ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 11

Thần tốc

Nếu bản thân hoạt động chiến tranh đã là sự đấu tranh quyết liệt, một mất một còn thì trận quyết chiến chiến lược cuối cùng bao giờ cũng là đỉnh cao của sự đọ sức giữa hai bên và là sự nỗ lực tột cùng của hai bên từ sự chỉ đạo đến hoạt động thực tiễn.

Sáng ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị họp nghe Quân uỷ Trung ương báo cáo tình hình phát triển các cuộc tiến công của quân ta trong ba tuần qua, đặc biệt trong máy ngày gần đây. Bộ Chính trị nhất trí nhận định rằng: tiếp theo thắng lợi của ta ở Khu 9 và miền Đông Nam Bộ giải phóng tỉnh Phước Long, với thắng lợí to lớn trên chiến trường Tây Nguyên, cuộc tổng tiến công chiến lược của ta thực tế đã bắt đầu và trong một thời gian rất ngắn đã giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn.

Chúng ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 35% sinh lực địch, lần đầu tiên diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 2 quân đoàn địch, hơn 40% các binh khí kỹ thuật hiện đại của chúng bị mất; ta thu và phá hơn 40% cơ sở vật chất và hậu cần của quân nguỵ, giải phóng 12 tỉnh, đưa tổng số nhân dân vùng giải phóng lên gần 8 triệu.

Điều đáng chú ý là trong trận Đà Nẵng đã xuất hiện rõ nét những nhân tố kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, trong tình hình nhân dân căm phẫn địch cao độ, chỉ chờ cơ hội vùng dậy. Phần lớn sĩ quan và binh lính địch mất hẳn tinh thần chiến đấu. Vì thế, trong hơn 30 giờ kể từ khi nổ súng, với một lực lượng ít hơn địch nhiều, quân và dân ta kịp thời táo bạo tiêu diệt căn cứ quân sự liên hợp lớn vào bậc nhất của nguỵ ở miền Nam.

Lực lượng vũ trang của ta lớn mạnh vượt bậc trong chiến đấu, bộ đội hy sinh và bị thương rất ít so với thắng lợi đã giành được, vũ khí, đạn dược tiêu hao không đáng kể. Kinh nghiệm về tổ chức chiến đấu và chỉ huy tác chiến phong phú thêm. Ta thu được của địch một khối lượng rất lớn vũ khí và đạn dược. Về thế chiến lược và lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức mạnh áp đảo quân địch.

Quyền chủ động chiến lược hoàn toàn nằm trong tay quân và dân ta, còn địch thì bị động, lúng túng, thậm chí bế tắc trầm trọng từ chiến lược đến chiến thuật, tinh thần chúng hoang mang dao động. Mỹ tỏ ra hoàn toàn bất lực, dù có tăng thêm viện trợ cũng không thể cứu vãn được sự sụp đổ đến nơi của bọn nguỵ.

Do đó, cuộc họp Bộ Chính trị ngày 31 tháng 3 kết luận:

“Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc.

Cách mạng nước ta đang phát triển sôi nổi nhất với nhịp độ một ngày bằng 20 năm. Vì vậy Bộ Chính trị quyết định nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược, với tư tưởng chỉ đạo “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất; tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm.

Chắc thắng và bất ngờ hiện nay chủ yếu là khâu tranh thủ thời gian, tiến công địch vào lúc chúng đã hoang mang, suy sụp, tập trung lực lượng hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trong từng lúc, trên từng hướng.

Cần nắm vững nội dung chiến lược của ta là phát huy sức mạnh của ba đòn chiến lược, kết hợp tiến công và nổi dậy, từ ngoài đánh vào và từ trong đánh ra, trên mỗi hướng và từng lúc đều phải tập trung lực lượng áp đảo quân địch, nhanh chóng tạo nên thuận lợi mới và nhanh chóng lợi dụng thời cơ mà dồn dập phát triển thắng lợi.

Cần gấp rút tăng thêm lực lượng ở hướng tây Sài Gòn.

Nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ chia cắt và bao vây chiến lược từ phía tây, áp sát Sài Gòn, triệt hẳn đường số 4, đồng thời nhanh chóng tập trung lực lượng phía đông, đánh chiếm những mục tiêu quan trọng, thực hiện bao vây cô lập hoàn toàn Sài Gòn từ Bà Rịa, Ô Cấp. Sẵn sàng có nắm đấm thật mạnh của chủ lực, kể cả binh khí kỹ thuật để lúc thời cơ xuất hiện thì tức khắc đánh thẳng vào những mục tiêu hiểm yếu và quan trọng nhất ở ngay trung tâm thành phố Sài Gòn”.

Nhìn vào tình hình thực tế lúc đó, ai cũng thấy nổi lên hai đặc điểm lớn gần như mâu thuẫn nhau. Đó là sự khẩn trương cao độ của thời cơ chiến lược mới và yêu cầu phải chuẩn bị một lực lượng mạnh về nhiều mặt cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng với một quy mô lớn, trên một địa bàn rộng, theo một cách đánh mới mẻ, độc đáo.

Nếu đặc điểm thứ nhất đòi hỏi chúng ta phải hoàn thành việc chuẩn bị trong thời gian càng ngắn càng tốt thì đặc điểm thứ hai lại đòi hỏi một thời gian cần thiết tương đối dài mới đáp ứng cả về khối lượng và về chất lượng trên các mặt.

Trong khi đó Mỹ – nguỵ cũng tìm mọi cách lợi dụng tình hình để hòng ngăn cản ta, buộc ta phải kéo dài thời gian chuẩn bị lực lượng đánh vào Sài Gòn – Gia Định.

Bộ Chính trị quyết định tập trung chỉ đạo, tập trung lực lượng để giành thắng lợi trong trận quyết chiến lịch sử này. Các quân khu, các địa phương và các cấp chính quyền trong cả nước được lệnh dành ưu tiên số 1 cho mọi nhu cầu của chiến trường trọng điểm. Các cơ quan của Bộ Tổng tư lệnh ngày đêm làm việc, vừa chỉ đạo tốt việc tiếp quản các vùng mới giải phóng, vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược này.

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta dốc sức biến quyết tâm chiến lược mới của Bộ Chính trị thành hiện thực.

Từ đầu tháng 4-1975, trên tất cả các nẻo đường đất nước – đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt, đường không, nhân dân ta sống những ngày hết sức sôi động, nhộn nhịp.

Cả một dân tộc trẩy hội trong mùa Xuân lịch sử. Cả một dân tộc ra quân với khẩu hiệu: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Quân đi như nước chảy, xe chạy gần như chỉ có một chiều: tiến về phía Nam. Từ miền Bắc, các loại xe ngày đêm hối hả, nối đuôi nhau vượt cung, vượt trạm đưa người và hàng ra tiền tuyến. Vào Đông Hà, một cánh rẽ lên Đông và Tây Trường Sơn, một cánh theo đường số 1 tiến thẳng vào Nam, qua Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, theo bước tiến quân của các đơn vị phía trước.

Trên đường Trường Sơn đất đỏ, bụi mù, mùa khô còn lại ngắn ngủi, các dòng xe liên tục đổ về Nam, qua Đức Lập, Bù Gia Mập, xuống Đồng Xoài, Lộc Ninh rồi toả vào các cánh rừng cao su Dầu Tiếng, vào chiến khu Đ, men theo bờ sông Sài Gòn, sông Bé, sông Vàm Cỏ Đông.

Lần đầu tiên nhìn thấy dòng thác bộ đội cách mạng chảy qua quê hương mình cả ngày lẫn đêm, thấy bộ đội ta trẻ, khỏe, tươi vui, thấy những cỗ pháo lớn, những dàn tên lửa phòng không, những đoàn xe tăng, xe bọc thép, pháo cao xạ, các xe cầu thuyền, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên dọc đường số 14 vừa được giải phóng rất vui mừng và không giấu được sự ngạc nhiên. Do việc tuyên truyền xuyên tạc, lừa bịp từ lâu của Mỹ-nguỵ, đồng bào trước đây không thể hình dung được bộ đội Cụ Hồ lại có nhiều xe, nhiều pháo đến thế và những chiến sĩ bộ đội trẻ đẹp, hiền hậu, tươi vui như vậy. Thấy xe chở những quả đạn tên lửa chạy qua, đồng bào gọi là “máy bay tháo cánh”.

Hàng trăm, hàng nghìn xe nối đuôi nhau chạy cả đêm lẫn ngày. Có những đoạn đường bụi mù, nhìn nhau không rõ, xe phải bật đèn pha và bóp còi liên tục, bụi cuốn kéo dài, không kịp lắng xuống đường, lượn khúc qua những cánh rừng rậm Tây Nguyên, qua những vùng đồi cỏ xanh rờn ở Bu Prăng, luồn qua các rừng nứa ở Bù Gia Mập.

Trên một đỉnh đèo, nơi gặp nhau giữa hai đường Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây, đồng chí Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng, cùng các cán bộ của công binh, vận tải, quân cảnh ngày đêm đôn đốc các đơn vị hành quân theo đúng đường, đúng thời gian quy định, giải quyết nhanh chóng các trường hợp ùn xe, tắc đường và quyết định dành đường đi ưu tiên cho từng đơn vị, cho từng loại xe, từng binh chủng. Đồng chí cùng với số cán bộ nói trên làm việc mấy tuần liền như thế, bên tấm biển chữ lớn “Thần tốc, thần tốc, táo bạo, táo bạo nữa” để kéo, đẩy và lái đoàn xe hàng chục nghìn chiếc chở hàng trăm nghìn tấn hàng và hàng nghìn khí tài khác nhau vào chiến trường cho kịp kế hoạch, cố làm xong trước khi mùa mưa đổ xuống Tây Nguyên.

Có những chiến sĩ lái xe không biết đấy là đồng chí Phùng Thế Tài nhưng thấy một đồng chí rất tận tuỵ, kiên quyết, nghiêm khắc nhắc nhở, đôn đốc những lúc xe bị tắc, bị ùn đã đặt một câu vè để dặn nhau:

Nè, gặp ông thần tốc,
Đang đốc hành quân
Thì phải nhanh chân
Không thì gay đấy,

Và cũng từ đó, đồng chí được các chiến sĩ ngoài mặt trận gọi là “ông thần tốc”, “ông đốc hành quân”. Trên đường số 1, không những chỉ có xe quân sự của ta và xe ta lấy được của địch mà có cả xe chở khách, xe chở hàng của Nhà nước và của nhân dân được huy động từ miền Bắc vào và từ những tỉnh, thành phố vừa được giải phóng.

Để kịp phục vụ cho chiến trường sẽ được giải phóng sau cùng của cả nước, Quân khu 5 tổ chức một đoàn xe đặc biệt, chở thẳng vào Nam Bộ những thứ súng đạn cần thiết nhất mà Khu 5 vừa thu được của địch và những thứ của bộ đội ta mà Khu chưa dùng hết khi giải phóng Đà Nẵng và các tỉnh phía Nam. Đoàn xe này do đồng chí Thiếu tướng Võ Thứ, Phó Tư lệnh Quân khu 5, trực tiếp chỉ huy chạy từ đồng bằng Quân khu lên Tây Nguyên rồi đi xuống miền Đông Nam Bộ.

Các sân bay Gia Lâm, Vĩnh Phú, Đồng Hới, Phú Bài, Đà Nẵng, Kon Tum nhộn nhịp khác thường. Các loại máy bay lên thẳng nặng, nhẹ, các loại máy bay vận tải và cả máy bay chở khách đặc biệt của ta đều được huy động, không những để chở người, chở đạn, chở vũ khí, chở sách, báo, phim ảnh, tranh vẽ, bản nhạc, mà còn chở hàng tấn bản đồ Sài Gòn – Gia Định vừa mới in xong ở Xưởng đồ bản Bộ Tổng Tham mưu ta tại Hà Nội.

Các bến sông Hồng, sông Gianh, sông Mã, sông Hàn, các cảng Hải Phòng, Cửa Hội, Thuận An, Đà Nẵng cũng ngày đêm nhộn nhịp. Các mặt hàng được bốc xếp kịp thời để các đoàn tàu vận tải của Bộ Giao thông vận tải và tàu của Hải quân nhân dân đưa vào phía trong, nối dài đường biển qua các cảng vừa được giải phóng như Quy Nhơn, Cam Ranh.

Phải có bằng ấy con đường và phương tiện mới đủ sức vận chuyển thần tốc ra mặt trận một số lượng quân đội và vật chất lớn chưa từng có của cách mạng nước ta.

Tất cả sự chịu đựng gian khổ, chắt chiu, tần tảo của nhân dân ta, tất cả sự kiên nhẫn chuẩn bị lực lượng của chúng ta trong nhiều năm như muôn nghìn dòng suối nhỏ hôm nay dồn thành những dòng thác lớn ào ào đổ tới cuốn phăng đi những dinh luỹ cuối cùng của chủ nghĩa thực dân mới trên đất nước ta.

Chàng Phù Đổng Việt Nam vươn vai đứng dậy trong năm 1975 có sức mạnh lay trời chuyển đất, và nhảy lên mình ngựa là phi nước đại thần tốc ngay vì hiểu rằng thời cơ là quý giá, thời gian là sức mạnh.

Bộ Tổng Tham mưu nắm chắc kế hoạch hành động và lực lượng của chiến trường nhưng cũng nắm chắc tình hình từng kho đạn đặt trong cả nước, chỉ đạo chặt chẽ và đôn đốc ráo riết việc chuyển nhanh các loại đạn đáp ứng kịp thời và đầy đủ mọi yêu cầu của các cánh quân trên Mặt trận Sài Gòn, nhất là đưa đủ đạn cho Quân đoàn 1 và cho Đoàn 232 gồm những sư đoàn và trung đoàn độc lập của Miền và Quân khu 8 hợp lại do đồng chí Trung tướng Tư lệnh Lê Đức Anh và đồng chí Thiếu tướng Chính uỷ Lê Văn Tưởng (Lê Chân) chỉ huy. Lúc bấy giờ vấn đề đạn pháo, đạn ĐKZ, đạn cối và đạn cao xạ là mối quan tâm lớn của toàn Mặt trận.

Bộ đội công binh và nhân dân Nam Bộ sừa chữa và mở rộng gấp các đoạn đường Đồng Xoài, Cây Gáo, Bến Bầu, sửa chữa cầu Nha Bích, ngầm Mã Đà, ngầm Bến Bầu, chuẩn bị các đường cơ động cho pháo binh di chuyển áp sát vào Sài Gòn và các đường cơ động cho các lực lượng bộ binh cơ giới thọc sâu vào trung tâm thành phố.

Ngày 25 tháng 3, Quân đoàn 1 do đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Hoà, Tư lệnh, và đồng chí Thiếu tướng Hoàng Minh Thi, Chính uỷ chỉ huy đang đắp đê ở Ninh Bình thì được lệnh hành quân bằng cơ giới thẩn tốc vào Nam tham gia chiến đấu. Quân đoàn vượt đường số 9, theo các đường số 12, số 15, số 14, qua Pleiku, Buôn Ma Thuột, vượt 1.700km, cuối trung tuần tháng 4 đã đặt chân tới Nam Bộ.

Quân đoàn 2 do đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh, đồng chí Thiếu tướng Lê Linh, Chính uỷ, chỉ huy, sau khi giải phóng Đà Nẵng bắt đầu hành quân thần tốc theo đường ven biển vào Đông Nam Bộ. Trên chặng đường đài 900km có nhiều cầu bị phá, riêng quãng Đà Nẵng – Quảng Ngãi có tới sáu cầu sập, lại phải đánh địch ở Phan Rang, Phan Thiết trên đường đi vào, mà lệnh trên định rõ trong 18 ngày quân đoàn phải có mặt ở Biên Hoà, Bà Rịa. Tổ chức cho 2.000 xe của quân đoàn vượt qua sáu con sông lớn, chưa kể phải đánh địch trên đường đi, là cả một công tác tổ chức, chỉ huy phức tạp. Năm 1962, Sư đoàn 308 diễn tập chỉ có 400 xe đã thấy ùn trên đường không đi nổi.

Quân đoàn 2 tổ chức thành từng khối hành quân: công binh đi trước gặp cầu đường hỏng là chữa ngay, xe tăng đi tiếp theo có địch là đánh liền. Mỗi khối hành quân có một trung đoàn pháo cao xạ bảo vệ, bộ binh và pháo binh đi sau. Quân đoàn mang theo một số lượng gạo và thực phẩm đủ ăn trong một tháng và một cơ số đạn đến nơi có thể đánh ngay. Bộ Tổng tư lệnh đã cử các đồng chí Trung tướng Lê Trọng Tấn, Trung tướng Lê Quang Hoà và nhiều cán bộ khác của Bộ đi trước quân đoàn để cùng các địa phương dọc đường nghiên cứu chiến trường và chuẩn bị việc tiếp tế xăng dầu, bổ sung gạo, muối, thực phẩm, cho quân đoàn. Bên đường, nhiều cụ già, nhiều bà mẹ, nhiều cháu thiếu nhi đứng chờ từ lâu đưa nước chè, trái dừa, tấm mía ra tặng bộ đội. Nhưng bộ đội với khẩu hiệu “Thần tốc, táo bạo” dán trên mũ, trên xe, không thể dừng lại một phút để nói chuyện với đồng bào, chỉ kịp vẫy tay, mải miết tiến nhanh ra mặt trận.

Ngày 13 tháng 4, Quân đoàn tới sát Phan Rang, nơi địch đang hò hét “tử thủ”.

Ngày 14 tháng 4, Sư đoàn bộ binh 3 thuộc Quân khu 5 được tăng cường Trung đoàn bộ binh 25 Tây Nguyên nổ súng đánh Phan Rang, cụm phòng thủ tiền tiêu của Quân đoàn 3 nguỵ.

Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, quân ta mới chiếm được một số đìểm ngoại vi. Địch dùng máy bay oanh tạc dữ dội, và dựa vào các vị trí chuẩn bị sẵn chống cự quyết liệt.

Trước tình hình đó, các đồng chí Lê Trọng Tấn và Lê Quang Hoà chỉ huy cánh quân “Duyên Hải” quyết định sử dụng một bộ phận lực lượng Quân đoàn 2 tiến vào chiến đấu để tăng thêm sức đột kích. Thiếu tướng Nam Long, Phó Giám đốc Học viện quân sự cùng một số cán bộ tham mưu chính trị hậu cần của Bộ Tổng tư lệnh cũng được tăng cường cho Bộ chỉ huy cánh quân này.

Rạng ngày 16 tháng 4, dưới sự chi viện mạnh mẽ của hoả lực pháo binh, một lực lượng của Sư đoàn 325 thuộc Quân đoàn 2 được tăng cường xe tăng, thiết giáp cùng với Sư đoàn 3 và Trung đoàn 25 từ ba hướng tiến công vào trung tâm thị xã Phan Rang và sân bay Thành Sơn.

Trước sự uy hiếp nặng nề của pháo binh ta và lối đánh thọc sâu táo bạo của các đơn vị thiết giáp kết hợp bộ binh, quân địch hoảng loạn và bỏ chạy.

Kết quả là ta đã tiêu diệt bộ tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh, tiêu diệt Lữ 2 dù, Liên đoàn 31 biệt động quân và 1 trung đoàn của Sư đoàn 2 mới khôi phục, bắt tên Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 8 và tên Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân nguỵ cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác của chúng, thu gần 40 máy bay còn nguyên.

Địch phát hiện Quân đoân 2 tiến vào Nam theo đường số 1. Chúng tìm mọi cách ngăn chặn. Hết tốp máy bay này đến tốp máy bay khác của chúng đến ném bom xuống đường hành quân của Quân đoàn. Tàu chiến địch từ ngoài biển bắn vào, một đại đội biệt kích địch từ biển đổ bộ vào quận Tuy Phong, phía bắc Phan Thiết. Lập tức bộ binh Quân đoàn 2 và trinh sát lùng quét, chỉ hai giờ sau tóm gọn bọn này. Pháo binh Quân đoàn hạ càng pháo bên đường, hướng nòng pháo ra biển bắn cháy tàu chiến địch.

Pháo cao xạ ta đánh trả quyết liệt máy bay địch. Quân đoàn thừa thắng phối hợp với các đơn vị bộ đội Khu 6 tiến đánh Phan Thiết và đánh tiếp giải phóng luôn Hàm Tân.

Chúng tôi rời Tây Nguyên lên đường vào Đông Nam Bộ từ trưa ngày 2-4-1975. Trước đó tôi đến thăm Sư đoàn 316 họp với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn.

Đồng chí Đại tá Đàm Văn Nguỵ, Anh hùng lực lượng vũ trang. Sư đoàn trưởng, hôm đó đi kiểm tra bộ đội. Đồng chí Thượng tá Hà Quốc Toản, Chính uỷ và đồng chí Thượng tá Hải Bằng, Phó Tư lệnh Sư đoàn, báo cáo tình hình các mặt đã chuẩn bị để đi làm nhiệm vụ mới. Sư đoàn này sẽ lên đường trước cùng với một bộ phận chỉ huy nhẹ của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3. Nghe các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn báo cáo tình hình và gặp trực tiếp các đơn vị, nhìn các thứ trang bị của Sư đoàn, thấy đơn vị đã lớn mạnh nhanh chóng, tôi rất yên tâm và chỉ thị một số việc phải làm gấp trước ngày hành quân. Cũng ở Sư đoàn này trước khi bước vào Chiến dịch Tây Nguyên, có anh em lo lắng: Chiến trường mới lạ, lần đầu đánh hiệp đồng binh chủng lớn với nhiều loại vũ khí hiện đại, đánh vào một thị xã to, v.v… không biết liệu đánh có được không. Thực tế chứng minh rằng Sư đoàn đã đánh được và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Hôm nay, chuẩn bị lên đường vào Đông Nam Bộ, cả Sư đoàn có khí thế sục sôi, quyết tâm cao, có niềm tin chắc thắng, có đầy đủ các thứ vũ khí cần thiết và đã trưởng thành một bước khá mau.

Đường hành quân của Sư đoàn 316 là từ Buôn Ma Thuột theo đường số 14 vào phía tây bắc Sài Gòn.

Sư đoàn 320 do đồng chí Đại tá Kim Tuấn, Sư đoàn trưởng, và đồng chí Thượng tá Bùi Huy Bổng, Chính uỷ, chỉ huy sau khi giải phóng Tuy Hoà và toàn tỉnh Phú Yên được lệnh quay trở lại đường số 7 rồi cũng theo đường số 14 vào Đông Nam Bộ.

Riêng đối với Sư đoàn 10, dưới sự chỉ huy của Sư đoàn trưởng Thượng tá Hồ Đệ và Chính uỷ Thượng tá Lã Ngọc Châu, đường hành quân vào Nam Bộ hết sức gian khổ.

Sau khi giải phóng đèo Phượng Hoàng, Mơ Đrắc, tiến đánh Nha Trang, Cam Ranh, Sư đoàn đi theo con đường liên tỉnh số 2, vào đường số 20 để rồi cùng đi vào tây bắc Sài Gòn. Đường xấu, một đơn vị công binh phải đi trước chữa đường, làm cầu khá vất vả. Trong khi đó địch phát hiện sự di chuyển của Sư đoàn 10. Chúng tìm mọi cách ngăn chặn. Máy bay địch ném bom ác liệt suốt dọc đường, pháo địch ở tàu chiến bắn lên ngăn chặn. Sư đoàn 10 vừa đi vừa đánh mở đường.

Đồng chí Đinh Đức Thiện ngày đêm bận vào việc tổ chức hậu cần phục vụ Quân đoàn 3 hành quân và đặc biệt là bảo đảm cho chiến dịch mới. Đồng chí mặc bộ quần áo bà ba đi kiểm tra đôn đốc các kho, các đơn vị. Vào một bãi để xe ở gần Đức Lập, thấy hai người lái xe ăn mặc không chỉnh tề đang sửa xe, đồng chí hỏi:

– Này, các cậu thuộc đơn vị nào? Bộ đội chiến thắng mà ăn mặc nhố nhăng, mất tư thế như vậy, hả?

Hai người lái xe trả lời:

– Thưa anh, chúng em là tù binh đây ạ!

Lúc này, trên toàn mặt trận, ở khắp các đơn vị, bộ đội chúng ta đã dùng nhiều người trước đây ở trong quân đội nguỵ để lái và sửa các loại xe. Các chiến sĩ ta đã tranh thủ nghiên cứu, tìm tòi và học sử dụng các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ.

Trong đội hình hành quân của ta bắt đầu xen lẫn những xe bọc thép M. 113, xe tăng M. 48, M. 41, những khẩu pháo 105, 155 milimét, những máy thông tin chiến thuật PRC 25 của Mỹ. Đặc biệt là những máy bay chiến đấu A.37, F.5 lấy được của địch đã được các đồng chí lái máy bay chiến đấu của ta chuyển sang tập sử dụng. Khả năng ta lấy của địch đánh địch chưa bao giờ phong phú và giàu có như trong chiến dịch này. Khả lăng to lớn ấy làm cho hoả lực của ta càng áp đảo địch một cách ghê gớm và cũng làm cho tốc độ tiến công của ta càng cao.

Đường vào Đông Nam Bộ sau chiến thắng Tây Nguyên có nhiều thay đổi so với trước. Có thể đi theo đường số 14, qua Buôn Ma Thuột, Đức Lập, Bu Prăng, Bù Gia Mập đến Lộc Ninh. Đoạn từ Bu Prăng, Bù Gia Mập khá tốt, xe các loại đều chạy được, gọi là đường số 14 A.

Sau khi giải phóng thị xã Gia Nghĩa, toàn tỉnh Quảng Đức, xe các loại có thể đi từ Đức Lập qua Kiến Đức xuống Đôn Luân gặp đường số 13 ở Chơn Thành. Từ Buôn Ma Thuột về đến Lộc Ninh, xe nhỏ chạy chỉ mất hơn một ngày.

Trong những năm đầu đánh Mỹ, bộ đội ta hành quân qua vùng này rất gian khổ. Địch thường bắn pháo, máy bay B. 52 ném bom toạ độ, biệt kích thả các loại mìn. Đây còn là một đoạn đường thiếu nước và có nhiều loại muỗi truyền bệnh sốt rét rất nguy hiểm. Nhìn những hố bom chi chít hai bên đường, những xác xe, nòng pháo mang nhãn hiệu Mỹ cong queo, những đám dây thép gai hoen gỉ, vụn nát trên những cứ điểm cũ, chúng tôi nhớ lại những cuộc hành quân “tìm diệt”, “vượt biên” của Mỹ và bọn chư hầu bị quân ta đánh cho thất bại vào những năm 1965, 1968, 1970.

Trên một số mỏm đồi quang đãng hoặc những bìa rừng cao ráo, còn những nấm mồ đắp đất cao, nơi yên nghỉ cuối cùng của những đồng chí chúng ta. Trên mảnh đất heo hút. ác liệt và gian khổ này, biết bao nhiêu đồng chí, bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ yêu quý đã đi trước mở đường và đã hy sinh tại đây để góp phần tạo ra con đường tiến quân vào Nam Bộ rộng thênh thang sạch hết đồn bốt thù, cho chúng tôi hôm nay được bước vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Chiến công và tinh thần của các đồng chí là tấm gương sáng cho chúng tôi xông vào trận đánh sắp tới và lập công xứng đáng với các đồng chí đã nằm xuống.

Mùa Xuân đang về tưng bừng trên những đồi cỏ non ngập nắng. Nhưng rừng cao su chạy tít tắp hàng chục cây số đang thay lá. Trên những cây cổ thụ, hoa phong lan đang nở.

Rừng cao su hai bên đường là những bãi trú quân rất tốt, xe vận tải, xe tăng, xe kéo pháo ẩn nấp kín đáo dưới tán lá cây rừng. Dọc theo các bờ suối, bếp kiểu Hoàng Cầm đang hoạt động. Các hàng võng mắc đều đặn trĩu nặng – các chiến sỹ ta đang ngủ sau một đêm hành quân vất vả.

Để che giấu những binh khí kỹ thuật và giảm bớt mật độ xe trên đường, từng chặng có những trạm điều chỉnh, trạm kiểm soát, nhắc nhở đội hình hành quân và biện pháp nguỵ trang, báo động máy bay địch. Ở các ngã ba, ngã tư là cả một “rừng” biển chỉ đường của các đơn vị, cơ quan, các cánh quân, đủ kích thước, hình dáng, kiểu chữ, màu sắc. Người ngoài cuộc khó mà biết những biển đó hướng dẫn những gì và hướng dẫn cho ai khi đến đây.

Các đường dây điện thoại mắc vội vàng luồn vào trong rừng chạy ngang qua đường. Trên những đường dây đó có biết bao nhiêu nội dung cơ mật liên quan đến trận quyết chiến chiến lược.

Cảnh xe, pháo tấp nập hành quân trên đường và trú quân hai bên đường vào Nam Bộ làm cho tôi nhớ đếr n những năm kháng chiến chống quân đội thực dân Pháp vùng sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Hồi đó tôi cùng với các chiến sĩ trong Đại đoàn Đồng bằng mặc áo nâu, đội nón lá, tay cầm gậy, bấm từng ngón chân trên những đoạn đường trơn lầy trong đội hình một hàng dọc kéo dài “rồng rắn” theo các bờ ruộng, các luỹ tre của vùng Hà Nam, Ninh Bình hoặc ngồi thuyền nan ban đêm vượt qua các “làng tề” trên những cánh đồng Thái Bình, Nam Định, dưới ánh sáng của pháo dù hoặc những tràng đạn địch bắn vu vơ và giữa tiếng sóng đồng vỗ óc ách. Ban ngày, bộ đội phân tán thành từng đơn vị nhỏ vào các thôn xóm có cơ sở kháng chiến, thuyền nhấn chìm xuống nước, tổ chức sẵn sàng chiến đấu, có các anh chị em du kích canh gác và các mẹ lo lắng cơm nước để bộ đội được nghỉ ngơi, tối lại tiếp tục hành quân.

Ba mươi năm qua, quân dân ta chứng kiến và trực tiếp tham gia biết bao nhiêu cuộc hành quân vì độc lập và tự do của Tổ quốc. Chưa có ngày nào nhân dân ta, quân đội ta ngừng hành quân. Từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam, chiến sĩ và nhân dân ta đi suốt chiều dài đất nước, đi bất cứ đâu Tổ quốc cần, “đâu có giặc là ta cứ đi”. Mùa Xuân năm 1975, trong đội hình xe, pháo tiến vào mặt trận Sài Gòn, cũng như trong các làng xóm, bến bãi và chiến hào miền Nam, không thể phân biệt được người Nam, người Bắc, mà chỉ có người Việt Nam xông vào trận đánh cuối cùng chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai, giành lại độc lập, tự do, hoà bình, thống nhất trọn vẹn. Cả nước hành quân thần tốc, cả nước vào trận.

Mùa Xuân của đất trời và mùa Xuân của dân tộc quyện vào nhau trong tháng Tư lịch sử năm 1975.

Hết: Chương 11, xem tiếp: Chương 12

vnthuquan.net

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: