Cuộc tháo chạy tán loạn – Phần 22

Thông tín viên bí mật

oOo

Chủ nhật 20 tháng 4, 24 giờ sau khi Thiệu từ chức, cuộc di tản ồ ạt bắt đầu. Không biết trong cuộc hội kiến vừa qua Martin và Thiệu có thảo luận để xúc tiến công di tản không. Thật ra, không cần thiết, hai người đã nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay phản lực C-141 rời sân bay Tân Sơn Nhất, cách đó 8 kilômét.

Nhịp độ di tản tăng. Từ ngày 4 tháng 4, ngày có cầu hàng không đầu tiên, cầu hàng không Trẻ em, ngày nào bốn máy bay vận tải lớn, cũng bay đi bay lại từ Tân Sơn Nhất đến căn cứ Clark ở Philippines. Mặt khác, sự mềm dẻo của thể lệ nhập cư đã làm tăng lên rất nhiều số người di tản hợp pháp. Việc đó không ngăn cản những chuyến bay lậu tiếp tục cất cánh: những máy bay này không chở những người Việt Nam về chính trị có nhiều vấn đề mà chở bạn bè, thân thuộc của các sĩ quan phái bộ quân sự. Vấn đề duy nhất phải lo là làm thế nào chở những người không có giấy tờ ấy vượt được hàng rào sân bay. Cuối cùng người ta tìm ra mánh khoé: đút lót. Cảnh sát quân sự ở sân bay đã nhận được khoảng 50.000 đôla.

Hồ sơ của CIA là một núi giấy tờ mật, nặng 14 tấn báo cáo, tài liẹu, tiểu sử nhân viên tình báo. Đầu tháng đã huỷ một phần rồi nhưng ban ngày, đại sứ không cho đốt hồ sơ sợ tro ở lò sưởi bay ra làm bẩn xe hòm đỗ ngoài hành lang. Sau thấy cấp bách quá, ông mặc cho đốt cả ngày, đêm. Tiếng kêu của hai lò sưởi đặt trên mái nhà, ngay đầu tôi, làm tôi hết sức khó chịu.

Trong những nhân viên sứ quán được coi là không cần thiết nghĩa là tản cư ngay, có Pat Johnson, nữ cộng tác viên gần gũi nhất của tôi.

Pat giành hai ngày cuối ở Sài Gòn để đi chào người quen. Sau này bà nói với tôi: Sao lại có lúc kỳ lạ thế? Đối với tôi cái gì cũng mờ ảo. Một số bạn Việt Nam cho tôi cảm tưởng là họ không thấy mối nguy hiểm đã đến gần. Sáng thứ bảy, bà gặp một người bạn bình tĩnh tưới hoa trong vườn. lúc bà đến phòng hớt tóc, người chủ ngạc nhiên nói: Ồ, bà còn ở đây à? Bà là người cuối cùng rồi. Tất cả khách hàng người Mỹ của tôi đã ra đi.

Pat buồn rầu khi phải chào từ biệt người đầy tớ già: chị Ba. Chồng chị đã mất, năm con và nhiều cháu chị đều ở trong nhà Pat. Sáng chủ nhật, trước khi đi, Pat xuống bếp ôm hôn chị Ba, đưa cho chị nắm đôla cuối cùng, mọi người đều khóc. Pat có ý định đưa họ đi Mỹ những họ từ chối lấy cớ sống ở đấy không hợp. Ở đây, trà trộn với nhân dân, họ có thể sống được. Cộng sản không thể giết được tất cả mọi người.

Chiều hôm đó, Pat bay đi Bangkok trên một máy bay đặc biệt, chỉ có mấy hành khách. Ban Giám đốc hãng Hàng không Việt Nam tổ chức chuyến bay này để chở vốn của hãng đi: 20 triệu đôla bằng vàng. Pat ngồi giữa đống bao tải bằng vải xám đầy kim loại óng ánh không có gì nguy hiểm. Sau khi thất thủ Sài Gòn, những bao tải ấy biến mất. Chắc chúng đã trốn vào tủ sắt một người di tản nào đó.

Ở Bangkok, Pat đi chơi tối với bạn, khiêu vũ suốt tới sáng. Cuộc vui lạ lùng và giả tạo do căng thẳng đẻ ra. Chiều hôm sau, bà được tin Thiệu từ chức.

Bản chất vốn không kiên trì và dễ xúc động, nên bộ trưởng quốc phòng Schlesinger trở nên cáu kỉnh hơn lúc nào hết. Trong mấy ngày qua, Kissinger và ông tranh luận gây gắt về nhịp độ và tầm quan trọng của việc di tản. Ông nói với một phongphóng viên: cuộc di tản cấp tốc được thực hiện quá chậm nên kế hoạch di tản những người Mỹ bằng cả máy bay dân sự lẫn máy bay quân sự vẫn không kịp với tình hình. Có lẽ phải dùng đến máy bay lên thẳng và lực lượng an ninh lính thuỷ đánh bộ.

Kissinger phản đối. Sáng thứ hai, ông công kích Schlesinger, lên án bộ trưởng quốc phòng quá nặng về bảo vệ uy tín cá nhân nên đã tuyên bố lung tung với các nhà báo. Kissinger nhấn mạnh: mặt khác, cuộc di tản cấp tốc những người Mỹ còn ở lại Sài Gòn sẽ gây hoảng loạn, điều mà Martin rất lo ngại.

Sau đó, Kissinger ra lệnh cho Martin cho di tản càng nhanh càng tốt nhân viên phái bộ quân sự, trước khi phải sử dụng đến máy bay lên thẳng.

Bất bình về cuộc xung đột nổ ra giữa hai bộ trưởng, hai viên chức nhỏ của bộ ngoại giao Lionel Rosenblatt và Craig Johnstone quyết định giúp những người bạn Việt Nam. Họ xin nghỉ hàng năm, mua vé máy bay đi ngay Sài Gòn. Mấy giờ sau khi tướng ngoại giao Habib biết tin này, ông yêu cầu Martin đuổi ngay họ về Mỹ. Nhưng hai viên chức ấy đã kịp chặn điện của Habib lại, đại sứ không nhận được.

Những ngày sau, Rosenblatt và Johnstone làm việc ở khách sạn Caravelie 24 giờ trên 24 giờ. Họ bí mật đưa danh sách những người Việt Nam sang trung tâm phân loại của phái bộ quân sự. Khi họ trở về Mỹ, họ gầy mất mấy ki lô nhưng đã đưa đi di tản được 20 nhân vật Việt Nam quan trọng và gia định những người này, nghĩa là tất cả hai trăm người mà không một ai có dấu xuất cảnh. Đó là những người cộng sự đắc lực của Mỹ đã tham gia việc khủng bố cộng sản.

Thứ hai, 21 tháng 4, đô đốc Gayler cho cầu Hàng không hoạt động suốt 24 giờ, máy bay C141 bay ban ngày, máy bay C-130 bay ban đêm. Thoạt đầu, mỗi máy bay chở một trăm người những sau hạn chế cho mỗi người chỉ được đem theo một vali nên chở được gấp đôi.

Hơn 1500 người Mỹ và Việt Nam, tăng gấp ba lần hôm trước, được di tản đến căn cứ không quân Clark ở Philippines trong 12 giờ. Ở đấy đã có hơn ba nghìn người tị nạn, họ ở trong một làng dựng tạm bằng nhà bạt trên sân chính của căn cứ, người ta gọi làng ấy là làng “vui trên bãi cỏ”.

Cơ quan CIA từ lâu đã đề nghị với Lầu Năm Góc dành riêng cho mình một số máy bay để rải rác ở Tây Thái Bình Dương. Nhưng nay có cầu Hàng không quân sự, chúng tôi nghĩ là không thể lấy được máy bay. Để thay thế, John Pittman đề nghị với Bộ chỉ huy CIA cho phép lấy tất cả những máy bay chở hàng bay đi Đài Loan, Thái Lan, Singapour làm máy bay chở khách đến các nơi ấy. Bộ chỉ huy bác bỏ. Shackley nói: không nước nào chịu nhận những người Việt Nam đã được CIA che chở.

Việc bác bỏ ấy làm chúng tôi bực mình. Một đồng nghiệp liền gọi cho Frank Seotton, phân xã trưởng Hoa Thịnh Đốn, Thông tấn xã Hoa Kỳ, đề nghị Scotton thuyết phục Shackley. Thông tín viên bí mật, một nhân viên quan trọng và có kinh nghiệm ấy nói với Scotton: “Chúng tôi đang ở vào tình thế cực kỳ nguy hiểm, đòi hỏi phải có ngay một cầu hàng không máy bay lên thẳng. Martin thì bất lực, Polgar thì bối rối”. Anh nhờ Scotton nói với các quan chức ở Hoa Thịnh Đốn cố gắng can thiệp. Scotton biết rõ tình hình Sài Gòn lúc bấy giờ liền đến bộ chỉ huy CIA, Colby được nghe chuyện. Ông hỏi căn cước thông tin viên bí mật xem anh ta có đủ tư cách đánh giá tình hình không. Người ta cho ông biết tên. Ông nói: thông tin viên này không biết rõ tình hình chung, không cho máy bay bay ngay!

Thực tế, thông tín viên này biết rõ tình hình như đếm đầu ngón tay. Chính tôi đã nói cho anh rõ tình hình quân sự mấy ngày nay. Với địa vị cao và sự hiểu biết của anh, tôi tin rằng Hoa Thịnh Đốn sẽ đồng ý. Một lần nữa, tôi đã lầm.

Thông tin viên bí mật và tôi không phải là những viên chức CIA duy nhất đề nghị can thiệp. Larry Dows, trùm chi nhánh Cần Thơ, liên tiếp gửi điện cầu cứu cho Sài Gòn, xin máy bay lên thẳng để chở nhân viên người Việt Nam. không ai trả lời anh ta. Bill Johnson, viên chức ở chi nhánh CiA Sài Gòn, bất chấp thể lệ hành chính. Chiều 21 tháng 4, anh và nhiều đồng nghiệp, bí mật hoạt động, làm cho việc di tản đạt kết quả lớn nhất. Đó là việc chuyển đi đài phát thanh tối mật của CIA mà thường được gọi là “ngôi nhà số 7”.

Đài này được thành lập từ sau ngày ngừng bắn do lệnh của Kissinger để tuyên truyền, loại trừ ảnh hưởng của Bắc Việt Nam và Việt cộng. Người ta gọi là đài “radiô xám” cũng được vì nó hoạt động như một đài không cộng sản nhưng không có quan hệ gì với chính phủ. Ở Sài Gòn, Johnson được giao trách nhiệm phụ trách đài. Anh cho làm những studio hiện đại đặt trong những ngôi nhà tồi tàn cũ kỹ ở số 7 đường Hồng Thập Tự – do đó có tên “ngôi nhà số 7” – sau đó còn thiết lập 5 đài nữa, mỗi đài truyền tin trên một làn sóng riêng.

Đài dùng mật mã “bà mẹ Việt Nam” có hiệu quả nhất. Tiếng nói phụ nữ quyến rũ, âm nhạc gợi nhớ quê hương và nhiều tin vui đánh vào lòng binh lính Bắc Việt Nam đang lội trong bùn lầy đồng ruộng làm cho họ nhớ cha mẹ, vợ con…Tin chính trị được nói bằng một giọng tình cảm khơi trong họ ý thức hoà hợp dân tộc, coi trọng gia đình là những đức tính tốt của nhân dân Việt Nam.

Bản thân phát thanh viên cũng có hai mặt, là hai người phụ nữ tiếng nói rất khác nhau. Người có tuổi là Mai Lan có vẻ đẹp kiều diễm, đã học ở Hoa Kỳ, bố là một nhân vật cap cấp trong chính phủ Thiệu. Hoàn toàn âu hoá, chiều chiều, chị làm mê những lòng người nghe bằng những bài hát dân ca nói về đất nước mà chị ít biết.

Đầu tháng tư, Johnson nói với đài số 7 anh sẽ cố gắng bảo đảm an ninh cho họ. Anh đề nghị với Polgar và bộ chỉ huy CIA cho anh chuyển đài ra khỏi Việt Nam tiện hơn cả là sang Thái Lan nhưng Shackley và polgar không nghe.

Johnson không nản lòng. Anh xin được phép chuyển mọi người ra đảo Phú Quốc, ngoài biển. Đêm 24 tháng 4, hai máy bay C-46 và C-47 hãng Hàng không Mỹ bắt đầu di chuyển. Bốn ngày sau, 144 nhân viên người Việt Nam giúp việc ở ngôi nhà số 7 và gia đình họ tổng cộng một nghìn người, bình yên vô sự thoát khỏi Sài Gòn. Ngày cuối cùng cuộc chiến tranh, một trăm nghìn người tị nạn ở Phú Quốc biểu tình. Một đại diện của đài phát thanh bị giết chết. Những nhân viên khác được tàu Pioneer Challenger chở đi đảo Guam. Johnson phải “khóc” một người nhưng đã giữ được lời hứa với tất cả nhân viên!

Ngày 22 tháng 4, tôi viết vào sổ tay: “Bắt đầu sắp xếp hành lý. Một việc đáng buồn. Sẽ mất hết. Vì có việc riêng, tôi đi gặp polgar. Nhân viên hậu cần bảo tôi có gì thì để cả ra giữa phòng ấy. Người ta sẽ đóng gói cho anh. Sứ quán cũng trở thành con ốc rỗng. Hàng lang đầy gói, dọc đường xếp chật hòm. Hàng trăm người Việt Nam, ngồi trên ghế vải gấp, trước lãnh sự quán chờ giấy tờ hoặc xin dấu xuất cảnh.

Cả những người giàu có, tầng lớp đã âu hoá cũng đánh nhau để dành một chỗ trong những chuyến bay chở người tị nạn. Một số đông chưa hề bán mình cho chúng tôi ngày nào, nay cũng sẵn sàng làm việc đó để được ra đi. Một tin đăng trên tờ Sài Gòn Post hôm nay: “nữ sinh viên trẻ, đẹp, 18 tuổi, đổ tú tài, biết chơi dương cầm, con một gia đình khá giả, muốn làm con nuôi hoặc kết hơn với một người nước ngoài quốc tịch Mỹ, Pháp, Anh, Đức hay nước nào khác có thể đưa cô ra sống ở nước ngoài để tiếp tục học tập. Tiền phí tổn cô chịu…”

24 giờ sau khi Thiệu từ chức, nhịp độ di tản tăng gấp đôi. Thứ ba, ngày 22, hơn ba nghìn người rời Sài Gòn nhờ phái bộ quân sự can thiệp. Như vậy từ đầu tháng đến nay đã có hơn mười nghìn người. Mỗi giờ có hai máy bay chở hàng Mỹ cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất.

Hoa Thịnh Đốn lại giảm nhẹ thể lệ nhập cảnh một lần nữa để tăng nhịp độ di tản: Ngày 22 tháng 4, theo đề nghị khẩn cấp của Kisinger, thượng nghị viện đã thông ưua luật bãi bỏ những trở ngại cho 130.000 người nước ngoài từ Đông Dương sang vào nước Mỹ, trong số này có 50.000 người tính mạng bị uy hiếp. Bộ Tư pháp cho áp dụng ngay luật này. Đó là sự nhượng bộ lớn của quốc hội và cơ quan nhập cư. Bình thường, mỗi năm chỉ cấp cho một nước 20.000 hộ chiếu. Trước đây đã có một trường hợp rông rãi như trên; đó là vào đầu thập kỷ 60, cho phép 60.000 người di tản Cuba vào Mỹ sau thất bại ở vịnh Con heo.

Ở trung tâm phân loại của phái bộ quân sự, việc giảm nhẹ thể lệ không thay đổi gì tình hình vì luật và thể lệ đã được thay bằng sự linh động rồi. Do đó, sau khi Thiệu từ chức, thiết quân luật bắt đầu từ 8 giờ tối, các viên chức phụ trách di tản quyết định để cho những người tị nạn ngủ lại ở nhà phụ và họ làm việc suốt 24 giờ.

Căn nhà để phân loại bỗng chốc giống như một hội chợ lúc đóng cửa. Một người kể lại: “Nóng ghê gớm. Lúc mọi người ở lại phải chú ý mọi cái. Hành lý vất lung tung phòng vệ sinh bị đóng cửa. Nhiều người Việt Nam bị ốm vì sợ. chúng tôi phải lấy rào chắn không cho đi lại”.

Chịu trách nhiệm về sự lộn xộn ấy là Moorefield, một viên chức phụ trách hoạt động di tản, đúng ra là vì anh quá rộng lượng. Anh giải thích, tôi phải tìm mọi cách giúp đỡ hàng đống người bị bỏ lại. Đáng lẽ viên chức cơ quan thông tin Mỹ đi với nhân viên các hãng tin tư nhân nhưng có điều gì đó không ổn, họ phải ở lại. Nhân viên tổ chức World Vision và nhiều tổ chức từ thiện khác mắc kẹt ở phái bộ quân sự, không có ai che chở ngoài một người Việt Nam. Nhân viên nhiều công ty Mỹ cũng thế. Họ đến phòng làm việc của tôi đưa cho tôi một tài liệu vu vơ và nói: người ta hứa giúp chúng tôi. Đúng, họ xứng đáng được giúp đỡ nên tôi không có cách nào khác là tạo điều kiện cho họ đi.

Lại còn vấn đề dở khóc là vấn đề tỷ lệ, chỉ tiêu nữa. Nhiều người đã giữ chỗ từ trước. Chúng tôi không còn biết còn bao nhiêu chỗ sau khi những kẻ ở phái bộ quân sự và sứ quán gửi những giấy đặc biệt vào!

Cứ 20 phút tôi lại gọi dây nói cho sứ quán xin ý kiến. Nhưng rõ ràng không ai kiểm soát được việc gì nữa. Lúc đó, tôi bắt đầu làm theo ý riêng. Khi Rosenblatt hoặc một nhân viên CIA nào dẫn một người Việt Nam đến nói rằng người này ở lại sẽ nguy hiểm thế là tôi đóng dấu cho đi. Không hỏi thêm điều gì nữa.

Viên chức bậc thấp người Việt Nam được Moorefield sử dụng cũng trở thành vấn đề. Anh kể lại: Thỉnh thoảng tôi ngẩng đầu lên, tôi thấy một người đã thu xếp xong hành lý và đi rồi. Sau này tôi mới biết nhiều người trong bọn họ chuồn đi với những cặp giấy thông hành, đem ra chợ bán theo giá chợ đen, đắt kinh khủng.

Chiều thứ ba, 22 tháng 4, đám người tị nạn ở căn cứ không quân Clark ở Philippines tràn qua khu vực đón tiếp như nước vỡ bờ. Ở Hoa Thịnh Đốn, lực lượng can thiệp đã dự kiến tình hình di tản, vội báo cho chính quyền ở đảo Guam chuẩn bị đón mỗi ngày năm nghìn người tị nạn, sẵn sàng cho họ ăn, ở trong 90 ngày. Chỉ mấy giờ sau, những người tị nạn đã được đưa đến căn cứ không quân Anderson ở Guam, được ở trong những baraque bằng kim loại gọi là thành phố đồ hộp. Phi công Mỹ lái máy bay B-52 trước kia cũng ở đây khi đảo này là bậc nhảy của những đoàn máy bay đi ném bom ở Bắc Việt Nam.

Thoạt tiên, các viên chức cơ quan nhập cư ở Guam và Clark áp dụng triệt để luật pháp. Giấy tờ của người tị nạn được kiểm tra, kiểm soát cẩn thận đề phòng lầm lẫn và giấy giả. Tội phạm hình sự, gái điếm, người nghiện cần sa đều được vạch mặt và cho cách ly. Nhưng chỉ một, hai ngày sau, số người tị nạn quá đông, không còn kiểm soát, kiểm tra được gì nữa. Nếu làm việc cẩn thận như cũ thì các viên chức cơ quan nhập cư sẽ gây ách tắc và ngăn cản cầu hàng không hoạt động. Cũng như Moorefield và nhiều người khác ở Sài Gòn lúc đầu, họ cố làm hết sức mình để công việc chạy.

Từ ngày 21/4/75 cho đến ngày 28/4/75, có biết bao nhiêu những diễn biến…Tổng thống Ford tuyên bố, trong một bài diễn văn tại trường đại học Tulane…chiến tranh Đông Dương đã chấm dưt…và quan thái thú Martin nhấn mạnh::

“…Nhà Trắng cố dập tắt những lời công kích ấy bằng cách hứa một lần nữa, sẽ rút cộng đồng người Mỹ xuống còn 1.500 người trong mấy ngày tới. Lầu Năm Góc cho biết hạm đội di tản sẽ được tăng cường để có một cầu hàng không lớn máy bay lên thẳng sẵn sàng phục vụ. Những điều đó chưa làm quốc hội vừa lòng. Nhiều nghị sĩ phê phán chính phủ muốn nhảy vào một cuộc chiến tranh mới. Phía Bắc Việt Nam cũng bất bình. Đài phát thanh Hà Nội cảnh cáo: “Thái độ ấy có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm”. Trong một bài diễn văn đọc chiều thứ tư ở Trường đại học Tulane, tổng thống Ford (tr.272) cố đánh tan những điều lo ngại ấy. Ông tuyên bố: đối với Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh Đông Dương đã chấm dứt, ông đề nghị đất nước thôi không lao vào những cuộc đấu tranh, tranh cãi như trước….

Martin chấp hành lệnh của Kissinger rất nghiêm chỉnh và tin rằng.nhân viên của ông cũng làm như thế. Khi Polgar xin phép đi mua một số nghị sĩ Sài Gòn để mau chóng đưa Minh lên cầm quyền thì Martin không muốn nghe nói nữa. Ông nhấn mạnh: Người Nam Việt Nam phải quyết định lấy số phận của họ theo cách của họ, không có sự can thiệp của người Mỹ!….

Thế mà ông Hương vẫn còn tham vọng mơ màng như được làm quốc trưởng thật, nên đã tố Thiệu đã trốn tránh trách nhiệm. nay trách nhiệm thuộc về ông, để ông ta thương thảo với Cộng sản thật là ngây thơ chính trị.

“Còn Hương, khốn khổ cho anh chàng giữ nhà ấy, vẫn có tham vọng đóng vai quốc trưởng, mà ông tưởng làm quốc tưởng thật. Hương nói với đại sứ Pháp Merillon: Thiệu đã trốn tránh trách nhiệm. Nay trách nhiệm thuộc về tôi. Để tỏ rõ quyền lực của mình, Hương ra lệnh gỡ những băng và áp phích chống cộng trong thành phố…

Sáng thứ năm 24 tháng 4, Hương còn lợi dụng cả sự thất trận để nêu cao đạo đức hoà bình của mình. Ông nói với Viên ra lệnh cho quân đội chỉ phòng thủ thôi để tỏ rõ cho cộng sản biết chủ trương hòa bình thật sự của Sài Gòn.

Hôm trước, chỉ mấy giờ sau khi Thiệu từ chức, tướng Toàn, tư lệnh Quân khu III còn gợi ý đề nghị máy bay B-52 của Mỹ ném một trận bom cuối cùng Viên đã gạt bỏ ý kiến ấy do nhiều nguyên nhân biển nhiên. Khác với Toàn, ông biết không còn máy bay (tr.274) B-52 nữa. Nhưng gợi ý làm hắn nghĩ đến những trận ném bom hồi trước. Được sự giúp đỡ của kỹ thuật viên phái bộ quân sự Mỹ, phi công Nam Việt Nam đã lắp vào máy bay một loại bom đặc biệt do Von Marbod và Weyand đưa sang hồi đầu tháng: đó là một vũ khí đáng sợ: bom CBU-55.

Vũ khí ấy gây khủng khiếp chiều thứ ba. Một máy bay C-130, mang theo bom CBU-55 cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất hay về Xuân Lộc, ném xuống bên ngoài một thị trấn cộng sản vừa chiếm được. Thiệt hại nằng nề. Hơn 250 lính Bắc Việt Nam biến thành tro bụi hoặc bị chết ngạt vì thiếu không khí lúc bom nổ. Đài phát thanh Hà Nội lập tức lên án Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là đồ man rợ, ném bom vi trùng!….

Không những thế tên sáu Thiệu vẫn còn mơ tưởng sẽ giành lai quyền lực và nếu ra đi phải có diễn tuồng nghi lễ long trọng và oai nghi trống giọng…

“…Từ ngày từ chức (ngày 21 tháng 4), Thiệu để thì giờ đi bách bộ trong nhà của ông ta ở bờ sông. Ông ta nghiền ngẫm một cuộc trả thù và mơ tưởng đến việc giành lại địa vị trước kia. Vợ ông ta, quá sợ hãi, không còn chịu được cảnh thất thế này. Sáng thứ năm, bà ta đi Bangkok trên một chuyến bay thương mại. Em họ của Thiệu. Đại sứ của Sài Gòn ở Đài Loan trở về mước khuyên anh sớm ra đi. Nhưng Thiệu chưa nghe. Ông ta nghĩ rằng ông ta còn giữ một vai trò gì đó ở đây. Ông ta nói với em họ là Hoàng Đức Nhã: “Nếu tôi phải ra đi, tôi sẽ đi với đoàn tuỳ tùng có trống giong cờ mở!”

Nhưng đâu ngờ, Sáu Thiệu và Khiêm lại trốn chạy nhục nhã vô cùng như thế…Thiệu ngồi xe tôi, ở ghế đằng sau. giữa Timmes và một người Việt Nam. Timmes khuyên ông ta: tổng thống ngồi thấp xuống để được yên ổn… Ông ta cố nén không khóc. Tiếp đó ông ta rời xe, bước lên cầu thang máy bay. Khiêm và đoàn tuỳ tùng Thiệu đi sau, tay xách va li, vai đeo máy ảnh, xắc và quan thái thú Martin, tiễn “em Thiệu” đi chưa bao giờ buồn thế, chỉ có lời “chào tạm biệt…và tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng, được tướng Smith mô tả: “Đó là một con người sung sướng. Khi ông đến phái bộ quân sự, ông xử sự như đồ con nít. Ông không giấu được vui vẻ mừng khi ông đổi binh phục lấy những quần áo thường…cho chúng ta thấy bọn Việt gian này chiến bại là phải và đáng thương

“…17 giờ ngày 25 tháng 4, Polgar gọi tôi đến phòng làm việc. Ở đấy, đã có Joe Kingsley, tướng Timmes và một nhân viên CIA nữa. Polgar nhỏ nhẻ hỏi chúng tôi: Ban đêm, các anh có dám ra ngoài phố không? Chúng tôi đều gật đầu. Riêng tôi, tôi không chắc có thuộc hết các ngõ ngách và những cái hẽm do người Pháp xây dựng không, những dù sao…Polgar tiếp tục nói: “Thế thì tốt. Tôi đề nghị các anh tối nay, giúp tôi cho Thiệu và Khiêm đi Đài Loan. Đó là một ân huệ đối với các anh, đồng thời là một phần thưởng vì các anh đã làm việc rất tốt”….

….Mấy lính khác chơi bài. Phần đông tỏ ra không để ý gì đến việc đi lại của bọn “mũ cao áo dài” này. Có tiếng súng nổ ở phía sân bay. Đài radio trong một xe báo cho chúng tôi biết: hai lính Nam Việt Nam cáu kỉnh đã bắn súng ở đây: “Không thiệt hại gì, nay tình hình yên tĩnh. Đúng lúc đó, một xe Mercedes xám đỗ trên đường. Một người tầm thước, tóc bạc, chải lật ra sau gáy, mặt bôi kem, quần áo xám chỉnh tề, bước xuống đất. Trong bóng tối, Nguyễn Văn Thiệu giống một người mặc quần áo mẫu (tr.283) quảng cáo trong một tạp chí là một cựu nguyên thủ quốc gia. Ông ta không thèm nhìn chúng tôi!

Mấy phút sau, mấy người lực lượng, mỗi người xách một vali nặng, đi đến chỗ chúng tôi, bảo chúng tôi mở cửa xe, để tự họ xếp va ly vào. Khi họ để va li xuống, có tiếng kim loại va vào nhau.

Tiếp đó Thiệu, Khiêm, Polgar và Timmes, theo sau có nhiều nhân vật cao cấp Nam Việt Nam, bước ra cửa tiến nhanh vào xe hơi. Thiệu ngồi xe tôi, ở ghế đằng sau. giữa Timmes và một người Việt Nam. Timmes khuyên ông ta: tổng thống ngồi thấp xuống để được yên ổn….

Timmes hỏi: “Phu nhân và tiểu thư có khoẻ không ạ?” Thiệu trả lời: – Nhà tôi và cháu đi Luân Đôn mua ít đồ cổ. Tôi nhìn rõ mặt cựu tổng thống qua tấm kính xe, mắt sáng dưới ánh đèn ngoài đường, mùi rượu Scoth thoáng bay trong xe có máy điều hòa không khí.

Đến gần cổng vào sân bay Tân Sơn Nhất, đèn pha xe hơi rọi thẳng một lúc vào bức tường do người Việt Nam dựng để tưởng nhớ những người Mỹ chết trong chiến tranh. Trên bức tượng có dòng chữ: “Chúng tôi không bao giờ quên sự hy sinh cao cả những người lính đồng minh”. Thiệu thở dài khá to và quay mặt đi. Một lần nữa Timmes nhắc Thiệu ngồi thấp xuống….

Một máy bay bốn động cơ C-118 của không quân Mỹ đậu gần đấy. Lính thủy Mỹ mặc thường phục đứng gác và đi theo đại sứ Martin, dàn hàng ngang bên cạnh máy bay. Đại sứ chờ ở chân cầu thang.

Khi Polgar mở cửa sau xe tôi, Thiệu cúi xuống vỗ vào vai tôi, nói giọng khàn khàn: “Cảm ơn”. Ông ta chìa tay ra, giữ tay tôi một lúc. Ông ta cố nén không khóc. Tiếp đó ông ta rời xe, bước lên cầu thang máy bay. Khiêm và đoàn tuỳ tùng Thiệu đi sau, tay xách va li, vai đeo máy ảnh, xắc…

Sau này, Martin thuật lại: “Tôi chỉ chào tạm biệt ông ta. Không có cấu nói lịch sự nào. Chỉ một lời tạm biệt”…..

Trong khi đó, ở cổng sau sứ quán, nhiều xe của chính phủ Nam Việt Nam đến. Một viên tướng, một đại tá, một nhân vật chính trị từ xe chui ra. gật đầu chào lính gác rồi chạy vào thang máy. Họ ra đi. Từ sáng sớm, những máy bay lên thẳng của không quân Mỹ không ngừng đỗ xuống mái nhà, bay đi chở theo giới thượng lưu Sài Gòn đến sân bay Tân Sơn Nhất. Ở đấy máy bay Mỹ đã chờ họ.

Sáng ấy, người khách quan trọng nhất là tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng. Ông đến sứ quán, chào lính gác (tr.296), nhân viên bộ ngoại giao đang mở cửa cầu thang. Ông tiến vào – cửa đóng. Chuyến “du lịch” cuối cùng của ông bắt đầu. Sau này tướng Smith nói: “Đó là một con người sung sướng. Khi ông đến phái bộ quân sự, ông xử sự như đồ con nít. Ông không giấu được vui vẻ mừng khi ông đổi binh phục lấy những quần áo thường. Một máy bay lên thẳng chở Viên ra tàu của Hải quân đận ngoài khơi. Còn tổng thống Hương, ông ta thuyên chuyển một số người chỉ huy quân đội, thực tế quân đội không còn tư lệnh nữa. Điều đó không ngăn cản các tướng, nhất là Quang và Kỳ, cấu xé nhau….

Timmes hỏi Minh nghĩ gì về tương lai. Ông ta mỉm cười và nói: còn khả năng thương lượng, vả lại Sài Gòn, Tây Ninh và vùng đồng bằng vẫn thuộc về ta. Timmes hỏi lại: Nếu những nơi ấy mất thì ông tính sao? Sứ quán sẵn sàng giúp ông, dành cho ông chỗ tạm trú. Minh một lần nữa lại mỉm cười, lắc đầu: “Người Việt Nam là nhân dân của tôi, tôi (tr.299) không muốn đi”. Tuy nhiên, Minh cũng đề nghị giúp các cháu và con gái ông ta, vợ một viên đại tá, di tản….”

nhandanvietnam.org

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: