Cuộc tháo chạy tán loạn – Phần 24

Một người lái xe cơ cỡ

oOo

Sáng 25 tháng 4, đài phát thanh Sài gòn dựng đứng lên một tin giật gân: có người bị ám sát ở Hà Nội v.v…Tưởng rằng có thể đánh lừa được mọi người nhưng ai cũng biết đó chỉ là chiến tranh tâm lý. Nhà chức trách Sài gòn tung tin này để hòng lung lạc tinh thần quân đội Bắc Việt Nam đang ở cửa ngõ thủ đô.

Phần lớn người Sài Gòn đều thấy đó là một tin ngớ ngẩn. Họ không buòn mở đài để nghe thêm chi tiết nữa. Quân Bắc Việt Nam cũng không hề xúc động. Chỉ có những nhà báo Mỹ là những người nghe và tin rằng này có thật. Trong buổi sáng, tôi nhận được không biết bao nhiêu cú điện thoại của các nhà báo quen thuộc hỏi lại tin trên. Tôi trả lời: đó là trò đùa tồi của Sài Gòn.

Hôm ấy, tôi viết vào sổ tay: “Thành phố là một lò than”. Người ta chiếu cuốn phim mới nhất của John Wayne trong một rạp rỗng không ở giữa thành phố. Không ai còn cần có cảm xúc mạnh trong lúc sự thật đã quá căng thẳng.

Như thường lệ, tiền là thước đo tinh thần. Ngoài chợ đen, một đô-la trị giá năm nghìn đồng. Hôm qua, hôm kia có ba nghìn. Ít con gái ra đường. Theo một anh bạn nhà báo, những cô gái xinh của “ba” Mimi sáng nay đã đưa hành lý lên một xe Chevrolet. Một người Mỹ tháo vát đã tìm cách đưa họ lên tàu “Chim tự do”.

Ở sứ quán, một tình bạn giả tạo nẩy nở giữa chúng tôi là những người được coi là “cần thiết” phải ở lại. Có những đồng nghiệp chưa hề nói chuyện với nhau nay trở thành bạn tri kỷ. Họ ăn sáng (rất nhanh) với nhau và kể cho nhau nghe những chuyện về nguồn gốc xã hội của đại sứ, thái độ của ông và về kế hoạch của cộng sản. Tình thân hữu ấy lúc này rõ ràng là một nhu cầu chung. Con sen, người đầu bếp, em bé đánh giầy đều vắng cả, chẳng có ai giúp chúng tôi làm những việc lặt vặt. Phải sát cánh lại với nhau. Vợ một viên chức bộ ngoại giao (một phụ nữ duy nhất còn lại) nhận nấu ăn cho chúng tôi trong khách sạn ở đằng sau sứ quán, người quản lý nhà tôi ở, cũng nhờ được bà hàng xóm rủ mâý người đến làm cơm cho chúng tôi.

Mặc dù Tư Hà đã ra đi, tôi vẫn xoay sở được. Tuy nhiên, một cô thư ký nhắc tôi: quần áo và sơ mi của anh bẩn rồi đấy! Tôi tiếp tục cố gắng cung cấp tin cho bạn bè và đồng nghiệp. Tôi tự bảo phải nắm được tin chứ không được bịa ra. Hôm nọ, Eva Kim bảo tôi, mỗi khi trông thấy tôi vào phòng đại sứ với bản báo cáo trong tay, tim chị lại đập thình thình!

Tôi có cảm giác đi khắp mọi nơi, từ phòng đại sứ sang phòng Polgar, trở về phòng tôi. Tôi nghiên cứu, phân tích tình hình rất nhanh. Qua những tin mỗi lúc một nghèo nàn, tôi tìm xem có hy vọng mỏng mạnh nào không. Polgar vẫn cho rằng các đài phát thanh Hà Nội và Giải phóng sẽ phản ảnh thái độ tốt của kẻ thù. Do đó, cứ mỗi giờ tôi lại sang phòng nghe đài của CIA để lấy những bản dịch tin mới nhất.

Sáng thứ sáu, được tin Hoa Thịnh Đốn đồng ý để cho 130 nghìn người tị nạn vào Hoa Kỳ. Mấy giờ sau, lính dù Việt Nam định vượt hàng rào dây thép gai rai rải chung quanh nới phân loại người đi của phái bộ quân sự…Một tiểu đội lính thủy sẵn sàng bảo vệ ngôi nhà. Sau này tướng Smith nói: nếu có những người làm cho lính Việt Nam kiêng nể thì đó là những người lính thủy.

Từ ngày từ chức (ngày 21 tháng 4), Thiệu để thì giờ đi bách bộ trong nhà của ông ta ở bờ sông. Ông ta nghiền ngẫm một cuộc trả thù và mơ tưởng đến việc giành lại địa vị trước kia. Vợ ông ta, quá sợ hãi, không còn chịu được cảnh thất thế này. Sáng thứ năm, bà ta đi Bangkok trên một chuyến bay thương mại. Em họ của Thiệu. Đại sứ của Sài Gòn ở Đài Loan trở về mước khuyên anh sớm ra đi. Nhưng Thiệu chưa nghe. Ông ta nghĩ rằng ông ta còn giữ một vai trò gì đó ở đây. Ông ta nói với em họ là Hoàng Đức Nhã: “Nếu tôi phải ra đi, tôi sẽ đi với đoàn tuỳ tùng có trống giong cờ mở!”

Thiệu, vốn thường kín đáo, ít nói, nay có vẻ cảm động. Ông ta nói với Nhã: Em là người duy nhất còn ở lại bên anh, mặc dù anh đã làm hại em, cách chức và đuổi em đi!

Nhã tìm cách an ủi Thiệu. Ông ta nói với Thiệu: “Anh cứ coi tôi như Cambroune, viên tướng trung thành với Napoléon ở ngoài đảo Elbe”

Hương, người kế vị Thiệu, không dám giục Thiệu di tản, sợ bè phái Thiệu sẽ trả thù. Hương nói với Martin làm việc đó. Đại sứ cũng không thích thú làm việc này. Cho đến nay, ông vẫn làm cho người ta tưởng rằng sứ quán không can thiệp vào việc Thiệu từ chức. Ông không muốn làm thay đổi nhận định ấy.

Nhưng có một yếu tố phải tính đến. Minh lớn cho rằng sự có mặt của Thiệu ở Sài Gòn vẫn là một trở ngại lớn cho hoạt động của ông ta. Minh đề nghị Timmes, cơ quan CIA, giải quyết giúp việc này. Điều đó làm vừa lòng Martin.

17 giờ ngày 25 tháng 4, Polgar gọi tôi đến phòng làm việc. Ở đấy, đã có Joe Kingsley, tướng Timmes và một nhân viên CIA nữa. Polgar nhỏ nhẻ hỏi chúng tôi: Ban đêm, các anh có dám ra ngoài phố không? Chúng tôi đều gật đầu. Riêng tôi, tôi không chắc có thuộc hết các ngõ ngách và những cái hẽm do người Pháp xây dựng không, những dù sao…Polgar tiếp tục nói: “Thế thì tốt. Tôi đề nghị các anh tối nay, giúp tôi cho Thiệu và Khiêm đi Đài Loan. Đó là một ân huệ đối với các anh, đồng thời là một phần thưởng vì các anh đã làm việc rất tốt”.

Thật ra, Polgar mới chỉ biết “phần thưởng” này cách đây mấy giờ. Trước đó, Martin định giao cho Phái bộ quân sự thu xếp mọi việc, kể từ việc tổ chức một chuyến bay đặc biệt cất cánh từ cuối đường băng Tân Sơn Nhất. Đến phút cuối cùng, ông lại giao cho CIA.

Khoảng 20 giờ 30 phút, bốn người chúng tôi đi ba xe đến bộ tổng tư lệnh Nam Việt Nam ở Tân Sơn Nhất, Khiêm ở trong khu vực này. Joe và tôi giấu vũ khí dưới chỗ ngồi. Chúng tôi không thể không tính đến việc diễn lại cuộc ám sát anh em Diệm trước đây. Chúng tôi định kế hoạch như sau: có những sĩ quan trẻ ngăn chúng tôi lại trên đường đi, ra lệnh cho chúng tôi xuống xe và bắt chúng tôi. Tức thì chúng tôi nổ súng!

Quá 21 giờ, Polgar đến nhà Khiêm, trong một xe riêng có lái xe lái. Ông đến uống rượu với Khiêm và Timmes. Chúng tôi đứng đợi ngoài sân. Kingsley và tôi, để giết thì giờ, hai đứa nói chuyện với những người lính gác Việt Nam. Mấy lính khác chơi bài. Phần đông tỏ ra không để ý gì đến việc đi lại của bọn “mũ cao áo dài” này. Có tiếng súng nổ ở phía sân bay. Đài radio trong một xe báo cho chúng tôi biết: hai lính Nam Việt Nam cáu kỉnh đã bắn súng ở đây: “Không thiệt hại gì, nay tình hình yên tĩnh. Đúng lúc đó, một xe Mercedes xám đỗ trên đường. Một người tầm thước, tóc bạc, chải lật ra sau gáy, mặt bôi kem, quần áo xám chỉnh tề, bước xuống đất. Trong bóng tối, Nguyễn Văn Thiệu giống một người mặc quần áo mẫu quảng cáo trong một tạp chí là một cựu nguyên thủ quốc gia. Ông ta không thèm nhìn chúng tôi!

Mấy phút sau, mấy người lực lượng, mỗi người xách một vali nặng, đi đến chỗ chúng tôi, bảo chúng tôi mở cửa xe, để tự họ xếp va ly vào. Khi họ để va li xuống, có tiếng kim loại va vào nhau.

Tiếp đó Thiệu, Khiêm, Polgar và Timmes, theo sau có nhiều nhân vật cao cấp Nam Việt Nam, bước ra cửa tiến nhanh vào xe hơi. Thiệu ngồi xe tôi, ở ghế đằng sau. giữa Timmes và một người Việt Nam. Timmes khuyên ông ta: tổng thống ngồi thấp xuống để được yên ổn.

Chuyến đi chỉ có mấy phút nhưng tôi thấy rất dài. Timmes nói với Thiệu những chuyện không đâu, về quá khứ. Họ quen nhau năm 1961 trong một cuộc lửa trại ngoài Quân khu I. Trong những năm sau. Timmes thường cho Thiệu biết sự tiến triển của việc bình định “thưa tổng thống, đó là một thành tựu lớn của chúng ta”. Có một lúc Timmes giới thiệu tôi với Thiệu như một người nhận định tin có tài ở sứ quán, một người lái xe “có cỡ”! Mọi người bất đắc dĩ cười. Tiếp đó, Thiệu nói tiếng Anh pha giọng Pháp, cho rằng tất cả những lái xe ở Sài Gòn đều có cỡ những xấu nhất, hay xấu hơn cả những kẻ điên ở Bangkok.

Timmes hỏi: “Phu nhân và tiểu thư có khoẻ không ạ?” Thiệu trả lời: – Nhà tôi và cháu đi Luân Đôn mua ít đồ cổ. Tôi nhìn rõ mặt cựu tổng thống qua tấm kính xe, mắt sáng dưới ánh đèn ngoài đường, mùi rượu Scoth thoáng bay trong xe có máy điều hòa không khí.

Đến gần cổng vào sân bay Tân Sơn Nhất, đèn pha xe hơi rọi thẳng một lúc vào bức tường do người Việt Nam dựng để tưởng nhớ những người Mỹ chết trong chiến tranh. Trên bức tượng có dòng chữ: “Chúng tôi không bao giờ quên sự hy sinh cao cả những người lính đồng minh”. Thiệu thở dài khá to và quay mặt đi. Một lần nữa Timmes nhắc Thiệu ngồi thấp xuống. Bình thường, cơ quan an ninh Việt Nam đứng gác ở sân bay không chú ý đến xe của sứ quán Mỹ. Nhưng quá 21 giờ 30 rồi, quá giờ thiết quân luật hơn một tiếng. Những người gác có thể ngăn xe lại. Trời ơi may quá, họ không làm gì cả.

Đoàn người đi qua đường băng. Người lái xe trước tắt đèn. Tôi cũng làm theo. Trong một lúc tôi thấy dài ghê, tôi không trông thấy gì cả. Chiếc xe Chevrolet đồ sộ của tôi chạy một mình trong đêm tối. Sau tôi mới quen dần. Chợt tôi trông thấy Polgar chạy qua đường băng, cách tôi mấy mét. Tôi vội hãm phanh. Bánh xe kêu ken két. Xe dừng lại. Thiệu và người ngồi xe tôi bị xô vào ghế trước. Những xe sau vội quay ngang, quay dọc bao vây lấy xe tôi: một cảnh trong phim trinh thám Polgar chạy đến vẫy tay và mở cửa xe cho Thiệu.

Một máy bay bốn động cơ C-118 của không quân Mỹ đậu gần đấy. Lính thủy Mỹ mặc thường phục đứng gác và đi theo đại sứ Martin, dàn hàng ngang bên cạnh máy bay. Đại sứ chờ ở chân cầu thang.

Khi Polgar mở cửa sau xe tôi, Thiệu cúi xuống vỗ vào vai tôi, nói giọng khàn khàn: “Cảm ơn”. Ông ta chìa tay ra, giữ tay tôi một lúc. Ông ta cố nén không khóc. Tiếp đó ông ta rời xe, bước lên cầu thang máy bay. Khiêm và đoàn tuỳ tùng Thiệu đi sau, tay xách va li, vai đeo máy ảnh, xắc…

Sau này, Martin thuật lại: “Tôi chỉ chào tạm biệt ông ta. Không có cấu nói lịch sự nào. Chỉ một lời tạm biệt”.

Đối với tôi cũng nhe đối với Joe Kingsley, ngay mấy từ ấy cũng dài lê thê. Bên ngoài, trên đường băng, chúng tôi cáu kỉnh nhìn chu vi của sân bay. Polgar và Martin mãi mới trở lại, đầu cúi gầm. Máy bay nổ máy. Lúc đại sứ từ bậc cuối cùng của cầu thang bước xuống ông quay lại, vịn vào thành cầu thang như muốn giữ lại mối liên hệ với quá khứ. Tôi kêu lên: “Thưa đại sứ, tôi có thể giúp đại sứ việc gì?”

Martin đứng lại. Ông đăm đăm nhìn tôi. Ông thở. Lúc ấy với đôi kính gọng bầu dục, màu da, đại sứ thật giống một ma quái ăn mặc chỉnh tề hơn là một nhà ngoại giao vừa vĩnh biệt dấu vết cuối cùng của ba mươi năm thực hiện một chính sách tồi tệ.

nhandanvietnam.org

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: