ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 13

Thế trận đang hình thành

Sài Gòn – Gia Định là một thành phố lớn với ba triệu rưởi dân, rộng 1.845km vuông kể cả các quận ngoại thành, có nhiều nhà cao, kiên cố, kiến trúc tổng hợp khá phức tạp. Đây là nơi tập trung các cơ quan đầu não của nguỵ quân nguỵ quyền, các kho tàng và căn cứ hậu cần quan trọng, là một trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế quan trọng của địch, là sào huyệt cuối cùng của chúng.

Địa hình Sài Gòn khá phức tạp. Ở hướng nam thành phố, sông rạch chằng chịt, bưng sình nhiều. Hướng tây nam cũng có nhiều sình lầy, sát vùng ven thì đất cao, đi lại tốt Hướng bắc và tây bắc, nhất là hướng đông có nhiều cầu lớn, đẫn vào thành phố như: cầu Bông, cầu Sáng, cầu Bình Phước, cầu Bình Triệu, cầu Ghềnh, cầu xa lộ sông Đồng Nai, cầu xa lộ sông Sài Gòn ở các cầu quan trọng đó có tin địch đã có kế hoạch đặt mìn sẵn sàng đánh sập hòng ngăn bước tiến của quân ta. Không nhanh chóng chiếm được các cầu này thì bộ đội xe tăng, pháo binh và các binh khí kỹ thuật nặng của ta khó vào được Sài Gòn. Ở đây, từ giữa tháng 5 bắt đầu mùa mưa, các binh đoàn lớn lúc đó vận động sẽ gặp nhiều trở ngại nếu thoát ly các trục đường.

Hơn một trăm năm phải sống dưới chế độ thực dân cũ của Pháp, rồi tiếp đến chế độ thực dân mới của Mỹ, Sài Gòn chỉ được hưởng độc lập, tự do dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không đầy một tháng. Từ khi đế quốc Mỹ đưa quân vào trực tiếp xâm lược miền Nam, chúng biến Sài Gòn và toàn miền Nam nước ta thành một thuộc địa kiểu mới. Bằng những thủ đoạn và chính sách vừa trắng trợn vừa tinh vi, vừa thực dụng vừa nham hiếm, chúng tuôn ồ ạt vũ khí và đô la vào hòng nô dịch nhân dân Sài Gòn cả vềtư tưởng, chính trị, văn hoá và đời sống. Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phá huỷ những nền tảng cổ truyền, thuần phong mỹ tục của nhân dân ta. Nạn xì ke, ma tuý, mãi dâm, cờ bạc, lưu manh, trộm cướp, giết người lan tràn. Hầu như gia đình nào cũng có người bị chúng lừa dối hay cưỡng bức, lôi cuốn trực tiếp hay gián tiếp vào các bộ máy chiến tranh, đàn áp, kìm kẹp của chúng. Bọn chúng tung tiền và hàng hoá tạo ra một giai cấp tư sản mại bản, quân phiệt quan liêu giàu sụ và phè phỡn trên xương máu nhân dân, tạo ra một nền kinh tế và một xã hội tiêu thụ hoàn toàn lệ thuộc vào đồng đôla, phụ thuộc vào nước ngoài. Bộ máy CIA và bộ máy chiến tranh tâm lý của chúng ngày đêm xuyên tạc, lừa bịp, khủng bố, hòng làm cho người dân chống lại hoặc ít nhất là sợ hãi cách mạng và kháng chiến.

Nhưng nhân dân Sài Gòn – Gia Định có truyền thống yêu nước, chống đế quốc và bè lũ tay sai. Đường phố và sông rạch Sài Gòn – Gia Định còn ghi lại nhiều chiến công hiển hách, nhiều sự tích anh hùng của các tầng lớp nhân dân. Đảng bộ Sài Gòn hoạt động nơi chiến trường ác liệt, cơ sở phong trào bị địch chà đi xát lại liên tục, nay vẫn đứng vững là vốn quý và là kỳ công của Đảng ta. Các đồng chí lãnh đạo phong trào của Sài Gòn mà chúng tôi được gặp, tượng trung cho cuộc chiến đấu gian khổ nhưng vẻ vang của Sài Gòn, mang trong khóe mắt và lời nói nguyện vọng của nhân dân muốn vùng dậy đạp đổ chế độ tàn bạo tay sai Mỹ, giành lại hoà bình, độc lập, tự do. Sài Gòn – Gia Định kiên cường và bất khuất, gan dạ và thuỷ chung trong cuộc chiến đấu oanh liệt chống đế quốc, giờ đây lĩnh trách nhiệm lịch sử phối hợp với bộ đội chủ lực của cả nước viết chương cuối rạng rỡ của bản hùng ca. Thỉnh thoảng, tại Sở chỉ huy chiến dịch, xem trên màn ảnh vô tuyến truyền hình những trò hề Mỹ, nguỵ đang diễn ở Sài Gòn và cảnh lầm than của đồng bào, chúng tôi càng nóng lòng mong chóng đến ngày nổ súng mở đầu trận đánh.

Bộ chỉ huy chiến dịch nhận được chỉ thị mới của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương trong đó đồng chí Lê Duẩn dặn chúng tôi cần chuẩn bị thêm ít ngày nữa, đến khi phần lớn lực lượng Quân đoàn 3 và Quân đoàn 1, cả bộ binh và binh khí kỹ thuật đến nơi thì bắt đầu cuộc tiến công lớn. Từ nay đến khi mở cuộc tiến công toàn diện, cần ra lệnh đẩy mạnh hoạt động của cánh phía tây và tây nam, chia cắt đường số 4, buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó và khó phán đoán ý định chung của ta, làm cho địch ở Sài Gòn thêm rối loạn và hoang mang. Đồng thời, đưa nhanh các đội đặc công và biệt động vào nội thành, các hướng khác cũng hoạt động mạnh lên để tạo điều kiện tốt cho cuộc tiến công lớn.

Khi các lực lượng lớn từ miền Bắc, từ Tây Nguyên và từ Trung Trung Bộ lần lượt tiến vào Nam Bộ và khi các phương tiện vận tải đang ngày đêm vận chuyển những khối lượng vật chất, hậu cần rất lớn đến các kho và các đơn vị chuẩn bị cho trận đánh quyết định vào Sài Gòn, thì các đơn vị chiến đấu của miền Nam sôi nổi đẩy mạnh các hoạt động của mình trước thời cơ mới, với mềm phấn khởi mới, với những kinh nghiệm mới và những cố gắng rất lớn.

Các đơn vị của Quân khu 8, Quân khu 9 cũng như các đơn vị đặc công, các đội biệt động ở vùng ven, trong nội thành, liên tiếp đánh địch, gây cho địch nhiều thiệt hại về sinh lực và phương tiện chiến tranh; giải phóng được một số khu vực quan trọng nối liền được các căn cứ lõm nằm trong vùng sau lưng địch ở Long An, Gò Công, Bến Tre, Mỹ Tho, mở ra được những hành lang nối liền từ Đông Nam Bộ qua Đồng Tháp xuống Tây Nam Bộ; làm chủ được những đoạn đường giao thông quan trọng trên các kênh rạch ở vùng giáp ranh và dựa vào đó để đưa thêm lực lượng, binh khí kỹ thuật xuống tăng cường. Các tỉnh vừa tác chiến vừa xây dựng lực lượng. Một số tỉnh và huyện đẩy mạnh việc tuyển tân binh tại địa phương, thành lập thêm các tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh và đại đội địa phương huyện. Các xã đã phát triển các trung đội và có xã có đại đội du kích. Súng đạn được bổ sung từ trên Miền đưa xuống và một số lớn lấy được của địch, đã kịp thời trang bị cho các đơn vị vừa mới thành lập. Những hoạt động liên tục đó đã kìm giữ, thu hút được một số đơn vị quân chủ lực địch ở vùng 4, thu hút được một sốhoạt động của không quân và hải quân địch.

Quân đoàn 4, chủ lực của Miền, từ ngày 10 tháng 3 phối hợp chặt chẽ với Tây Nguyên đã đánh liên tiếp nhiều trận, tiêu diệt được nhiều địch và đã giải phóng chi khu Dầu Tíếng, thị xã An Lộc, Chơn Thành, mở rộng một địa bàn rất thuận lợi ở phía bắc Sài Gòn, giam chân Sư đoàn 25 của địch ở vùng Trảng Lớn, Tây Ninh và uy hiếp cả Sư đoàn 5 của địch đang phòng ngự ở vùng Lai Khê, Bến Cát.

Hạ tuần tháng 3 đến đầu tháng 4-1975, Quân đoàn 4 nhanh chóng chuyển lực lượng từ hướng tây bắc và bắc Sài Gòn về hướng đông Định Quán, giải phóng thị xã Lâm Đồng – Di Linh, tập trung lực lượng mở một đợt đánh lớn vào Sư đoàn 18 địch ở thị xã Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh.

Ngày 5 tháng 4, Thiệu một mặt ra lệnh củng cố khẩn cấp tuyến phòng thủ Phan Rang, mặt khác quở trách bọn tướng nguỵ muốn co cụm lại sớm quanh Sài Gòn – Gia Định là chủ bại. Thế bố trí phòng thủ của địch lúc này ở Quân khu 3 vẫn hình thành nhiều tuyến từ ngoài vào trong, các sư đoàn bộ binh của chúng được tăng cường, xe thiết giáp, pháo binh chúng giữ các khu vực phòng thủ then chốt được tăng cường thêm mìn, dây thép gai, vật chướng ngại chống tăng, kết hợp với hệ thống đồn bốt bảo an, dân vệ chăng ra thành một mạng lưới dày đặc hòng buộc quân ta phải lùi dần từng bước, khi tới ven đô thì kiệt sức.

Thị xã Xuân Lộc, trong những ngày đầu tháng 4 năm 1975, trở thành một khu vực phòng ngự rất trọng yếu của địch ở Quân khu 3. Nó bảo vệ Sài Gòn từ phía đông, một trọng điểm của tuyến phòng ngự từ xa của Mỹ – nguỵ.

Địch cố giữ vững Xuân Lộc – Long Khánh để ngăn chặn hai đường tiến của quân ta về Sài Gòn, đường số 1 và đường số 20. Lúc bấy giờ trên trục đường số 1, quân ta đã tiến đến gần Phan Rang, còn trên trục đường số 20, quân ta sau khi giải phóng Lâm Đồng, Đà Lạt, Tuyên Đức đã tiến xuống gần Kiệm Tân. Địch cố giữ đường số 15 từ Sài Gòn ra Vũng Tàu, để nhận hàng viện trợ của Mỹ vào Sài Gòn theo đường biển và đó chính cũng là một con đường rút chạy sau này của địch.

Giữ được Xuân Lộc – Long Khánh thì tuyến Biên Hoà – Nhân Trạch – Bà Rịa – Vũng Tàu chưa trực tiếp bị uy hiếp, sân bay Biên Hoà và cả Tân Sơn Nhất còn hoạt động được Vì vậy, bằng bất cứ giá nào địch cũng cố giữ Xuân Lộc – Long Khánh. Quân đoàn 3 của địch nói chung và Sư đoàn 18 nói riêng còn nguyên chưa bị đánh đau. Hơn nữa, nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn và Mỹ cũng đem hết sức ra để chi viện cho Xuân Lộc với một hy vọng độc nhất là kéo dài ngày hấp hối, để tìm một biện pháp khả dĩ có thể tồn tại không đến nỗi mất hết, đổ sập cả, thất bại hoàn toàn.

Ngày 9 tháng 4, Quân đoàn 4 gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 341, Sư đoàn 6 và lực lượng Khu 7 do đồng chí Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh và đồng chí Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm Chính uỷ, nổ súng tiến công vào Xuân Lộc. Các đơn vị thuộc Quân đoàn 4, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu lần đầu tiên đứng trước một kẻ địch cùng đường, liều mạng.

Địch điều toàn bộ lực lượng Sư đoàn 18, tăng cường Lữ kỵ binh 3, một bộ phận của Sư đoàn 5 đang phòng ngự ở đường số 13, các tiểu đoàn pháo binh trực thuộc, các liên đoàn biệt động quân của Quân khu 3 và các liên đoàn biệt động quân què quặt của Quân khu 1, Quân khu 2, chưa kịp chấn chỉnh, vá víu ném vào Xuân Lộc. Một cuộc thí quân, thí tướng của Mỹ, nguỵ trước nguy cơ sụp đổ.

Chưa đủ. Địch còn đưa cả Lữ 1 dù vào mặt trận Xuân Lộc, huy động đến mức cao nhất không quân còn lại ở Biên Hoà, Tân Sơn Nhất và Cần Thơ để kéo dài ngày tận số.

Cũng chưa đủ. Mỹ, nguỵ còn huy động cả một bộ máy tuyên truyền chiến tranh tâm lý trong nước và thế giới phương Tây đến Sài Gòn, đến Xuân Lộc để “lên dây cót tinh thần” cho binh lính và chỉ huy của chúng. Tên Chuẩn tướng Lê Minh Đảo, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 18 nguỵ huênh hoang: “sẽ đánh một trận oai hùng cho thế giới biết và để Mỹ cho thêm viện trợ”. Hắn bỗng chốc trở thành một “người hùng”, một vị cứu tinh của chế độ Thiệu dưới ngòi bút của những ký giả trọng đôla hơn trọng danh dự ký tên trên những tờ lá cải. Trận chiến đấu Xuân Lộc ngay từ những ngày đầu trở nên gay go, ác liệt. Các Sư đoàn 7, Sư đoàn 6 và Sư đoàn 341 của ta đã phải tổ chức tiến công nhiều lần vào thị xã, đánh đi đánh lại diệt từng mục tiêu và phải nhiều lần đẩy lùi các cuộc phản kích của địch.

Trung đoàn 43 địch bị tổn thất nặng. Pháo binh chiến dịch và pháo binh đi cùng của các sư đoàn của ta đã phải dùng thêm cơ số đạn. Xe tăng, xe bọc thép của ta một số bị hỏng, một số phải trở về vị trí xuất phát tiến công để bổ sung xăng dầu, đạn dược.

Kế hoạch tiến công Xuân Lộc của Quân đoàn 4 lúc đầu chưa tính hết được sự phát triển phức tạp của tình hình, chưa đánh giá hết tính chất ngoan cố của địch. Tính chất giằng co ác liệt qua trận đánh này không phải chỉ trong phạm vi của Xuân Lộc – Long Khánh nữa tồi. Nó liên quan đến việc mất hay còn của nguỵ quyền Sài Gòn, đến việc kéo dài những ngày giãy chết của chế độ Thiệu. Việc tổ chức, chỉ huy và tiến hành các cuộc chiến đấu của ta không thể làm theo như cũ được nữa. Cách đánh cũng cần phải thay đổi cho phù hợp với tình hình lúc đó.

Trong những ngày Quân đoàn 4 tiến công vào Xuân Lộc, chúng tôi một mặt phải khẩn trương xây dựng và hoàn thành kế hoạch tiến công Sài Gòn, mặt khác chỉ đạo Bộ chỉ huy Miền và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 thay đổi cách đánh. Địch thì cố vét quân ném vào đây. Ta cũng tăng cường thêm Trung đoàn 95 và bổ sung vật chất cho Quân đoàn 4.

Đồng chí Trần Văn Trà từ Lộc Ninh lại xuống Quân đoàn 4 một lần nữa để phổ biến và đôn đốc việc thực hiện cách đánh mới. Chúng tôi chỉ thị cho Quân đoàn 4: khi địch đã dồn quân vào để cố cứu thị xã Xuân Lộc thì ta không cần tập trung lực lượng tiếp tục đánh thẳng vào đấy nữa, mà chuyển lực lượng đánh các đơn vị địch đến phản kích đứng chân chưa vững ở vòng ngoài đang thiếu công sự, và thiếu sự hiệp đồng chặt chẽ với nhau, dùng pháo tầm xa bắn phá và khống chế liên tục ngày đêm sân bay Biên Hoà, không cho máy bay chiến đấu của địch cất cánh.

Tiếp theo việc ta đánh chiếm Túc Trung, Kiệm Tân, tiêu diệt Trung đoàn 52 của Sư đoàn 18 nguỵ, ta theo đường số 20 phát triển xuống ngã ba Dầu Giây và chốt cứng một đoạn đường số 1, diệt một số xe tăng, đánh lui Lữ 3 kỵ binh địch từ Biên Hoà ra tiếp viện. Xuân Lộc đã bị cắt lìa khỏi Sài Gòn. Thị xã cùng Ban chỉ huy Trung đoàn 48 vẫn bị pháo kích, ở Bàu Cá, Lữ 3 kỵ binh nguỵ vẫn bị chặn, không nhúc nhích được.

Quân đoàn 4 tiếp tục dùng pháo binh triệt dần các cụm pháo địch, tiêu diệt từng bộ phận Trung đoàn 48 và Lữ 1 dù mới ra tăng viện.

Cánh quân phía đông của ta ào ạt tiến, ngày 19 tháng 4 cùng với bộ đội Khu 6 giải phóng Phan Thiết, và bộ phận đi đầu ngày 20-4 trên trục đường số 1 đã đến Rừng Lá gần Xuân Lộc. Đêm 20 tháng 4, toàn bộ các lực lượng địch ở Xuân Lộc, trước nguy cơ bị bao vây và bị tiêu diệt, đã phải bỏ chạy tán loạn theo đường tỉnh số 2 về phía Bà Rịa.

Bị chặn đánh dọc đường, chúng bỏ lại rất nhiều xe pháo, súng đạn. Một số nhà báo phương Tây phải đánh điện về toà soạn của họ xin huỷ bài báo vừa gửi về ngay tối hôm đó để “phù hợp với tình hình”. Đài phát thanh quân đội Sài Gòn trơ trẽn không ngừng tác động tinh thần cho đám tàn quân Sư đoàn 18 len lỏi trong các cánh rừng vùng Bà Rịa. Tên Trung tướng nguỵ Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân khu 3, đến Củ Chi bàn việc cố thủ tuyến Củ Chi ở hướng tây bắc đồng thời điều chỉnh lực lượng phía đông để giữ chặt Biên Hoà – Long Bình – Long Thành.

Xuân Lộc được giải phóng. Cánh cửa phía đông Sài Gòn đã mở sẵn đón lực lượng của Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 và Sư đoàn 3, Quân khu 5 vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Sư đoàn 3 chuẩn bị tiến về Bà Rịa, Vũng Tàu.

Trước ngày phát động tổng công kích vào Sài Gòn – Gia Định, cánh quân phía đông đã tạo được một thế chung rất thuận lợi.

Phía tây nam Sài Gòn, ta đã điều lực lượng xuống vùng Bến Lức, Long An, đánh thông hành lang Tây Ninh, Kiến Tường, mở xong các vùng Bến Cầu, Bến Sỏi, Quéo Ba, làm chủ một phần sông Vàm Cỏ Tây, tiếp tục tiến xuống vùng Tân An. Thủ Thừa. áp sát và đánh giao thông trên đường số 4, diệt các đồn bốt nhỏ chung quanh, mở ra một vùng giải phóng, tạo bàn đạp cho các lực lượng thuộc Đoàn 232 chuẩn bị tiến công vào Sài Gòn từ phía tây nam.

Xe tăng, xe lội nước, pháo bắn thẳng 85. lựu pháo 122 và cả pháo 130 milimét cùng với các tiểu đoàn cao xạ, các sư đoàn bộ binh số 5, số 3, số 9, số 8, các trung đoàn độc lập 16, 88, 24 và hàng trăm tấn đạn, xăng dầu đã đến nơi quy định. Những trận địa hoả tiễn và súng cối được chuẩn bị gấp chung quanh sân bay Cần Thơ, đợi ngày đánh vào căn cứ cuối cùng của không quân địch một khi sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hoà bị khống chế.

Tạo thế ở tây nam Sài Gòn là một kỳ công của quân và dân Tây Nam Bộ, vì điều kiện địa hình ở đây rất khó triển khai lực lượng lớn, nhất là binh khí kỹ thuật nặng. Đạn pháo các loại cần dùng hàng chục nghìn quả nhưng phải vác bằng vai hoặc chở bằng thuyền nhỏ. Đường cho xe pháo cơ động rất ít, có thể nói là độc đạo qua những vùng sình lầy trống trải. Trận địa pháo bố trí dọc theo các đường. Tổ chức thông tin từ Sở chỉ huy chiến dịch xuống cánh tây nam chỉ còn một phương tiện độc nhất là vô tuyến điện. Thời gian càng gấp bao nhiêu thì công việc tạo thế của cánh tây nam càng khẩn trương bấy nhiêu. Chuẩn bị cầu phà, đường cơ động, di chuyển hậu cần v.v, phảí hết sức bí mật để giữ được một bất ngờ lớn đối với địch ở hướng quan trọng này.

Phía tây bắc Sài Gòn, Sư đoàn 25 của địch vẫn bám chặt địa bàn Tây Ninh. Đúng là đối với chúng, giữ cũng chết mà bỏ cũng chết. Cảnh sát, các cơ quan hành chính nguỵ quyền ở Tây Ninh đã đốt các loại giấy tờ, hồ sơ, chạy về Sài Gòn.

Ta không đánh để giải quyết Tây Ninh nhưng phải kìm giữ, phân tán lực lượng của Sư đoàn nguỵ số 2. Ở đây, không cho chúng tập trung lùi dần về vùng sát Sài Gòn.

Quân đoàn 3 của ta đã dùng một trung đoàn của Sư đoàn 316 vượt sông Sài Gòn, cắt một đoạn đường từ Trà Vỏ, Bầu Nâu đi Gò Dầu Hạ, không cho địch lên xuống. Các đơn vị bộ đội địa phương của Tây Ninh, Bình Dương bao vây và tiêu diệt các bốt, bảo an, dân vệ, pháo kích vào Trảng Lớn, làm nổ một lúc 20.000 quả đạn pháo 105 và gần 5.000 đạn pháo 175 mi-li-mét. Sư đoàn 25 của địch bị căng ra trên đường số 1 và đường số 22.

Các đội biệt động nội thành, ngoại thành Sài Gòn và các đơn vị đặc công đã tiến vào sát Sài Gòn và đã bí mật bố trí sẵn ở các mục tiêu quy định.

Sân bay Biên Hoà bị bộ đội đặc công, súng cối và pháo tầm xa của ta đánh liên tục không nghỉ ngày nào. Chiều tối địch đưa hết máy bay ở Biên Hoà về Tân Sơn Nhất tránh pháo kích sân bay Biên Hoà bị ta khống chế tê liệt dần. Ta chuẩn bị nhanh hoả lực để đánh phá hai sân bay cuối cùng khác của địch là Tân Sơn Nhất và Cần Thơ nhằm giảm bớt khả năng chiến đấu của không quân địch, uy hiếp tinh thần địch, chống phá kế hoạch “di tản” của chúng và góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tông tiến công vào Sài Gòn – Gia Định.

Sáng ngày 8 tháng 4, chúng tôi đang làm việc thì được tin một sĩ quan yêu nước lái chiếc máy bay F5E của không quân nguỵ vừa ném bom Dinh Độc lập và đưa máy bay ra vùng giải phóng hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Đây là Trung uý không quân Nguyễn Thành Trung, quê ở Bến Tre, một đảng viên của ta hoạt động bí mật từ lâu trong không quân nguỵ. Anh là con một đồng chí huyện uỷ viên đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cách mạng.

Nguyễn Thành Trung cho biết: không quân nguỵ chỉ còn 120 chiếc máy bay A.37 và 70 chiếc máy bay F-5, khả năng xuất kích của chúng thường chỉ được hai phần ba. Ngày huy động máy bay nhiều nhất đi đánh phá cũng chỉ được 120 lần chiếc. Nếu ta pháo kích sân bay Biên Hoà, không cần bắn liên tục, cứ nửa giờ bắn một phát. Vì khi phát đạn đại bác nổ, phải nửa giờ sau bọn lái nguỵ mới từ hầm ra được tới máy bay. Bắn như thế thu được kết quả tốt mà lại tiết kiệm được đạn.

Chúng tôi nảy ra một ý kiến và đề nghị Bộ Tổng tư lệnh cho phép đưa ngay Nguyễn Thành Trung ra Đà Nẵng hướng dẫn một số đồng chí lái máy bay chiến đấu của ta sang lái máy bay A.37 của Mỹ mà ta thu được khá nhiều và lập một phi đội máy bay A.37 để khi cần sẽ dùng đến.

Các đơn vị đặc công mặt trận Sài Gòn, những chiến sĩ thông minh, mưu trí, gan dạ mà chiến công vang lừng cả nước, trước khi vào chiến dịch được tổ chức lại thành 6 đoàn có chỉ huy thống nhất. Đoàn 10 đứng ở khu Nhà Bè – Lòng Tàu, đánh tàu và cắt đường sông Lòng Tàu ra biển của địch. Đoàn 116 đứng ở Nước Trong – Long Bình. Đoàn 113 phụ trách vùng Biên Hoà. Đoàn 115 đứng ở Lái Thiêu, Quán Tre chờ lệnh vào Sài Gòn. Đoàn 117 đứng ở Vườn Thơm, Bà Vu chờ lệnh đánh vào hướng tây Sài Gòn.

Đoàn 429 chuẩn bị đánh các trận địa pháo ở Quận 8 và Quận 9.

Các chiến sĩ biệt động Sài Gòn nổi tiếng từ lâu, chiến đấu thầm lặng và dũng cảm đã bao phen làm cho Mỹ, nguỵ kinh hoàng. Những chiến sĩ từng đánh các khách sạn Mỹ ở Sài Gòn như: Caraven, Brinh, Víchtôria, Mêtơrôpôn, đánh Tổng nha cảnh sát nguỵ, sứ quán Mỹ, nhấn chìm tàu Cađơ trên sông Sài Gòn, nhiều lần pháo kích “Dinh Độc lập”, sân bay Tân Sơn Nhất, lễ “quốc khánh” của nguỵ, hôm nay lực lượng lớn mạnh hơn nhiều, đứng ở thế vững chắc cả trong và ngoài thành phố. Ngoại thành có 4 tiểu đoàn và nhiều đội quân biệt động, trong nội thành ta có sẵn 60 tổ biệt động, 300 quần chúng vũ trang và lực lượng quần chúng đông đảo do quân biệt động tổ chức và chỉ huy. Lực lượng vũ trang của thành đội Sài Gòn Gia Định cũng khá mạnh. Ở các quận Nhà Bè, Bình Chánh Nam, Bình Chánh Bắc, Tân Bình, Hóc Môn, Gò Vấp mỗi nơi trước có một trung đội, bước vào chiến dịch đều tăng lên thành một hoặc hai đại đội. Riêng Thủ Đức có một tiểu đoàn. Củ Chi càng mạnh hơn. Thành đội còn có các trung đoàn chủ lực đã triển khai sẵn ở Gia Định.

Đấy là chưa kể những cán bộ, chiến sĩ ta làm công tác đặc biệt từ nhiều năm hoạt động trong thành phố, làm việc trong những cơ quan của địch, cung cấp kịp thời những tin tức cần thiết và mong chờ ngày đại quân tiến vào.

Thành uỷ Sài Gòn – Gia Định in và rải hàng trăm nghìn tờ truyền đơn, lập những đội tuyên truyền xung phong. Khí thế quần chúng sôi nổi làm cho tinh thần địch đang hoang mang càng thêm hoang mang, dao động và bộ máy kìm kẹp ở cơ sở của địch lỏng thêm một bước. Trong mấy ngày ta đã đưa vào trung tâm thành phố thêm hàng trăm cán bộ, hàng trăm đội viên vũ trang. Giữa Sài Gòn đã có mặt hàng chục đồng chí thành uỷ viên và cán bộ cấp tương đương, có các uỷ viên ban cán sự quận, hàng mấy trăm đảng viên, hàng nghìn đoàn viên các đoàn thể, hàng chục nghìn quần chúng có thể huy động xuống đường. Ta đã có các cơ sở chính trị trong các phố, nắm cả một số nhà in to, nhỏ, chuẩn bị hàng trăm xe hơi có loa phóng thanh, đưa hàng chục nghìn mét vải cho nhiều hiệu may để may cờ. Một số lượng lớn cán bộ chuẩn bị tiếp quản thành phố đã chuyển đến ở sát ngoại ô thành phố.

Để thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, Trung ương Cục và Quân uỷ Miền đã bàn và thông qua các kế hoạch về cuộc tổng tiến công và việc chuẩn bị đòn nổi dậy toàn B.2.

Đồng thời, cử đồng chí Võ Văn Kiệt trực tiếp làm Bí thư Thành uỷ Sài Gòn – Gia Định chuyên lo vấn đề tổ chức và chỉ đạo kế hoạch quần chúng nổi dậy để phối hợp với cuộc tiến công của các binh đoàn chủ lực vào thành phố.

Như thế là, trước khi nổ súng tổng công kích vào Sài Gòn ta đã hình thành được thế trận bao vây thành phố từ nhiều mặt. Ở phía đông ta đã cắt hoàn toàn đường số 1, áp sát đến Trảng Bom, sẵn sàng cắt đứt đường số 15, sông Lòng Tàu và khống chế Vũng Tàu, đang làm tê liệt sân bay Biên Hoà.

Phía tây và tây nam, lực lượng Quân khu 9 đã áp sát đoạn Cái Vồn và nam Cần Thơ. Quan trọng hơn cả là đã áp sát ven con đường số 4 huyết mạch từ Sài Gòn chạy về đồng bằng sông Cửu Long. Những đơn vị thuộc Khu 8 đã mở rộng hoạt động ở nam Long An, chuẩn bị sẵn sàng để cắt đường số 4 và kênh Chợ Gạo, các lực lượng lớn của chiến dịch cũng đã tiến dần vào vị trí triển khai. Quân đoàn , sau khi chiếm Xuân Lộc, đã áp sát vào Trảng Bom.

Ở phía đông nam, Quân đoàn 2 đã tiến sát vào Long Thành, Vũng Tàu, Nước Trong, Bà Rịa.

Đoàn 232 đã áp sát vào tuyến sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa. Sư đoàn 5. Sư đoàn 8 đã đứng sát đường số 4 và từ Tân An đến Cai Lậy, áP sát Mỹ Tho, đặc biệt hai trung đoàn bộ binh đã vào đứng ở Cần Đước, Cần Giuộc phía nam Quận 8 Sài Gòn.

Hướng tây bắc và hưởng bắc đã có một vùng giải phóng mở rộng nối liền từ Lộc Ninh đến Phước Long.

Quân đoàn 1 đã vào khu vực tập kết ở nam sông Bé, Quân đoàn 3 ở khu vực Dầu Tiếng.

Đường hành lang từ các cánh, các hướng đều thông suốt, đường vận chuyển chiến dịch và chiến lược đã được nối liền, có chất lượng tốt, bảo đảm được mật độ các loại xe chạy với tốc độ cao. Cũng là lần đầu tiên trong suốt mấy chục năm kháng chiến ở Nam Bộ, xe hơi của tuyến vận tải Cục hậu cần Miền và hậu cần các quân khu từ miền Đông chạy xuống tận đường liên tỉnh số 26 ở bắc Củ Chi, chạy xuống tận Bình Cơ, Bình Mỹ ở bắc Tân Uyên và có thể chạy suốt đến Long Khánh – Bà Rịa.

Lực lượng lãnh đạo của Đảng và chính quyền cách mạng đã về ở vùng ven. Có nhiều bộ phận đã vào nội thành để chuẩn bị cho việc nổi dậy của quần chúng và tiếp quản thành phố.

Tình hình trong thành Phố Sài Gòn được nắm chắc và báo cáo ra hàng ngày cho Bộ chỉ huy chiến dịch.

Và ngay tại Tân Sơn Nhất, trong những ngày sôi động trên toàn miền Nam, có một bộ phận cán bộ và chiến sĩ ta vẫn ở trong đó. Đấy là phái đoàn quân sự của ta trong Ban liên hợp quân sự hai bên do đồng chí Thiếu tướng Hồ Xuân Anh (tức Hoàng Anh Tuấn) làm trưởng đoàn. Thông báo tin tức hàng ngày vẫn giữ được đều đặn và trong những ngày đó các đồng chí cũng đoán chắc là ta sắp đánh vào Sài Gòn rồi, mặc dù chúng tôi không điện cho các đồng chí đó biết kế hoạch. Các đồng chí sống giữa vòng vây của quân địch đã gần ba năm, giữ vững lập trường đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù, chấp hành nghiêm túc và nhanh chóng các chỉ thị của cấp trên và cũng kịp thời báo cáo cho chúng tôi những tin tức, dư luận các giới đồng bào, tin tức về địch mà các đồng chí ở đó nắm được bằng nhiều cách, kể cả quan sát bằng mắt thường. Thấy máy bay địch từ các nơi dồn về Tân Sơn Nhất nhiều quá, đậu gần ngay khu nhà của phái đoàn ở, các đồng chí điện ra đề nghị bắn pháo vào sân bay. Bức điện có đoạn viết: “Chúng tôi sẽ đào hầm và giữ vững vị trí chiến đấu tại đây. Nếu địch ngoan cố, pháo binh ta cứ bắn thật mãnh liệt, đừng lo cho chúng tôi ở trong này. Chúng tôi rất lấy làm vinh dự sẵn sàng nhận sự hy sinh để chiến dịch toàn thắng, sự nghiệp cách mạng toàn thắng”.

Khu nhà các đồng chí ở, do nguỵ quyền bố trí, mái tôn, nền đất, tường ván và chung quanh “trang trí” toàn bằng hàng rào kẽm gai. Nhưng gặp tình huống như hiện nay thì có nhiều khó khăn trong việc đào công sự cá nhân, phát triển thành hào giao thông, hào chiến đấu. Các đồng chí đào hầm về đêm, không có xẻng, cuốc, phải dùng cọc dây thép gai và dao găm để đào, đất đào đem ép xuống nền nhà hoặc cho vào bao tải, gói vào quần áo, cất vào kho. Nhân dịp có việc trao đổi một số nhân viên Ban liên hợp quân sự bị mắc kẹt hôm ta đánh ở Buôn Ma Thuột chúng tôi chủ trương đưa ra mấy đồng chí thật cần thiết cho chiến dịch, còn anh em vẫn ở lại, trong đó có cả đồng chí trưởng đoàn. Và khi làm kế hoạch cho pháo bắn vào Tân Sơn Nhất, chúng tôi đã nhiều lần chỉ dẫn các đống chí phụ trách pháo binh biết khu vực phái toàn ta đang ở để bảo đảm an toàn cho các đồng chí đó.

Trong thế trận chung to lớn ta đã hình thành chuẩn bị bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh, các đồng chí của ta ở Tân Sơn Nhất cũng có một cái thế riêng của mình, thế đứng công khai hiên ngang giữa lòng địch. Thế đứng đó không những tiêu biểu cho cách mạng, cho đại nghĩa về mặt chính trị mà còn giúp cho Đảng hiểu được thêm lòng dân đối với sự nghiệp giải phóng và hiểu kẻ thù trước những ngày chúng giãy chết, chắc là trong những ngày đêm sôi sục này, các đồng chí mong đợi quân ta vào hơn ai hết.

Sau lần ta tiến công vào Sài Gòn dịp Tết Mậu Thân 1968, kẻ địch ngạo nghễ và huênh hoang nói: “Không bao giờ Việt cộng còn có sức đánh vào Sài Gòn lần nữa”. Hôm nay, nhìn thế trận đã tạo ra, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng của ta bên trong và bên ngoài thành phố Sài Gòn, nhìn thấy các địa bàn chắc chắn ta đang chiếm lĩnh, nhận ra các mục tiêu ta sẽ đánh đúng ngay từ đầu, tính toán thời gian và hoàn tất các công việc còn lại trước giờ G, giờ G cuối cùng của cuộc chiến tranh và cũng là giờ G lớn nhất của lịch sử dân tộc ta hơn một trăm năm nay, chúng tôi vui mừng, sung sướng và tự hào.

Hết: Chương 13, xem tiếp: Chương 14

vnthuquan.net

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: