Cuộc tháo chạy tán loạn – Phần 20

Nút của hoảng loạn

oOo

Có thể tin những bản báo cáo đến mức nào? Không thể biết chắc được. Ngày thứ bảy, 19 tháng 4 trôi qua. Không có cuộc tiến công thẳng vào Sài Gòn. Quân cộng sản tiến chậm. Có thể tin rằng các nhân viên tình báo của chúng tôi nói đúng. Nhưng cuộc tiến công của quân Bắc Việt Nam không phải được hoãn lại. Pháo binh của họ lần đầu tiên bắn phá đảo Phú Quốc, ở đấy có năm mươi nghìn người tị nạn. Hai sư đoàn Bắc Việt Nam đánh Phan Thiết. Đáng sợ nữa là những xe tải chở tên lửa Sam-2 đang từ hướng Đông Bắc tiến về phía Sài Gòn.

Những dấu hiệu chính trị không có gì phấn khởi. Trong buổi họp báo thường kỳ vào sáng thứ bảy hàng tuần, trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Tân Sơn Nhất, đại tá Võ Đông Giang, đã nâng cao giá lên. Ông đòi như trước, tất cả cố vấn Mỹ giả làm dân thường phải rút đi và điều mới là Martin cũng phải ra đi. Ông Giang nói: “Martin có vẻ là một nhà ngoại giao Mỹ nhưng thực tế ông đã điều khiển mạnh mẽ mọi lĩnh vực quân sự, chính trị và kinh tế. Ông ấy phải chịu trách nhiệm về mọi hành động tội ác do chế độ Thiệu gây ra”. Điều đó có phải có nghĩa là ông Giang muốn xoá mọi vết tích về sự có mặt của Mỹ ở Sài Gòn một khi Hà Nội chiến thắng không? Những điều ông Giang nói khá ngoắt ngoéo: “Nếu một nghìn kiều dân Mỹ ở lại thì không có vấn đề gì cả những sự có mặt của một cố vấn Mỹ cũng là một điều vi phạm nghiêm trọng hiệp định Paris!”

Polgar lại hiểu lời ông Giang như sau: Có khả năng duy trì sự có mặt tối thiểu của Mỹ ở Sài Gòn dù tình thế nào xảy ra, đúng như lời Trần Văn Đôn nói với chúng tôi mấy hôm trước đây. Có thể ta vẫn mở ra con đường thương lượng chính trị trật sự.

Tôi viết một bản tường trình bác bỏ luận điểm ấy, nhấn mạnh những điều không rõ ràng của ông Giang nhất là không có sự có đi có lại. Polgar đọc bản trường trình ấy, để ra một bên, không gửi đi đâu cả, kể cả cho đại sứ.

Vả lại, Malcolm Brown, tổng biên tập báo New York Times chẳng đã viết rằng những ý kiến của ông Giang làm cho người ta hiểu là vẫn còn thì giờ để thoả thuận về những điều kiện của cộng sản là gì? Thật ra, không có một sự trùng hợp nào về vấn đề này cả. Trong những ngày qua. Polgar đã cung cấp cho Brown nhiều tin bí mật. Ông lấy Brown làm người tâm sự…Polgar vào phòng tôi, bảo tôi làm tôi bản báo cáo về tình hình quân sự. Ông nói: viết thật đen tối vào, đại sứ sẽ dùng bản báo cáo để thuyết phục Thiệu rút lui. Polgar làm tôi nản biết mấy, đến mức phải mất một lúc tôi mới hiểu ra những điều ông dặn dò.

Tôi không có gì phải thêm vào bản báo cáo: phản ánh đúng sự thật là thấy rõ sự đen tối ngay: với sự sụp đổ của quân đội chính phủ ở Xuân Lộc, và sự tiếp viện của quân đội Bắc Việt Nam ở Quân khu III, cán cân lực lượng ở vùng rộng lớn Sài gòn đã nghiêng hẳn về phía Bắc Việt Nam và Việt cộng. Đó là kết luận bản báo cáo của tôi. Mười lăm ngày nữa thì Sài Gòn sẽ bị bao vây hoàn toàn. Có khả năng trong ba hay bốn tuần nữa sẽ rơi vào tay cộng sản. Tôi định viết: có thể nhanh hơn nữa nhưng Polgar đã ngăn lại.

Sau này, bản báo cáo của tôi gần như trở thành một tài liệu lịch sử nhưng không phải vì những lý do tôi tưởng. Khi Thiệu rời bỏ chính quyền, ông ta để hồ sơ nguyên vẹn. Không ai mất công phá huỷ đi cả. Cộng sản bắt được giấy tờ của Thiệu trong đó có bản báo cáo của tôi. Tướng Dũng thấy thú vị về bản báo cáo ấy, ông đã chép nhiều đoạn, từng chữ một vào hồi ký của ông viết sau chiến tranh.

Tôi đang đánh máy bản báo cáo thì Polgar cùng mấy đồng nghiệp CIA họp kín trong phòng riêng, bàn vấn đề chuyển giao nhanh chính quyền. Phải làm thế nào khi Thiệu rút thì phó tổng thổng Trần Văn Hương lập tức nhường chỗ cho Minh lớn và quốc hội chuẩn y ngay sự thay đổi ấy để mọi việc được tiến hành đúng hiến pháp (như yêu cầu của Martin) và nhanh chóng (như yêu cầu của một số người khác).

Ở sứ quán Pháp, cách đó vài bước, Mérillon và đồng nghiệp cũng dành cả buổi sáng để thu xếp như trên. Mérillon nói với Martin sáng hôm sau đi gặp Thiệu.

Thiệu và giới thân cận không phải là không biết âm mưu lật đổ ông ta. Sáng hôm sau, tổng thống Singapour Lý Quang Diệu gọi dây nói mời Hoàng Đức Nhã, đến ngay. Diệu nói: mọi việc gai góc cần thảo luận. Mấy giờ sau khi Nhã đến Singapour, Diệu cho ông ta biết: nhà chức trách Mỹ đề nghị Singapour và mấy chính phủ ở Đông Nam Á cho Thiệu sống lưu vong. Nhã gọi ngày về Sài Gòn. Thiệu vừa nghe xong trả lời ngay: “Ừ, tôi đã chờ đợi việc đó”.

Trong khi đó, Nhà Trắng tiếp tục đòi giãn cộng đồng người Mỹ và di tản người Việt Nam mà tính mạng dễ bị uy hiếp. Các cơ quan của sứ quán cứ dẫm chân tại chỗ vì những khó khăn hành chính. Những thể lệ mới của cơ quan nhập cư cho phép người Việt Nam ra đi nếu họ được người Mỹ bảo lãnh, gây ra nhiều phiền phức. Một người Mỹ có thể chịu trách nhiệm tới 60 người Việt Nam. Số phận hàng nghìn người phụ thuộc vào một con dấu, một chữ ký, một giấy đi đường. Trước các viên chức đang phân loại người đi, hàng đoàn người xếp hàng dài chờ đợi và những cảnh thất vọng, thương tâm đang diễn ra. Đô đốc Noel Gayler, tổng tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương, đến Sài Gòn nghiên cứu biện pháp di tản. Giữa sứ quán Sài Gòn và Nhà Trắng, các viên chức chửi mắng nhau, gọi nhau là đồ nọ đồ kia qua dây nói. Bên này, bảo bên kia: chính anh đã ấn nút của hoãng loạn! Thật vô cùng lộn xộn!

nhandanvietnam.org

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: