thỉnh thoảng họ phải bắn chỉ thiên để đuổi những tàu đánh cá và cuồng chở đầy người chạy đến gần. Radiô của sứ quán Sài Gòn đều đều ra chỉ thị và động viên họ.

Quá nửa đêm, người trên tàu Oseola thấy ánh đèn tàu Pioneer Contender xa dần. Tàu này chạy đi Cam Ranh. Phải mất 15 giờ mới tới. Có đủ thức ăn trong bếp cho thuỷ thủ, 40 người Mỹ và khoảng một trăm người phương Tây khác nhưng không có gì cho đám đông người Việt Nam đang ở trên boong chính. Ron Howard và các bạn anh dùng một vòi chữa cháy cố phân phối nước cho họ. Nhưng mỗi lần anh cầm lấy vòi thì đằng sau, binh lính Việt Nam lại cắt vòi. Người thầy thuốc duy nhất trên tàu là một ông già di cư, ông đặt trạm xá trong bếp. trên tàu, Howard giúp ông đỡ đẻ cho một phụ nữ Việt Nam sinh con trai.

Sáng 29, trời mưa và rất lạnh. Biển động hơn hôm trước. Lúc trời rạng đông, một nhân viên CIA ở tàu Oseola trèo lên đài quan sát. Anh nhìn rõ nhiều sà lan đang rập rình chung quanh, chở hàng nghìn người, trong đó có nhiều người chết. Xác để lẫn giữa người sống, không thể vất được xuống biển.

Mấy sà lan bị bỏ lại, đang trôi, người đi trên những sà lan này, đã được chuyển lên tàu Pioneer Contender đêm trước. Trên sà lan, đầy rác rưởi. Khi sương tan, nhân viên CIA nhận ra giữa những đống quần áo, hành lý, đồ đạc, không phải là những mẩu gỗ mà là chân, tay con người.

Sáng 20 tháng 3, không rõ giờ nào, tướng Ngô Quang Trưởng, từng được coi là sĩ quan ưu tú nhất của quân đội Nam Việt Nam đang bơi và trôi giữa những con sóng nguy hiểm ở ngoài khơi Đà Nẵng. Ông không phải là người bơi giỏi, người ta phải vớt ông ta đưa lên tàu tuần tra Việt Nam đang đón.

Trưởng ở trên tàu trong những ngày sau đó. Đằng xa, lính còn lại của những sư đoàn mà ông từng tự hào, đang cướp phá, đốt thành phố thứ hai của Nam Việt Nam.

Trong số hai triệu người còn lại ở Đà Nẵng, một trăm nghìn người là binh lính đào ngũ thuộc các sư đoàn thứ nhất, thứ nhì và thứ ba và sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, tất cả đều bị bao vây như đàn chuột. Chúng sẵn sàng phản bội, ăn cướp, giết người để khỏi sa vào vực thẳm và cứu gia đình.

Ở Sài Gòn, Polgar đọc những bản báo cáo “hoạt động ở Quân khu I, với sự lo lắng mỗi lúc một tăng. Đúng ngày lãnh sự quán Đà Nẵng đóng cửa, ngày hôm trước, ông đã ra lệnh một lần cho Custer rời ngay Đà Nẵng về Sài Gòn. Nhưng trưởng chi nhánh Đà Nẵng, quyết chơi trò anh hùng cho đến chót, đã làm như không biết có lệnh ấy. Do đó, lúc này, anh đang ngồi ở cảng Đà Nẵng, từ chối không chịu kéo neo. Sau này, anh nói rằng anh ở lại để góp sức vào việc tản cư những người khác, nhận thêm tin mới và bảo vệ an ninh cho Francis. Nhưng Polgar cho là Custer quá mạo hiểm vô ích và khi ông gọi radiô được cho Custer đang ở trên tàu Oseola, ông báo thẳng anh như thế.

Ngày 29 tháng 3, tổng thống Ford chuẩn bị rời Hoa Thịnh Đốn đi nghỉ lễ Phục sinh ở Palm Springs, California. Ông báo cho Quốc hội biết bốn tàu vận tải của hải quân Mỹ và nhiều tàu đi thuê khác đang tiến về vùng biển Nam Việt Nam để tham gia vào việc tản cư nhân dân những cảng bị bao vây. Daniel Parker, giam đốc chi nhánh quốc tế phát triển chịu trách nhiệm điều hoà công việc đón nhận những người tị nạn, do chi nhánh của ông đài thọ. Bộ Hải quan cũng chi tiền cho việc tản cư.

Ford coi công việc bày hoàn toàn có “tính nhân đạo”. Tàu đậu bên ngoài khu vực có những trận đánh. Ở Sài Gòn, sứ quán cũng đồng thời báo tin tổ chức một cầu hàng không cấp tốc, bằng những máy bay mới chở dụng cụ y tế và thiết bị quân sự từ Mỹ sang.

Không để phí thì giờ, Bắc Việt Nam công khai tố cáo ngay những biện pháp do tổng thống Ford đưa ra, coi đó là một sự vi phạm nghiêm trọng hiệp định Paris. Và họ tăng thêm cường độ bắn phá Đà Nẵng.

Suốt buổi sáng 29, radiô Sài Gòn cố gắng làm yên lòng những người trên tàu Oseola. Tàu của hải quân Nam Việt Nam đến cứu họ. Qua màn mưa, chỉ thấy người tị nạn ở Đà Nẵng xỉu đi.

Nóng ruột, Mel Chatman nói: Tôi phải trở lại để tìm một vài người của tôi. Bạn anh cố khuyên anh đừng đi nhưng Chatman, một nhân viên người da đen của chi nhánh quốc tế phát triển không nghe. Anh bước xuống một xuồng máy đi vào bờ. Mấy giờ sau anh trở ra thất vọng, không đón được ai. Anh nói: “Thành phố rất lộn rộn, tôi không dám bước lên bờ”.

Mel Chatman không phải là người Mỹ duy nhất định trở lại Đà Nẵng buổi sáng ấy. Edward Daly, giám đốc kiên quyết của hãng Hàng không thế giới cũng đến xem tại chỗ. Sứ quán Mỹ suốt đêm trước, đã cô khuyên ông không nên đi, nhưng ông không nghe, nhắc lại rằng: những máy bay của ông là hy vọng cuối cùng của hàng nghìn người tị nạn bị nghẽn lại trong thành phố. Ông bay từ Tân Sơn Nhất lúc bình minh với hai phi cơ 727, ông ngồi trong phi cơ đi trước. Lúc chiếc máy bay này hạ cánh, trên đường băng này đã có hàng nghìn lính vũ trang và dân thường. Khi thang mấy bay hạ xuống. Daly bắn chỉ thiên mấy phát súng để mong chúng ngừng lại nhưng vô ích. Một nhóm vô tuyến truyền hình người anh, vừa đến quay phim, bị chúng xô ngã, dẫm lên. Phải cho một máy bay lên thẳng của hãng Hàng không Mỹ đến cứu họ.

Không đầy mười phút, hơn 270 người, hầu hết là lính (vì chỉ có hai phụ nữ và một trẻ em) đã ngồi đứng chật cả máy bay của Daly. Lúc chiếc máy bay phản lực lớn lăn bánh, một binh sĩ vì không được đi, chạy theo máy bay, ném một quả lựu đạn, làm hỏng sân bay. Quân Bắc Việt Nam nã đạn rốc kết vào đầu đường băng. Chiếc máy bay 727 thứ hai không dám đỗ xuống nữa.

Một nhà báo Mỹ ngồi trên chiếc 727 thứ nhất gọi chuyến bay này là “Thoát khỏi địa ngục”. Hàng chục người còn bám vào cánh máy bay hoặc ở trên đường băng lúc máy bay lăn bánh, do đó nhiều người bị chết hoặc rơi xuống đất khi máy bay cất cánh. Người ta còn tìm thấy nhiều xác chết trong hộp cánh máy bay. Lối đi giữa cabin đầy máu. Chiếc máy bay Mỹ cuối cùng rời Đà Nẵng trong tình thế đó.

Gần trưa, mười máy bay lên thẳng nhỏ Nam Việt Nam bay từ sân bay chính. Trên mỗi chiếc có 20 người lính, tăng gấp đôi sức chở bình thường. Vì sân ở núi Ngũ Hành bị uy hiếp nặng, những máy bay này không thể đổ xuống được. Một người lái không biết Chu Lai đã thất thủ, cho máy bay hạ cánh xuống đấy, anh bị bắt ngay làm tù binh. Trong số chín máy bay còn lại, bốn chiếc bị bắn rơi, một chiếc bay ra một đảo ở phía Đông Nam Đà Nẵng, những chiếc kia mất tích, không còn một dấu vết.

Trên cầu tàu Oseola, Brunson Mc Kinley quan sát những sà lan và tàu đánh cá đậu chung quanh. Anh ước tính số người đi, lên tới mười nghìn, mười nghìn người Việt Nam đủ lứa tuổi, thuộc mọi tầng lớp. Những người khoẻ và những người ốm. Thì giờ trôi qua, số lượng giảm dần; người già và người tàn tật gục xuống vì phải nhịn ăn, vì mưa lạnh trút xuống không thương tiếc. Suốt buổi sáng, những người Mỹ gọi Sài Gòn thả dù nước uống xuống. Họ đã phân phát một lần nước uống cho những người trên sà lan đậu gần bằng vòi chữa cháy nhưng họ vẫn còn cần nước uống nữa.

Sứ quán Sài Gòn ở trong tình trạng rất bối rối. Martin đã ngồi ở phòng làm việc, bảo những nhân viên của chi nhánh quốc tế phát triển (USAID) tìm thực phẩm, nhất là nước uống, đem cho người tị nạn trên tàu. Người phụ trách USAID ở địa phương trả lời ông: mọi việc sẽ làm xong trong bốn hay năm ngày. Martin phản ứng: không phải như thế. Rồi ông quay lại nói với Polgar. Mấy giờ sau, máy bay của hãng Hàng không Mỹ do CIA thuê từ Nha Trang, bay lên phía Bắc, chở đầy thực phẩm và nước uống. Tất nhiên, thực phẩm ấy chỉ dành cho binh lính Nam Việt Nam và những người cộng sự của sứ quán hoặc của CIA.

Buổi tối ngớt mưa. Mc Kinley lên cầu tàu Oseola nhìn về Đà Nẵng lần cuối cùng. Nghe thấy tiếng đạn rốc kết và đạn đại bác nổ. Những ánh lửa đạn xé những đám mây dày đang từ núi bay xuống thành phố. Bỗng chốc, anh chú ý đến một tiếng nổ giống như tiếng súng. Hai tàu nhỏ vừa đâm vào nhau. Một tàu đang bị nguy. Lính trên tàu này định cướp tàu kia nhưng ở đấy cũng có lính. Thế là hai bên bắn nhau. Mc Kinley chứng kiến đầy đủ. Anh có cảm tưởng đứng trước một cuộc chiến đấu giữa những người săn bò tót nhưng anh không thể can thiệp được. Người trên tàu Oseola, không dám xem, ngồi nấp sau be tàu. Tàu nhỏ thứ nhất đắm, một người ở trên đó ném một quả lựu đạn sang tàu nhỏ thứ hai.

Không đầy năm phút, người trên hai tàu nhỏ đều rơi xuống nước. Nhiều người đã chết, nhiều người vật lộn lâu với sóng. Trên cầu tàu kéo, những người Mỹ đang nhìn, sợ hãi và bất lực.

Những sư đoàn quân Bắc Việt Nam của tướng Lê Trọng Tấn lúc này ở cách Đà Nẵng 3 kilômét. Thành phố đã bị bắn phá dữ dội. Mấy giờ trước họ đã chiếm Hội An, cách bờ biển 24 kilômét. Đó là thị xã thứ 13 quân cộng sản chiếm được từ ngày họ mở chiến dịch Đông-Xuân.

Buổi tối hôm ấy, tàu Pioneer Contender, bỏ neo ở Cam Ranh. Một máy bay của hãng Hàng không Mỹ đến đón Ron Howard và những nhân viên CIA khác trở về Sài Gòn. Một giờ sau, lúc họ tới Tân Sơn Nhất, những người lính gác CIA bắt họ đeo súng. Howard tỏ vẻ sung sướng về sự cẩn thận này. Anh nói: Tôi sẽ có cái để trị những viên chức tồi tàn của sứ quán.

Một máy bay của hãng Hàng không Mỹ bay thấp trong bóng tối. Một nhân viên radiô của CIA trên tàu Oseola, hướng dẫn người lái thả hàng xuống. Thùng nước đầu tiên nặng 25 kilôgam vỡ tung đầy mũi tàu. Nhân viên radiô điều chỉnh lại điểm thả. Thùng thứ hai rơi như một hòn đá xuống vọng kiểm soát. Những mảnh plastique vỡ tung, làm bị thương một người Việt Nam và làm gãy cần ăng ten radiô. Người Việt Nam bị thủng hai mắt còn nhân viên radiô của CIA phải mất ba giờ mới làm được ăng ten mới. Trong lúc ấy, Custer và những người khác đẩy những thùng nước xuống biển cho những sà lan và tàu nhỏ đậu đằng sau. Tối muộn hôm ấy, điện radiô của Francis gửi cho họ do Sài Gòn chuyển, báo tin ông đã thoát nạn.

Hôm sau, ngày 30 tháng 3 là ngày chủ nhật, lễ phục sinh. Ở Sài Gòn, Phan Quang Đán, phó thủ tướng chính thức báo tin: quân cộng sản đã chiếm Đà Nẵng. Ở Palm Springs, California, tổng thống Ford tuyên bố: “việc mất thành phố này là một thảm kịch lớn của loài người”.

Trưa ngày 30 tháng 3, nhiều tàu lớn chạy ra vùng biển Quân khu I: tàu Nhật Bản, tàu Việt Nam, tàu Mỹ và nhiều tàu kéo khác, tất cả 20 chiếc. Trong mấy giờ, những tàu này chở hết những thuyền, sà lan, xuồng đậu gần đấy. Một buổi chiều, những tàu tuần tra nhỏ của Nam Việt Nam chạy dưới làn đạn pháo binh cộng sản để cứu những người tị nạn còn chờ trên bãi biển. Quân Bắc Việt Nam tiếp tục nã pháo vào thành phố nhưng không bắn vào những người tị nạn và những tàu tuần tra này. Nhờ đó, khi họ nắm chính quyền, họ dễ được lòng tin.

Trong khi đó, những người ở trên tài Oseola được chuyển sang những tàu Mỹ và buổi chiều thì rời cảng Đà Nẵng. Đến đêm, nhiều tàu, sà lan, tàu kéo hợp thành một đội tàu chở tới 50 nghìn người tị nạn, vượt quá sức chở rất nhiều. Do đó, ngừng việc cho người lên tàu.

Mười hai giờ sau, những tàu chưa chạy đi Cam Ranh chỉ còn có tàu của hải quân Nam Việt Nam. Giữa sự lộn xộn ấy, đô đốc Cang đang ở Sài Gòn, quên không ra lệnh cho họ rút đi. Cuối cùng là Francis lúc ấy ở trên tàu HQ-5 phải đề nghị bằng radiô với tướng Smith ở Sài Gòn nhắc Cang đã đến lúc phải cho hạm đội nhổ neo.

Có rất ít nước và thực phẩm cho các tàu chở người tị nạn. Càng không có trạm cứu thương trong trạm xá. Tất cả những khách trên tàu, dù Mỹ hay Việt Nam đều phải tự xoay sở trong chuyến đi về phía Nam. Một thầy thuốc Việt Nam đỡ bốn em bé vừa ra đời dưới một lều vải trên boong tàu USS Miller. Bốn công dân Mỹ mới. Vì các em sinh trên một tàu Mỹ chạy ở hải phận quốc tế.

Chiều ngày 31, sáu tàu Việt Nam và Mỹ lại quay lại Đà Nẵng để đón người tị nạn. Hôm sau, nhà chức trách Sài Gòn đề nghị Liên hiệp quốc can thiệp với Bắc Việt Nam cho những người tị nạn còn ở lại trong vùng họ kiểm soát, nhận thực phẩm và viện trợ. Nhưng tại Hà Nội, ngày 24 đã báo tin, chính quyền liên hợp đã được thành lập ở Đà Nẵng. Thật ra, tướng Tấn làm chủ tịch và chịu trách nhiệm ổn định lại trật tự. Nhiều viên chức cao cấp của các ngành cảnh sát và hành chính bị bắt. Thông điệp cuối cùng thật ngộ nghĩnh của tổng thống Thiệu trong thảm kịch này là: ông ra lệnh cho tướng Trưởng chiếm một đầu cầu trên một đảo gần bờ biển Quân khu I, để chuẩn bị phản công lấy lại cả quân khu! Trưởng được bữa cười mũi vỡ bụng.

Thất bại ở Quân khu I làm chính phủ thiệt hại rất nặng. Trong số ba triệu dân, không đầy 60 nghìn người chạy thoát phần lớn bằng đường biển. 16 nghìn lính trốn được nhưng bốn sư đoàn trong đó có sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, sư đoàn thiện chíên nhất của Trưởng, không còn là đơn vị chiến đấu nữa.

Lãnh sự quán không có thể làm gì hơn. Mấy tháng sau, Francis phải nhận là trong số năm trăm người Việt Nam giúp việc, không biết có bao nhiêu người tản cư được. Còn Custer công nhận là chỉ có một nữa số năm trăm nhân viên tình báo có tên trong danh sách CIA là chạy thoát với người phụ hoặc không có người phụ việc.

Chính quyền Ford đổ trách nhiệm về thảm hại này là do thiếu ngân sách tài chính cho Việt Nam. Nhưng những kẻ lỗi lầm chính là những viên tướng bất lực, nhất là những tướng của Sài Gòn. Sau khi hứa với Trưởng là không rút nhanh sư đoàn dù, Thiệu đã thay đổi như chong chóng trong một đêm. Không dành cho tên tướng của ông ta thì giờ để tổ chức lại việc phòng thủ; ít nhất hai lần. Thiệu đã thay đổi ý kiến về việc bảo vệ Huế. Ngoài ra, ông còn từ chối không cho nhiều tự lệnh và bạn đồng minh biết dự định của mình, tình hình này không cho phép giải quyết tốt những sự kiện xảy ra.

Thiệu không phải là người duy nhất tỏ ra bất lực trước cuộc khủng hoảng. Ngay sau khi Huế thất thủ, sứ quán Mỹ cũng bất lực trong việc điều khiển các nhân viên ở vùng có chiến sự. Francis tỏ ra hết sức chậm chạp, cứ đinh ninh như đã hứa rằng: quân đội Mỹ sẽ cho máy bay lên thẳng để cứu người tị nạn. Nhất là ông ta quá tin vào sức mạnh hão huyền của quân đội Nam Việt Nam và uy tín mơ hồ của chính quyền Thiệu, những đức tính mà Martin cẩn thận giữ gìn nhằm mục đích ủng hộ chính sách Nam Việt Nam của Kissinger và bảo vệ danh dự nước Mỹ trên phần còn lại của thế giới.

Việc thất thủ Đà Nẵng khẳng định Bắc Việt Nam đã có ý chí giành thắng lợi cuối cùng trước tháng tư. Tướng dũng nhận được lệnh mở ngay cuộc tiến công vào Sài Gòn. Một Ủy viên quan trọng của Bộ Chính trị vào chiến trường để duyệt kế hoạch quân sự. Đó là ông Lê Đức Thọ, người đã ký năm 1973 với Kissinger hiệp định Paris. Lúc chúng tôi viết những trang phóng sự, những chuyện chi tiết về cuộc tản cư ở Đà Nẵng thì quân Bắc Việt Nam tiến trên khắp các mặt trận, vượt qua những vùng đang tập trung người tị nạn. Các nhà chức trách Mỹ đắn đo, tránh né, cuối cùng bỏ rơi một số quan trọng những người Việt Nam giúp việc, mặc cho số phận.

Quân đội Nam Việt Nam tan rã. Số quân bị tiêu diệt trong giai đoạn này của cuộc chiến tranh lên tới 150.000 người. Phương tiện chiến tranh bị phá huỷ hay bị quân địch thu đáng giá một tỷ đôla.

Đầu tháng 4, lúc trận cuối cùng sắp diễn ra, trong một báo cáo gửi Hoa Thịnh Đốn, tôi ước tính quân Nam Việt Nam phải đánh một chọi ba hoặc bốn. Ngày 2 tháng 4, Colby, tổng giám đốc CIA, phải tự viết trong một báo cáo dành cho giới cao cấp nhất ở Hoa Thịnh Đốn: “Cán cân lực lượng ở Nam Việt Nam nghiêng rõ về phía cộng sản. Bạc nhược, thất bại chủ nghĩa đã hoành hành trong quân đội của Thiệu”. Ngày 3 tháng 4 trong một báo cáo mới: “Chúng tôi nghĩ rằng trong mấy tháng nữa, nếu không là mấy tuần nữa, Sài Gòn sẽ sụp đổ về mặt quân sự hay là một chính phủ mới sẽ được thành lập, chính phủ này sẽ chấp nhận giải pháp theo điều kiện của cộng sản”.

oOo

Tổng thống Ngụy quyền Việt gian Nguyễn Văn Thiệu, được ban phân tích CIA soạn xong một tài liệu, viết rằng: “Sự tồn tại của Thiệu được tính từng ngày. Thiệu mất lòng tin của phần lớn sĩ quan. Rất có thể có cuộc đảo chính chống lại ông ta sắp xảy ra, chưa biết chừng” …và kế hoạch phải xây dựng tức thì một mạng lưới tại chỗ để cung cấp cho CIA tin tức về hoạt động của chế độ cộng sản sau khi Việt Nam bị cộng sản chiếm đóng: “….Ở Chi nhánh CIA, bắt đầu nghiên cứu khả năng sử dụng người tị nạn sắp rời Việt Nam để làm tình báo sau này. Những người này sẽ hợp thành những mạng lưới tình báo sống trà trộn với nhân dân sau khi Việt Nam bị cộng sản chiếm đóng. Một tổ chức người tị nạn sẽ được thành lập ở Bangkok nhằm mục đích đo theo mẫu tổ chức của CIA đã thành lập cho những người di cư ở Đông Âu. Ngay ở Việt Nam, một quan chức CIA phụ trách phản gián cho rằng phải xây dựng tức thì một mạng lưới tại chỗ để cung cấp cho CIA tin tức về hoạt động của chế độ cộng sản.”…

TBT Lê Duẩn, toàn Đảng và toàn Dân diệt sạch mạng lưới CIA, từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975 đến 1986, Việt Nam cần an ninh và ổn định để phát triển, cho nên thực hiện chính sách nhân đạo, di dời Ngụy quân Ngụy quyền vào an trí trong các trại Cải tạo Học tập cho đến khi Việt Nam có được an ninh, ngoại giao và giao thương với nhiều quốc gia trên thế giới bất chấp lệnh cấm vận của đế quốc Mỹ…Việt Nam tiến chiếm Cambốt, vì Khmer Đỏ đánh phá biên giới VN và giải phóng nhân dân Cambốt thoát khỏi nạn diệt chủng, cùng với hai lần đại thắng đánh quân xâm lược Tàu Đặng xâm lăng đất nước ta vào năm 1979… nhờ thế nhân dân ta có cuộc sống hòa bình, an lạc, phát triển kinh tế và an ninh nhất thế giới hiện nay…

Cho nên, Dân tộc ta, luôn luôn ghi ơn TBT Lê Duẩn là Thiên tài chính trị, quân sự, trí dũng, nhân hậu,…và kiệt xuất thế kỷ 20 là quyết chí hoàn thành đại nghiệp thống nhất đất nước…TBT Lê Duẩn, học trò chân truyền Bác Hồ, được Bác chuyển giao quyền lực chuyên chính (thanh trừng và quản chế đảng viên chao đảo cách mạng và chủ bại trước vũ lực tàn bạo đế quốc Mỹ cày nát miền Bắc thành thời đồ Đá) lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Nhân dân, nhất trí thống nhất đất nước và nhất định thắng lợi đánh cho Mỹ cút-Diệm Thiệu Ngụy nhào, (Click đọc: TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN và TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN II )

Thật vậy, TBT Lê Duẩn, thiên tài chính trị, quân sự, trí dũng, nhân hậu…Việt Nam cần an ninh và ổn định để phát triển và xuyên thấu ý đồ CIA xây dựng một mạng lưới cài lại và sử dụng người tị nạn sắp rời Việt Nam để làm tình báo sau 1975, tạo niềm tin vui hòa bình hòa hợp và nhân đạo đến cho Ngụy quân – Ngụy quyền và dân chúng miền Nam, để không giết sạch và tắm máu như Khmer Đỏ, là thực hiện chính sách nhân đạo Chính Sách Cải Tạo Học Tập. Hãy nhìn, bọn Ngụy này, chen nhau đem theo vợ hay chồng con đến những địa điểm trình diện và đăng ký ban quân quản địa phương và TP. Saigòn-Gia Định học tập 3 ngày xong và về, vì thế đám tàn quân Ngụy, không nổi loạn trong giao thời cách mạng và kinh tế kiệt tận….Cho nên, bọn Ngụy rất hồ hởi trở lại những địa điểm trình diện để được học tập 10 ngày (cấp úy) hay 2 tuần (cấp tá), và hy vọng được đi học tập sớm về sớm (Click đọc: NGÀY TÀN CỦA NHỮNG \” HÀNG TƯỚNG, HÀNG BINH \” NGỤY ), còn được Đại Tửu lầu Đồng Khánh (Saigòn) khoản đãi Đại tiệc và góp ý về thức ăn có chất lượng như thế nào? ….trước khi, hí hửng tranh nhau lên xe bít bùng về miền Rừng Cải Tạo vào lúc 4 giờ sáng, được mang theo lương khô và vài bộ áo quần cho 10 ngày cấp úy (trưởng ban, trưởng phòng, …xã trưởng = cấp úy) và 2 tuần cấp tá (trưởng ty, quận trưởng, tỉnh trưởng, thứ trưởng,…bộ trưởng = cấp tướng tá) (theo Phạm Cơ, đài VOVN, Houston, ngày 30/4/07, LTHT). Không những thế, hàng chục ngàn Cải tạo viên được thả về sau khi Cải Tạo Học Tập tốt, lại được trắt nghiệm thử thách lần cuối, chiêu dụ vào một số tổ chức Kháng Chiến giả, thế là bắt lại một số Ngụy vẫn còn phản động phản loạn đưa trở lại Cải tạo Học tập và phá vỡ những cơ sở phản lọan như là: nhà thờ Vinh Sơn (quận 10, TP. HCM), dòng Đồng Công (Thủ Đức), khu giáo xứ Trà Cổ (Bà Rịa, Vũng Tàu)…khai quật nhiều hầm chôn dấu vũ khí ở một số nhà thờ ở miền Trung và miền Nam, do những mạng lưới tình báo CIA cài lại và người tỵ nạn sắp rời Việt Nam để làm tình báo…

Không như, ở Cambốt phá vỡ mạng tình báo CIA đặt khắp nước này. Hôm sau, ở Phnôm Pênh và những tỉnh khác, hằng trăm nghìn người dân nhận được lệnh phải đi ngay và sống ở nông thôn. Cuộc di cư bắt buộc này được tiến hành theo kế hoạch làm từ lâu của Khmer đỏ, đã phá vỡ màng lưới tình báo của Mỹ đặt khắp nước này. Mặc dù đã có dự tính đến sự tan rã của xã hội, nhưng cơ quan CIA ở Phnôm Pênh chỉ lấy thành phố, thị xã làm địa bàn hoạt động sau khi người Mỹ ra đi, đặt ở đấy những đài phát thanh tin bí mật và tổ chức ở đây những nhóm tình báo nhỏ. Khi các thành phố và thị xã bị càn quét, mạng lưới bị hoàn toàn phá vỡ, CIA không còn nhận được tin gì ở Campuchia sau chiến tranh. Bằng cách tàn sát trên hai triệu dân Cambốt bởi Khmer Đỏ

Chính sách nhân đạo Chính Sách Cải Tạo Học Tập, đã phá vỡ những âm mưu nổi loạn của bọn phản đông Việt gian Thiên Chúa Giáo La Mã, mộng tưởng toàn quốc nổi loạn vì đói do cấm vận và không có viện trợ Mỹ (Ngụy quyền miền Nam sống nhờ viện trợ Mỹ từ cây kim sợi chỉ, lương công chức quân đội từ Tổng thống đến binh nhì, người phu quét rác…do Mỹ trả, đã được Việt gian Tổng thống Thiệu nói rằng: “Ngày nào Mỹ còn viện trợ, thì chúng ta còn chống Cộng”) và Liên sô-Trung quốc ngưng kinh viện…sẽ cùng với đám tàn quân Ngụy, nếu đang được sống lang thang tự do, hòa bình. hòa hợp, không có việc làm và đói…và chuẩn bị đón Mỹ trở lại như ngày nào năm xưa Bùi Chu, Phát Diệm….đón Pháp 1945.

Cho nên, tên đại Việt gian TGM Nguyễn Văn Bình “khổ nhục kế” vội vàng hiến dâng toàn bộ tài sản GHCG (cơ sở kinh tài trường học, nhà thương và ruộng đất…) cướp đoat của đất nước từ thời thực dân Pháp và đế quốc Mỹ – Diệm Thiệu (hơn cả tài sản ba nước Việt-Miên-Lào, (click đọc: HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT ), để rồi sẽ lấy lại sau khi Mỹ tái chiếm Việt Nam hay Việt Minh Cộng Sản Đảng thành Tan Hoang Việt Minh Cộng Sản Đảng, như Sô Viết Tan Hoang, mà trong mấy năm gần đây, Việt gian GHCGVN thăm dò thử lửa với Đảng ta và Nhà nước ta, nổi loạn đòi lại một số cơ sở hay dùng những tên sư Chống Cộng Cho Chúa (CCCC = Cầm Cu Cho Chúa) Việt gian Quảng Độ, Không Tánh, Hộ Giác…đòi tài sản PG do nhân dân Phật tử dâng cúng, mà sau 1975, Phật tử đem dâng hiến tài sản PG hay nhà nước trưng thâu như các tôn giáo khác cho đất nước quản trị và phát triển lợi ích chung cho toàn dân. (click đọc: TÀ ĐẠO LINH MỤC LƯU MINH HOÀNG DÒNG GIUSE NHA TRANG NỔI LOẠN )

Chính sách nhân đạo Cải Tạo Học Tập và đánh Tư Sản này, Việt Nam tống đuổi 90% người Tàu ra khỏi nước bằng Vượt biên hay di dân qua Trung Quốc và Di dân chừng gần 2 triêu di dân kinh tế hợp pháp có trật tự HO và đoàn tụ gia đình ODP qua Mỹ và Âu Châu. Cái bọn HO (tỵ nạn chính trị giả) và ODP này, ngày nào năm xưa đi xin giấy tờ.chứng nhận từ các cơ quan tổ, phường, quận, tỉnh cuối cùng vào Sở Ngoại Kiều tại đường Nguyễn Du, TP. Hồ Chí Minh, bản chất hèn hạ, nô lệ, thằng bồi, bon chen, khúm núm, quỳ lụy van xin….“quý anh giúp đỡ cho chúng em…nhớ ơn Đảng và các anh đời đời…giúp cho chúng em hoàn tất giấy tờ Mỹ đòi hỏi…chúng em bồi dưỡng vài cây thuốc lá 555 hay tý tiền để quý anh nhậu chơi sau giờ tan sở…”, và lời cuối cùng anh cán bộ chỉ gởi nhắn HO và ODP là “nhớ trở về thăm quê hương”, được một số cơ quan địa phương và nhất là Sở Ngoại Kiều, TP. Hồ Chí Minh thâu hình Video lưu trữ, sẽ trình chiếu trên TV, để lột mặt nạ những tên hèn hạ dơ dáy HO, ODP và trốn quân dịch (Ngụy) đang hò hét chống Việt Nam ở Mỹ, Úc và Âu châu…

nhandanvietnam.org

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: