ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương cuối

Toàn thắng

Lịch sử có những khi lặp lại trong quá trình phát triển. Cũng như ông cha ta trong đêm trước những cuộc tổng công kích chiến lược cuối cùng chống ngoại xâm, các chiến sĩ ta trên mặt trận Sài Gòn đêm 29 rạng sáng 30-4 sục sôi khí thế quyết thắng thần tốc. Trong giờ phút thiêng liêng này, trong ngày cuối cùng này của thời hạn giải phóng Sài Gòn do Bộ Chính trị ấn định, các chiến sĩ viết trên mũ, trên tay, trên báng súng lời hịch bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!

Tiếng súng ầm vang toàn mặt trận. Nhìn những chớp sáng từ các cánh quân ta đang tiến, những ánh lửa hắt lên từ các căn cứ địch quanh Sài Gòn bốc cháy, mọi người đã thấy hửng đông của ngày toàn thắng đang đến. Đồng chí Lê Ngọc Hiền đang phiên trực chỉ huy nghe điện từ các đơn vị báo về: mũi tiến sâu nhất trong đêm của Quân đoàn 3 đã tới Bà Quẹo; của Quân đoàn 1 đã tiến sát Lái Thiêu của Quân đoàn 2 tới sát cầu xa lộ sông Đồng Nai; của Quân đoàn 4 là vùng ven Biên Hoà; của Đoàn 232 là vùng Bà Hom. Như vậy các mũi đột kích của ta chỉ còn cách trung tâm Sài Gòn một cự ly ngắn từ 10 đến 20km.

Đấy là những cây số cuối cùng để nối đất nước lại liền một dải, nối đường Hồ Chí Minh đến trung tâm thành phố mang chính tên Người. Những đường tiến quân ấy diễn ra rất đúng với kế hoạch chiến dịch và đang thể hiện cách đánh mưu trí của chúng ta mà đến những ngày cuối cùng vẫn còn dành nhiều sự bất ngờ cho địch.

Chúng vẫn hy vọng dựa vào những sư đoàn còn lại của chúng để chặn quân ta, hy vọng con bài chính trị mới lật lên có khả năng “thương lượng” với ta hòng duy trì cơ cấu chính quyền và quân đội của chúng. Một số tướng tá nguỵ đã về hưu lúc này cũng nhảy ra để bày mưu, bày kế cho nguỵ quyền cứu vãn tình hình. Vào lúc 2 giờ sáng, phái đoàn quân sự của ta ở trại David trong Tân Sơn Nhất điện về Bộ chỉ huy chiến dịch báo cáo: “Có ba người do chính quyền Sài Gòn cử đến gặp chúng tôi để thăm dò việc ngừng bắn. Đồng chí Võ Đông Gíang tiếp họ và nói rõ lập trường, quan điểm của ta trong Tuyên bố của Chính phủ ngày 26 tháng 4. Sau đó họ xin ra về. Ta nói pháo của quân ta đang bắn mạnh vào sân bay, rất nguy hiểm, không nên về. Cuối cùng, cả ba người đồng ý ở lại. Hiện giờ họ đang ở hầm với chúng tôi”. Lúc này những người cầm đầu nguỵ quyền nóng ruột ngồi chờ ba “sứ giả” của họ mãi không thấy về, gọi hỏi nhau rất bối rối, lúng túng. Vài giờ trước khi cho ba người nói trên đến gặp ta ở Tân Sơn Nhất, họ đã cử bốn “sứ giả” khác đến thăm dò phái đoàn ta cũng về chuyện “ngừng bắn”. Cán bộ ta mời họ ăn chuối của anh em ta tự trồng rồi giới thiệu cho họ biết tuyên bố của Chính phủ ta ngày 26 tháng 4.

Phái đoàn quân sự ta những ngày cuối tháng 4 này chứng kiến sự tất tưởi, bối rối cùng đường của Mỹ, nguỵ.

Trước đây, trụ sở phái đoàn ta nhiều lần bị chúng vây hãm, khiêu khích, gây nhiều khó khăn như cắt điện, cắt nước, không cho tiếp xúc với người ngoài. Vào những ngày này, đây lại là nơi chúng đến cầu cạnh nhiều nhất.

Matin, “đại sứ” Mỹ, xin được gặp đại diện phái đoàn ta. Ta từ chối. Nguỵ quyền còn xin phái đoàn ta cho phép chúng cử người đáp máy bay ra Hà Nội để “thương lượng” ngừng bắn. Ta cũng bác.

Bức điện của đồng chí Nguyễn Duy Trinh gửi chúng tôi cho biết những thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt của Mỹ, nguỵ đang diễn ra dồn dập đi đôi với những lời bắn tin doạ dẫm ta nhằm ngăn chặn cuộc tổng công kích của quân ta vào Sài Gòn, càng cho thấy chúng ta phải chiến đấu khẩn trương hơn, đánh nhanh hơn, tranh lấy từng giờ, từng phút cho toăn thắng.

Vào lúc gần sáng, các hãng thông tấn. Mỹ báo tin: Matin, “đại sứ” Mỹ, đã chuồn khỏi Sài Gòn bằng máy bay lên thẳng. Viên quan thái thú, viên toàn quyền Mỹ cuối cùng ấy ở miền Nam Việt Nam chạy trốn khá hấp tấp và thảm hại. Số là cho đến ngày hắn rời Sài Gòn, Matin vẫn đinh ninh rằng nguỵ quyền có thể tồn tại, một cuộc “ngừng bắn” có thể dàn xếp được, cho nên y lừng chừng trong việc di tản, ngồi chờ xem tình hình. Matin ra tận sân bay Tân Sơn Nhất quan sát. Trận ném bom và các trận pháo kích dữ dội của quân ta làm cho sân bay yết hầu này gần như tê liệt, máy bay có cánh cố định dùng để di tản không hoạt động được nữa. Vòng vây Sài Gòn ngày càng thắt chặt. Con bài Dương Văn Minh đưa ra quá muộn không có tác dụng. Những tình hình đó Matin báo cáo về Oasinhtơn. Tổng thống Mỹ Giêrôn Pho bèn ra lệnh mở cuộc di tản bằng máy bay lên thẳng thay phiên nhau bay liên tục 18 giờ, chở hơn 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt Nam tay sai Mỹ cùng người trong gia đình chúng ra khỏi miền Nam. Pho còn bắt Matin phải di tản ngay “không được chậm trễ phút nào”.

Cuộc di tản của Mỹ tiến hành tại 13 nóc nhà cao được Mỹ chọn làm sân đỗ máy bay. Số sân này mỗi buổi thu hẹp dần do lưới lửa quân ta tiến đến gần. Ở “sứ quán” Mỹ, nơi đáp máy bay di tản là một cảnh tượng hết sức hỗn loạn, bọn tay sai Mỹ chen lấn, phá cửa, leo tường, trèo dậu, giằng co, xô xát, đạp lên nhau để tìm đường chạy. Đến nỗi Matin muốn về nhà riêng lấy valy để chạy phải đi ngách cửa sau của sứ quán.

“Cốttu” mật danh của Matin và “Lêđi 09” – tên chiếc máy bay lên thẳng chở Matin, rời sứ quán Mỹ ra biển Đông, đánh dấu thất bại thảm hại của đế quốc Mỹ sau 30 năm can thiệp và phiêu lưu quân sự ở Việt Nam. Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam lúc cao nhất là 60% bộ binh của toàn nước Mỹ, 58% lực lượng thuỷ quân lục chiến, 32% lực lượng không quân chiến thuật, 50% lực lượng không quân chiến lược, 15 trong số 18 tàu sân bay, 800.000 quân Mỹ (kể cả số quân Mỹ đóng ở các nước chư hầu của Mỹ tham chiến ở Việt Nam), hơn một triệu lính nguỵ tay sai, động viên tới sáu triệu lượt binh sĩ Mỹ, ném hơn 10 triệu tấn bom, tiêu hơn 300 tỷ đô la, mà cuối cùng “đại sứ” Mỹ phải bò lên sân thượng để tìm đường chạy.

Hôm nay, nhìn lại những lực lượng khổng lồ mà địch đã huy động, xem lại những ý đồ nham hiểm mà chúng đã thú nhận, nhớ lại những tình huống cực kỳ éo le và phức tạp mà con thuyền cách mạng đã vượt qua, chúng ta càng thấy chiến dịch giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam là vô cùng vĩ đại.

Trời hửng sáng, trong mát và đẹp một cácn lạ thường.

Buổi phát tin sớm nhất của Đài Tiếng nói Việt Nam đọc xã luận trong ngày 30 tháng 4 của báo Nhân Dân: “Quân và dân Sài Gòn – Gia Định đang gánh vác trước lịch sử một sứ mạng vô cùng nặng nề nhưng hết sức vẻ vang là đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, đập tan trung tâm đầu não và hang ổ cuối cùng của nguỵ quyền tay sai Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước. Đồng bào cả nước ta hướng về Sài Gòn – Gia Định, chờ đón tin thắng trận oanh liệt và tỏ lòng tin tưởng vững chắc rằng quân và dân thành phố anh hùng này nhất định làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đối với Tổ quốc”.

Buổi họp giao ban của Bộ chỉ huy chiến dịch hôm nay đông đủ, náo nhiệt, không ai bảo ai, mọi người đến phòng họp từ sớm và tất cả những đồng chí nào có máy thu thanh đều mang theo người. Chúng tôi nhìn nét vẽ đường tiến quân của ta trên bản đồ chiến dịch: năm cánh quân như năm cánh sao lớn hợp điểm ở thành phố mang tên Bác. Năm quân đoàn không chỉ là con số cộng giản đơn mà đã thành một chất lượng khác rất mới, rất mạnh. Chúng tôi biết các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, các đồng chí đã lãnh đạo và chỉ đạo rất sát và tài tình cuộc chiến đấu hơn 50 ngày qua, lúc này chắc cũng đang tập trung theo dõi mọi diễn biến trên tấm bản đồ Sài Gòn. Chúng tôi cũng được biết trên khắp đất nước ta, vào giờ này, nhân dân các địa phương đang quây quần bên tấm bản đồ Tổ quốc chờ đón tin thắng lợi để trân trọng tô màu cờ cách mạng lên Thành phố Sài Gòn.

Chúng tôi nghe một số tin của địch vừa thông báo cho nhau. Biệt khu thủ đô nguỵ báo cho địch ở Long An như sau: “Thủ Đức đã bị quân cộng sản tràn ngập. Quân cộng sản, có cả xe tăng T-54, đang từ Hóc Môn tiến về Sài Gòn. Tại sao mình không thấy lệnh gì của bên trên cả”. Chúng chưa biết tên Tổng Tham mưu trưởng của chúng đã bỏ chạy từ sáng sớm rồi. Hạm đội nguỵ báo cho các đài trực thuộc của chúng là Bộ Tư lệnh hải quân đã chạy rồi, đừng liên lạc gì nữa, có gì thì liên lạc trực tiếp với hạm đội ngoài khơi.

Tình hình diễn biến càng cho thấy thế trận ta bày ra rất hiểm mà địch thì hoàn toàn ở vào thế chết. Chúng có biết hướng tiến công chủ yếu của ta là bắc và tây bắc Sài Gòn cho nên chúng đặt ở đây hai sư đoàn nguỵ số 5 và số 25. Địch loay hoay với hai ý định: phòng ngự bên ngoài Sài Gòn từ xa hay co cụm lực lượng về Sài Gòn? Giữ bên ngoài thì bên trong sơ hở vì không còn lực lượng. Còn bỏ bên ngoài lui về giữ bên trong thì bài học Tây Nguyên cho chúng thấy, sẽ là một sự hỗn loạn và càng chóng đến chỗ diệt vong. Đằng nào cũng chết, không cách gì gỡ được, cái thế của địch là thế chết. Nhưng thế trận sáng 30 tháng 4 là các Sư đoàn 5 và 25 nguỵ dù muốn co về Sài Gòn cũng không được nữa rồi, vì ta đã vây chặt chúng ở vòng ngoài trong khi đó ta phóng những mũi đột kích rất mạnh thọc thẳng vào nội thành. Sư đoàn 25 nguỵ đóng ở căn cứ Củ Chi, còn gọi là Đồng Dù. Căn cứ này do Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” của Mỹ từ Hawaii đến lập ra năm 1966 để chặn đường tiến quân của ta về Sài Gòn và phá các cơ sở địa bàn đứng chân của ta ở đây. Bọn chỉ huy Sư đoàn 25 dùng dây thép gai chặn các cổng ra vào đã khoá chặt để ngăn bọn lính nguỵ chạy trốn và nêu khẩu hiệu “tử thủ”.

Từ sáng 29 tháng 4, Quân đoàn 3 dùng xe tăng đánh thẳng vào vị trí, xông thẳng về phía căn hầm tên Tư lệnh sư đoàn. Bọn tham mưu địch bỏ chạy tán loạn. Cổng chính đã mở và sĩ quan, binh lính địch nhảy qua mọi vật chướng ngại, kể cả dây thép gai và bãi mìn để chạy. Quân ta bắn chỉ thiên để buộc chúng đứng lại đầu hàng. Tên Tư lệnh sư đoàn lẩn trốn nhưng rồi cũng bị bắt.

Mất Đồng Dù địch rất hoang mang dao động. Lực lượng địch án ngữ hướng tây bắc không có đường rút về Sài Gòn. Nắm vững thời cơ đó, Sư đoàn 316 của Quân đoàn 3 bố trí chốt chặn cắt đường, bao vây địch từng đoạn kịp thời chuyển sang tiến công, đánh chiếm trận địa pháo Lập Tảo, phát triển đánh Phước Hiệp, Suối Sâu, Trà Võ, Bến Mương, Bầu Nâu, Cẩm Giang, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ Trung đoàn 46 nguỵ, bắt 600 tên.

Sư đoàn 10, sư đoàn thọc sâu của Quân đoàn 3, ngày 29 tháng 4 đánh chiếm Hóc Môn, trại Quang Trung, Bà Quẹo, thừa thắng sáng 30 tháng 4 đánh thẳng tới Ngã tư Bảy Hiền, chiếm cổng số 5 của sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tư lệnh dù địch.

Sang ngày 30 tháng 4, Sư đoàn 10 bắt đầu tiến công sân bay Tân Sơn Nhất và một bộ phận lực lượng phối hợp với Quân đoàn 1 đánh sang Bộ Tổng Tham mưu nguỵ. Từ 8 giờ đến 8 giờ 30 phút, pháo ta bắn cấp tẩp vào sân bay. Lửa khói bốc ngút trời. Tiếng pháo vừa dứt, bộ binh Trung đoàn 24 ngồi trên xe tăng, xe bọc thép nhanh chóng xông lên đánh chiếm Ngã tư Bảy Hiền, thừa thắng phát triển vào cổng số 5 của sân bay. Ở đây địch chống cự quyết liệt dùng cả máy bay oanh tạc vào đội hình chiến đấu của ta. Quân ta tăng thêm lực lượng đột kích liên tục, đến 9 giờ 30 phút thì chiếm được cổng sân bay. Cùng thời gian đó một cánh quân khác đánh chiếm Bộ Tư lệnh sư đoàn dù nguỵ, bắt liên lạc với phái đoàn quân sự ta ở trại David. Một cánh quân thứ ba đánh thẳng vào khu truyền tin, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 không quân và Bộ Tư lệnh không quân nguỵ.

Phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 24, lúc 9 giờ 30 phút, Trung đoàn 28 cũng bắt đầu đánh thẳng vào cổng chính của Bộ Tổng Tham mưu nguỵ.

Sư đoàn 5 nguỵ giữ căn cứ Lai Khê trên đường số 13 cách Sài Gòn hơn 50km về phía bắc cũng bị Quân đoàn 1 tiến công dữ dội. Đây cũng là một căn cứ do Sư đoàn 1 “Anh cả đỏ” của Mỹ lập ra năm 1965. Khi mất liên lạc với Sở chỉ huy Quân đoàn 3 nguỵ và thấy tình hình chung ở Sài Gòn hết sức nguy ngập, tên Chuẩn tướng nguỵ Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 ra lệnh tập trung xe cộ để chuyển toàn bộ sư đoàn về Sài Gòn. Nhưng đường đi Sài Gòn ta đã chiếm giữ, hắn cùng đơn vị bị chôn chân trong căn cứ. Một bộ phận Quân đoàn 1 ta đánh thẳng vào căn cứ Lai Khê. Lê Nguyên Vỹ tự sát, tên phó của hắn chạy trốn, cơ quan tham mưu Sư đoàn 5 nguỵ bị ta bắt gọn.

Một cánh quân khác, Sư đoàn 312 thuộc Quân đoàn 1 từ 5 giờ đến 10 giờ ngày hôm đó tiêu diệt và bức hàng toàn bộ quân địch ở căn cứ Phú Lợi gồm lực lượng của tiểu khu Bình Dương và một bộ phận Sư đoàn 5 nguỵ.

Dự đoán đúng đường rút lui của địch, quân ta bố trí chốt tại khu vực An Lợi trên đường số 14 nên đã bắt gọn 36 xe và 1.200 tên địch đầu hàng. Tại khu vực Búng trên đường số 13 quân ta bắt 7.000 tên thuộc Sư đoàn 5 địch chạy về Lái Thiêu.

Trong khi đó, Sư đoàn 320 với sự phối hợp của các binh chủng của Quân đoàn 1 đánh chiếm Lái Thiêu tiến về cầu Bình Phước đã được bộ đội đặc công chiếm giữ từ mờ sáng. Trên đường tiến, lúc 8 giờ 30 phút đơn vị này đã tiêu diệt, phá huỷ và bắt 180 xe các loại của Lữ đoàn 3 kỵ binh nguỵ, sau đó phát triển về khu Bộ Tư lệnh các binh chủng của địch ở Gò Vấp. Một cánh khác cũng của sư đoàn thọc sâu triển khai đánh địch từ ngã tư cầu Bình Phước đến cầu Bình Triệu diệt và làm tan rã nốt lực lượng còn lại của Lữ 3 kỵ binh, bắt xe tăng địch dẫn đường cho ta tiến về Bộ Tổng Tham mưu nguỵ.

Trên bản đồ tác chiến của nguỵ ở Bộ Tổng Tham mưu, địch ghi một câu hỏi: “Còn Sư đoàn 308 ở đâu?”. Sư đoàn 308 là một trong những sư đoàn chủ lực thiện chiến và anh hùng của ta mà địch chưa thấy xuất hiện ở mặt trận. Trong những sự sợ hãi của địch, có một cái sợ theo học thuyết quân sự tư sản: “Sợ nhất là sự im lặng của lực lượng đối phương”.

Sư đoàn 18 nguỵ trên đường rút chạy về Thủ Đức, rất hoảng sợ khi thấy quân ta đã đứng chặn ở phía trước. Tên Tư lệnh sư đoàn và bọn sĩ quan tham mưu nguỵ cải trang đi lẫn vào đám tàn quân hỗn loạn lén lút chạy trốn về Sài Gòn.

Quân đoàn 4 từ 7 đến 9 giờ sáng tập trung lực lượng đánh chiếm Sở chỉ huy Quân đoàn 3 nguỵ, Hốc Bà Thức sát sân bay Biên Hoà, đánh tan quân địch chống cự ở Hố Nai, Tam Hiệp; chuẩn bị thọc vào Sài Gòn.

Cánh Quân đoàn 2, sau một đêm điều chỉnh đội hình bổ sung hiệp đồng, sáng ngày 30 tháng 4 cho binh đoàn thọc sâu, dưới sự chi viện của 3 trận địa hoả lực, có đặc công, biệt động dẫn đường, bắt đầu vượt cầu xa lộ sông Đồng Nai nhằm thẳng hướng nội thành Sài Gòn mà tiến.

Dọc đường quân đoàn dùng hoả lực trong hành tiến diệt các ổ đề kháng địch ở Thủ Đức, phía bàc cầu Rạch Chiếc.

9 giờ 30 phút bộ phận đi đầu đến cầu Rạch Chiếc. Cầu này đã được quân biệt động ta đánh chiếm trước và giữ cho đến lúc quân chủ lực tới.
Những bộ phận đi đầu của Đoàn 232 trên hai hướng tây nam và nam, đang tiến gần về phía Biệt khu thủ đô và Tổng Nha cảnh sát nguỵ.

Trên đường số 4, ta vận động tiến công tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ Sư đoàn 22 nguỵ mới khôi phục, Liên đoàn 6 biệt động quân, giải phóng thị xã Tân An, đánh chiếm Chi khu Thủ Thừa.

Cũng trong sáng ngày 30 tháng 4, để hòng vớt vát được chút gì, nguỵ quyền Sài Gòn triệu tập một cuộc họp các “tổng trưởng” nguỵ ở “Dinh Độc lập” để làm lễ ra mắt “tân nội các” vào 10 giờ sáng.

Nhưng đã quá muộn. Đúng vào lúc 9 giờ 25 phút, chúng được tin đã mất bốn Sư đoàn: 5, 18, 22 và 25, các Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến, thiết giáp bị đánh tan nát, quân ta đã đánh vào Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu, các xe tăng ta đã vượt qua các cầu trên sông Sài Gòn, thành phố bị chia cắt hẳn với Quân đoàn 4 địch ở đồng bằng sông Cửu Long. Trước tình thế đó chúng thấy: thế là hầu như không còn gì nữa và buộc phải đưa ra một tuyên bố của “tổng thống” nguỵ xin ngừng bắn. Bản tuyên bố ấy được viết, thu tiếng nói vào băng ghi âm tại “Dinh Độc lập” và đưa đi phát thanh.

Giữa lúc cả cái “triều đình” cuối cùng của chế độ do Mỹ dựng lên ngồi trong “Dinh Độc lập” thì cửa phòng mở.

Họ đứng cả dậy, tưởng là Quân giải phóng tới. Người bước vào là tên tướng Vanuyxem. Tên này một mình đi vào “Dinh Độc lập”. Hắn xộc lên chỗ phòng “nội các” nguỵ đang ngồi, ngăn lại việc đem cuộn băng ghi âm của “tổng thống” nguỵ đi phát thanh. Rồi hắn gặp “tổng thống” nguỵ để bày kế chặn cuộc tổng công kích của ta vào Sài Gòn.

Mưu ma chước quỷ của Vanuyxem thật là nực cười, hành động thật là thô bạo, trắng trợn, nói nhiều ra chưa tiện, nhưng cũng không giúp được nguỵ quyền đảo ngược tình thế. Cuộn băng ghi âm tiếp tục được đem đi phát thanh. “Tổng thống” nguỵ đề nghị “ngừng bắn” để cùng thảo luận về bàn giao chính quyền”. Đến lúc này địch còn dùng thủ đoạn hòng ngăn chặn bước tiến của quân ta đến toàn thắng?

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã chỉ thị ngay cho mặt trận như sau:

“Tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của địch”.

Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, sau khi thảo luận tập thể, đã ra mệnh lệnh sau đây gửi ngay cho các quân khu, quân đoàn, các đơn vị:
“1. Các quân khu, quân đoàn, đơn vị tiếp tục phát triển tiến công thật nhanh vào các khu vực và mục tiêu đã quy định trong thành phố và địa phương.

2. Kêu gọi quân địch đầu hàng, nộp toàn bộ vũ khí, bắt giữ và tập trung các sĩ quan địch từ cấp tá trở lên.

3. Nếu chỗ nào địch chống cự thì lập tức tiến công tiêu diệt ngay”.

Khi chưa nhận được lệnh nói trên của Bộ chỉ huy chiến dịch và ngay sau khi nghe tin địch yêu cầu ngừng bắn, các đơn vị trên toàn mặt trận vẫn tiến quân nhanh vào các đường phố Sài Gòn. Bộ đội ta nói với nhau: “Không có chuyện ngừng bắn”. Cứ tiếp tục tiến công. Thời cơ nghìn năm có một là đây”. Chúng tôi rất mừng thấy cán bộ và chiến sĩ ta quả là trưởng thành nhiều và hết sức nhạy bén về chính trị, có ý chí quyết thắng rất cao, có tinh thần kỷ luật và tinh thần trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc, quán triệt đầy đủ quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị.

Điều mới lạ nhất của chiến dịch lịch sử này chính là cái đã nảy ra trong tâm hồn cán bộ và chiến sĩ ta. Cái gì đã làm nên khí thế bộ đội ta ra quân hùng dũng nhất, kiên quyết nhất trong chiến dịch năm nay? Cái gì đã làm cho bộ đội ta ai cũng hiểu rõ quyết tâm lớn của Đảng, của dân tộc, hiểu rõ thời cơ vô cùng quý giá này và hiểu rõ cách đánh chưa từng thấy này? Cái gì đã làm cho bộ đội ta dũng cảm, khẩn trương một cách lạ thường, thông minh về chính trị một cách xuất sắc vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh này?

Ý chí và bản lĩnh ấy của quân đội ta không phải một ngày mà có được. Đây là kết quả cả một quá trình liên tục tiến hành công tác tư tưởng và công tác tổ chức của Đảng trong các lực lượng vũ trang. Và trong 30 năm chiến đấu vừa qua, có chiến dịch nào mà Bác Hồ chẳng cùng bộ đội ta hành quân. Ra trận năm nay, toàn quân ta có sức mạnh phi thường chưa từng có khi trận quyết chiến chiến lược này mang chính tên Người: Hồ Chí Minh, đối với mỗi cán bộ, mỗi chiến sĩ ta là niềm tin, là sức mạnh và lẽ sống.

Trong những cánh quân trùng trùng điệp điệp tiến lên phía trước, mỗi chiến sĩ ta rạo rực trong lòng niềm tin chiến thắng, tràn trề hy vọng vào tương lai dân tộc và tình yêu đất nước. Sức bật của Tổ quốc tích luỹ nhiều năm hôm nay chính mắt anh chiến sĩ được thấy và sức bật của chính anh không thủ đoạn nào của kẻ thù ngăn lại được.

Các cánh quân tiến nhanh về năm mục tiêu chủ yếu để rồi từ đó toả ra.

Nhìn trên bản đồ tác chiến, năm cánh quân của ta như năm bông sen nở tung ra từ năm mục tiêu tiến công chủ yếu. Quân đoàn 1 đã chiếm Bộ Tổng Tham mưu nguỵ và khu Bộ Tư lệnh các binh chủng địch. Quân đoàn 3 chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và đã gặp một cánh quân trụ sẵn ở đây: phái đoàn quân sự của ta ở trại David, một cảnh gặp nhau lý thú đầy xúc động. Quân đoàn 4 chiếm Bộ Quốc phòng nguỵ, cảng Bạch Đằng và Đài phát thanh.

Đoàn 232 chiếm Biệt khu Thủ đô và Tổng Nha cảnh sát nguỵ. Quân đoàn 2 chiếm “Dinh Độc lập”, nơi bọn nguỵ đầu sỏ tay sai Mỹ bán Độc Lập, buôn máu người và buôn lậu Bộ đội ta xông ngay lên gác, nơi “nội các” nguỵ đang họp và bắt ngay tại chỗ toàn bộ đầu sỏ nguỵ quyền trung ương, kể cả “tổng thống” nguỵ. Bộ đội ta xử trí linh hoạt, tuyên bố vững vàng, biểu hiện khí thế một quân đội chiến thắng. Cờ cách mạng tung bay trên “Dinh Độc lập”. Lúc ấy là 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4. “Dinh Độc lập” trở thành hợp điểm của các cánh quân giải phóng Sài Gòn.

Tại Sở chỉ huy mặt trận, chúng tôi mở các máy thu thanh để nghe. Tiếng của “tổng thống” nguỵ quyền nói xin hạ vũ khí đầu hàng quân ta không điều kiện.

Sài Gòn hoàn toàn giải phóng! Toàn thắng! Chúng ta toàn thắng rồi! Tất cả chúng tôi trong Sở chỉ huy đều nhảy lên, reo lên, ôm hôn nhau, công kênh nhau. Tiếng vỗ tay, tiếng cười ran, tiếng nói vui, náo nhiệt, ríu rít, tưng bừng như cả mùa xuân ập đến. Một cảnh tượng mừng vui không gì tả được Các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng ôm chầm lấy tôi và tất cả cán bộ, chiến sĩ có mặt. Tất cả chúng tôi nghẹn ngào, xúc động vì sung sướng. Tôi châm một điếu thuốc lá hút. Đồng chí Đinh Đức Thiện mắt đỏ hoe nói: “Bây giờ nếu có nhắm mắt cũng yên lòng”. Cái giây phút lịch sử thiêng liêng này, sảng khoái và hả hê này, cả một đời người, cả nhiều đời người mới có. Đời chúng ta biết nhiều buổi sớm mai thắng lợi, nhưng không buổi sớm mai nào tươi đẹp, rực rỡ, trong mát? ngát thơm như buổi sớm mai toàn thắng hôm nay, buổi sớm mai em bé lớn thêm, cụ già trẻ lại.

Điện của Bộ Chính trị gửi cho chúng tôi: “Đã nhận được tin ta đã cắm cờ trên “Dinh Độc lập”, gửi các anh lời chúc mừng đại thắng. Bộ Chính trị rất vui!”. Và có cả tiếng nói từ trái tim Tổ quốc qua máy điện thoại truyền đến chúng tôi: “Chúc mừng đại thắng. Các anh trong ấy có nghe thấy tiếng pháo nổ không? Hà Nội đang ran tiếng pháo đấy”.

Cả Hà Nội đổ ra đường, đốt pháo, tung hoa, vẫy cờ. Hà Nội thủ đô của cả nước, Hà Nội anh hùng, nơi có Bác Hồ và bộ óc vĩ đại của Đảng ta, đã cùng toàn quốc làm nên chiến thắng này. Rừng người, biển người tràn đi các phố trong tiếng reo ca. Cả nước ta ra đường hít sâu không khí ngày vui trọn vẹn. Cả nước ta nhảy mừng ngày hoà bình thật sự sau 30 năm chiến tranh, ngày xoá hoạ chia cắt và kết thúc nỗi khổ phân ly.

Tất cả nhân dân ta, trừ bọn bán nước, dào dạt tự hào, phấn chấn, cất cao tiếng hát toàn thắng. Khuôn mặt nhân dân ta chưa bao giờ đẹp bằng hôm nay. Nhân dân anh hùng chúng ta xứng đáng với chiến công vĩ đại này và chính thắng lợi lịch sử này mang nặng công sức trời biển và những hy sinh to lớn của nhân dân ta. Từ nay đất nước liền một dải, non sông về một mối, hoà bình thật dứt khoát, độc lập thật hoàn toàn. Gia đình đoàn tụ mà dân tộc cũng đoàn viên.

Đồng chí Võ Xuân Sáng, cán bộ bảo vệ của tôi, là người chụp ảnh không chuyên nhưng đã ghi được quang cảnh hồ hởi của Sở chỉ huy vào phút toàn thắng đầu tiên.

Chúng tôi vui quên ăn, quên nghỉ. Và chúng tôi đã khóc.

Phải, nước mắt chỉ để dành cho ngày toàn thắng hôm nay mà cả mấy thế hệ đã chiến đấu trọn nghĩa, trọn tình và đã gửi gắm cuộc đời mình vào đó.

Ý nghĩ và ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi vào giây phút đầu tiên của toàn thắng là nghĩ về Bác Hồ kính yêu, mà tên tuổi gắn liền với chiến dịch lịch sử vĩ đại này, gắn liền với mọi thắng lợi của nhân dân ta. Nhân dân và quân đội ta sung sướng báo cáo với Bác rằng, điều căn dặn của Bác đã được thực hiện hết sức tốt đẹp. Hôm nay vẫn có tiếng chuông reo trên nhà sàn của Bác báo tin thắng trận, vẫn có tiếng kèn toàn thắng tràn qua song cửa lọt vào trang thơ trên bàn của Bác, vẫn có cánh tay Bác trìu mến vẫy gọi đến Bác ôm hôn, vẫn có hình dáng Bác trong ngày hội toàn thắng vẻ vang, bắt nhịp cho chúng ta hát.

Các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng và tôi tựa ghế nhìn bản đồ thành phố Sài Gòn trải rộng trên bàn. Chúng tôi nghĩ đến nhiều công việc bề bộn đang đặt ra. Điện, nước ở Sài Gòn có tiếp tục hoạt động được không? Nguỵ quân tan rã tại chỗ đông gần một triệu, nên giải quyết như thế nào? Làm cách nào cứu đói cho dân và tìm công ăn việc làm cho hàng triệu người thất nghiệp? Cần xin Trung ương gửi gấp vào những vật tư gì để nuôi sống các nhà máy ở Sài Gòn? Làm sao xây dựng được nhanh chóng chính quyền cách mạng ở cơ sở? Chính sách đối với giai cấp tư sản nên như thế nào? Và làm thế nào để đưa miền Nam đi lên chủ nghĩa xã hội cùng cả nước? Sự kết thúc cuộc chiến đấu này là sự mở đầu một cuộc chiến đấu khác, phức tạp và gian khổ không kém. Khó khăn có nhiều nhưng thuận lợi không ít, Sài Gòn và miền Nam đi trước về sau xứng đáng được hưởng cuộc sống hoà bình, ấm no, hạnh phúc.

Đến đây tôi thấy có nghĩa vụ phải nôi thêm đôi điều về vai trò của nổi dậy của nhân dân miền Nam trong trận quyết chiến cuối cùng này. Đó cũng còn là sự thôi thúc của tình cảm đối với đồng bào miền Nam, những anh hùng đã điểm tô những nét tươi sáng tuyệt vời làm nổi bật vẻ hoành tráng của bức tranh chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Trong lịch sử các cuộc chiến tranh giải phóng, thật hiếm có trường hợp một thủ đô của địch “bão hoà” về lực lượng vũ trang và bộ máy kìm kẹp, nhưng lại luôn luôn bất ổn về chính trị, nhiều lần rung chuyển lung lay vì các cuộc đấu tranh bền bỉ, quyết liệt của nhân dân như trường hợp thành phố Sài Gòn.

Ở giai đoạn kết thúc của cuộc chiến tranh cứu nước, do tác động của bước chuyển biến quan trọng về lực lượng so sánh, chưa bao giờ hai mặtđấu tranh quân sự, chính trị có điều kiện thuận lợi để kết lại thành cao trào tiến công như bây giờ. Và các đồng chí lãnh đạo địa phương đã nhạy bén nắm bắt vận hội, tiến hành công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức sâu rộng, đầy khí thế, đưa quần chúng lên trận tuyến diệt thù, giành lại quyền làm chủ quê hương. Những ngày cuối tháng tư này đã trở thành những ngày hội thực sự của nhân dân lao động Sài Gòn nói riêng và của miền Nam nói chung. Sau khi đòn tiến công quân sự đã đập tan cái vỏ cứng bao quanh thành phố trong ngày và đêm ngày 29-4-1975, cùng nhịp bước với đà tiến của đại quân đã có hơn một trăm điểm nổi dậy của quần chúng, hợp sức với các đội đặc công, biệt động đánh chiếm các mục tiêu đã quy định, giành chính quyền ở cơ sở, chiếm xưởng, chiếm sở, giữ gìn hồ sơ, máy móc không cho địch phá hoại. Có thể nói toàn bộ những cơ sở kinh tế lớn trong nội thành đều được nhân dân chiếm giữ, bảo vệ, giao lại cho cách mạng.

Quân ta vào tới đâu, rừng cờ cách mạng hiện ra tới đó, nhân dân đổ ra đường đón mừng bộ đội, không khí rộn rịp, tưng bừng, từ vùng ven đến nội thành, tạo ra khí thế cách mạng sôi nổi hào hùng.

Quan trọng hơn nữa, được giúp sức bởi quy mô, cường độ và thắng lợi của đòn quân sự, nhân dân đã dấy lên một phong trào làm binh vận, góp phần thúc đẩy sự tan rã hoàn toàn của hơn nửa triệu quân nguy gồm quân tại chỗ và tàn quân bị đại quân ta đánh vào Sài Gòn. Đồng bào khuyên giải, kêu gọi binh lính nguỵ “cởi áo, tháo giầy, vứt súng” đầu hàng, bỏ ngũ, chỉ nơi lẩn trốn của chúng cho bộ đội ta lùng bắt, giữ gìn trật tự, an toàn trên các đường phố.

Như các hãng thông tấn nước ngoài đã thuật lại, ngay khi Dương Văn Minh đang nhậm chức Tổng thống nguỵ, nạn cướp bóc đã lan rộng khắp thành phố, kỷ luật đã tan vỡ hoàn toàn. Hàng ngàn thường dân và lính đào ngũ đã tấn công các kho lương thực, thực phẩm của Mỹ trong những phút cuối của chế độ cũ, cuộc sống cũ. Phương Tây tiên đoán một cuộc “tắm máu” những thành phố bị tan nát, như ở châu Âu trong chiến tranh thế giới thứ hai, khi Việt cộng vào thành phố. Họ không thể ngờ và không hết ngạc nhiên khi thấy cuộc chiến đã kết thúc “gọn gàng” và “sạch sẽ” đến như vậy. Ngay trong ngày giải phóng, một thành phố đông tới trên ba triệu dân vẫn có điện, nước sinh hoạt bình thường, sinh mạng, của cải của dân chúng được bảo đảm không hề có cảnh “hỗn quân, hỗn quan” như mấy ngày “rã đám” của nguỵ quyền.

Quả là một kỳ tích chỉ có thể có khi đại nghĩa dân tộc, chính sách của cách mạng đã di vào lòng người khiến họ vùng lên, giành quyền làm chủ vận mệnh của mình, hoà nhịp với đòn sấm sét của các binh đoàn chủ lực. Đó là gì, nếu không phải là một dạng nổi dậy trong chiến tranh, một nét độc đáo trong thế trận tiến công tổng hợp của chiến tranh cách mạng miền Nam.

Sài Gòn và Gia Định được giải phóng tạo điều kiện quyết định bắt Quân đóàn 4 nguy đầu hàng, giải phóng nốt đồng bằng sông Cửu Long. Theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân uỷ trung ương, Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh dự kiến sẽ dùng một bộ phận quân chủ lực và binh khí kỹ thuật tiến về đồng bằng sông Cửu Long tiêu diệt nốt Quân đoàn 4 nguỵ nếu chúng còn ngoan cố chống cự. Nhưng phương án này đã không phải thực hiện vì lực lượng tại chỗ của quân dân hai Khu 8 và 9 đã hoàn thành mục tiêu ấy một cách chủ động và sáng tạo với nhiều hình thức đấu tranh rất phong phú.

Ngay từ đầu tháng 4 năm 1975, Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền đã ra chỉ thị cho mặt trận đồng bằng sông Cửu Long chuẩn bị gấp cho tổng công kích và tổng khởi nghĩa phối hợp với mặt trận Sài Gòn – Gia Định. Chỉ thị quy định đồng loạt tiến công và nổi dậy từ ngày 29 tháng 4 theo phương châm đã nêu là tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã bằng lực lượng của địa phương mình.

Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 8 và 9 đã tổ chức bốn mặt trận:

– Mặt trận cắt đường số4.

– Mặt trận vành đai bao vây tiến công Cần Thơ (gồm Bộ Tư lệnh vùng 4 nguỵ và hai sân bay Trà Nóc, Lộ Tẻ).

– Tham gia cánh quân phía nam giải phóng Sài Gòn.

– Huy động lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương nổi dậy tự giải phóng.

Quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ chia cắt, kìm giữ địch trên khu vực phía nam của chiến dịch, đồng thời đưa lực lượng tiến theo đường số 4 cùng các quân đoàn chủ lực tiến công Sài Gòn.

Cánh quân này đến đêm 29 tháng 4 đã tiến đến cầu chữ Y, sang ngày 30 tháng 4 vượt cầu, tham gia đánh chiếm Bộ Tư lệnh cảnh sát nguỵ, Biệt khu Thủ đô, sau đó đánh chiếm khu Nhà Bè.

Ngày 30 tháng 4 và mồng 1 tháng 5 cuộc tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn đồng bằng sông Cửu Long đã diễn ra đồng loạt theo kế hoạch với nhịp độ dồn dập, mạnh mẽ, nhận chìm căn cứ cố thủ cuối cùng cũng là niềm hy vọng cuối cùng của địch.

Lực lượng địch ở đây có ba sư đoàn 7, 9, 21 với các đơn vị thiết giáp, pháo binh, giang đoàn và bảo an dân vệ cùng với Bộ Tư lệnh không quân nguỵ từ Tân Sơn Nhất chuyển về Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 và Quân khu 4 địch đóng ở Cần Thơ có Sư đoàn 21 địch bảo vệ. Tại đây địch chống cự quyết liệt ở tuyến vòng cung ngoại vi, song tình thế của chúng đã tuyệt vọng. Sư đoàn 4 chủ lực của Quân khu 9 đã đánh chiếm sân bay Trà Nóc, sau đó nhanh chóng tiến vào khu trung tâm thành phố. Lực lượng biệt động phối hợp với quần chúng nổi dậy phá trại giam, giải thoát gần 1.000 cán bộ và đồng bào bị địch giam giữ, chiếm đài phát thanh và làm chủ các phường, khóm. Thiếu tướng nguỵ Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 kiêm Tư lệnh Quân khu 4 vẫn ngoan cố ra lệnh chống trả mặc dù lúc này Tổng thống nguỵ đã tuyên bố đầu hàng. Đến chiều ngày 30 tháng 4, Nguyễn Khoa Nam triệu tập Chuấn tướng Mạnh Văn Trường – Tư lệnh Sư đoàn 21 nguỵ đến họp để bàn mưu tính kế đối phó với ta. Nhưng dưới sức ép áp đảo của ta, các Trung đoàn 31, 32, 33 nguỵ cùng phần lớn cơ quan chỉ huy Sư đoàn 21 đã tự động vứt bỏ vũ khí cởi áo lính, trốn chạy về nhà. Nguyễn Khoa Nam tự kết liễu đời mình, chỉ còn một số sĩ quan cao cấp nguỵ ở lại xin đầu hàng ta vào lúc 20 giờ cùng ngày.

Tại Mỹ Tho, trưa ngày 30 tháng 4 đội biệt động của Thành đoàn thanh niên lao động phát động quần chúng ở một số phường trong thị xã nổi dậy, kêu gọi binh lính, cảnh sát, phòng vệ dân sự nộp súng cho cách mạng. Một số học sinh dùng xe máy, xe lam chạy qua các phố gọi loa báo tin Dương Văn Minh đã đầu hàng. Quân địch ở bến chương Dương xả súng vào các xe này làm một số em hy sinh, bị thương. Đến chiều ngày 30 tháng 4 lực lượng bộ đội địa phương tỉnh phối hợp với lực lượng vũ trang quần chúng tại chỗ chiếm Ty Công an, tiểu khu Định Tường.

Trung đoàn 1 (Sư đoàn 8, Quân khu 8 của ta) diệt Thiết đoàn 6 ở Chợ Cũ. Chuẩn tướng nguỵ Trần Văn Hai, Tư lệnh Sư đoàn 7 nguỵ phụ trách bảo vệ Mỹ Tho và căn cứ Đồng Tâm triệu tập bọn sĩ quan thuộc quyền đến họp nhưng thuộc hạ đã lũ lượt bỏ trốn chẳng còn ai. Chán nản và tuyệt vọng, Trần Văn Hai tự sát lúc 3 giờ sáng ngày mồng 1 tháng 5. Sư đoàn 7, sư đoàn mạnh nhất của Quân đoàn 4 nguỵ như vậy là đã bị xoá sổ.

Tại Gò Công, ngay từ đầu tháng 4 cán bộ binh vận của ta đã móc nối được với nhiểu cơ sở trong các đơn vị bao an dân vệ nên khi nhận được tin Sài Gòn giải phóng, các lực lượng chính trị của ta đã kịp thời hành động, nổi dậy chiếm thị xã hồi 15 giờ ngày 30-4. Sau đó họ đón hai đại đội địa phương tỉnh về tiếp quản thị xã.

Tại Trà Vinh, sáng ngày 30-4 lực lượng vũ trang tỉnh từ nhiều hướng tiến về thị xã phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ và nhân dân bức hàng các đồn bảo an, chiếm sân bay, trận địa pháo binh. Bộ phận còn lại của địch chạy về dinh tỉnh trưởng chống trả quyết liệt. Nhưng trước khí thế áp đảo của cách mạng đến 10 giờ 30 phút cùng ngày chúng đã buộc phải đầu hàng. Đây là tỉnh được giải phóng sớm nhất ở đồng bằng sông Cửu Long.

Còn ở Long An, Sư đoàn 9 nguỵ do chuẩn tướng Huỳnh Văn Lạc làm Tư lệnh đảm nhiệm giải toả đường số 4 tại khu vực này. Được tin nguỵ quyền trung ương sụp đổ sĩ quan, binh lính địch trong sư đoàn hoang mang cực độ, mất hết tinh thần, nhất loạt bỏ trốn, toàn tỉnh được giải phóng trong khí thế triều dâng thác đổ của đòn tiến công tổng hợp của cách mạng.

Cùng ngày 30-4 lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Sa Đéc được giải phóng. Ngày 1 tháng 5 các tỉnh còn lại: Chương Thiện, Long An, Châu Đốc. Kiến Tường, Bến Tre, Cà Mau lần lượt giành chiến thắng.

Bằng lực lượng của bản thân được xây dựng, tôi luyện và trưởng thành qua mấy chục năm liên tục chiến đấu, lực lượng vũ trang và nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long kết hợp tiến công và nổì dậy, hoà nhịp với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn góp phần hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam Tổ quốc.

Thiết tưởng đến đây câu hỏi về nguyên nhân của sự kết thúc “gọn gàng, “sạch sẽ” của cuộc kháng chiến thần thánh đã nhận được lời giải đáp thuyết phục. Chính những cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam dưới những hình thức khác nhau ở hầu khắp các địa phương trong Mùa Xuân 1975 đã góp phần có ý nghĩa quyết định vào “tốc độ thần tốc” của cả trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, cũng như nhịp độ tiến công vũ bão của các binh đoàn chủ lực.

Ta cũng bắt đầu đưa xe tăng và pháo binh xuống tàu để cùng hải quân và không quân chuẩn bị tiến đánh đảo Côn Sơn, một trận hiệp đồng hải lục không quân đầu tiên của ta. Nhưng lúc tàu sắp rời bến thì được tin các chiến sĩ yêu nước ở Côn Sơn đã nổi dậy tự giải phóng đảo. Riêng đảo Phú Quốc thì Bộ Tư lệnh Quân khu 9 có kế hoạch tăng cường lực lượng để giải phóng. Các tàu hải quân được lệnh đi đón các chiến sỹ yêu nước trên các đảo vừa thoát khỏi nhà giam địch.

Ngày 1 tháng 5, Sở chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh mừng chiến thắng hoàn toàn giải phóng miền Nam và kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động. Kẹo, bánh, nước ngọt bày trên bàn. Và khi thấy có chai rượu, đồng chí Phạm Hùng ngạc nhiên hỏi rượu ở đâu ra, thì đồng chí Đinh Đức Thiện nói “lộ bí mật”:

– Hôm nay nhân tiện cũng là kỷ niệm ngày sinh đồng chí Văn Tiến Dũng, rượu này là của “hậu phương” gửi vào cho đồng chí. Tôi cũng đã uống rượu này ngày 1 tháng 5 năm 1972 ở Quảng Trị.

Trong cánh rừng mặt trận im tiếng súng báo hiệu thời đại Tổ quốc ta đã sang xuân, đồng chí Phạm Hùng vui vẻ mời mọi người nâng cốc chúc mừng ngày toàn thắng. Vinh quang này thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh! Vinh quang này thuộc về Đảng anh hùng, về Trung ương Đảng ta, về Bộ Chính trị. Vinh quang này thuộc về các lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng tuyệt vời của cả nước ta. Vinh quang này thuộc về nhân dân vĩ đại và anh hùng cả nước ta. Vinh quang này thuộc về các anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội của Tổ quốc ta.

Chúng tôi lên xe đi vào Sài Gòn qua những vùng địa bàn chí cốt với sự nghiệp giải phóng Sài Gòn: Trảng Bàng, Củ Chi và những vùng căn cứ cách mạng lâu năm từ thời dựng Đảng: Hóc Môn, Bà Điểm. Trên đường, trong xóm, ngoài phố, không có biển máu mà chỉ có biển người hớn hở vẫy tay, vẫy cờ đón chào hoà bình và cách mạng. Biển người ấy hoà vào dòng xe của bộ đội dài dằng dặc, tự nó báo tin toàn thắng. Dọc đường còn ngổn ngang quần áo, lon ngù, súng đạn, giày, mũ, xe pháo của nguỵ quân thua trận bỏ lại. Ở đây phơi ra không những vết tích của một lực lượng quân sự bị đánh sập mà còn cả vết tích của một học thuyết chính trị phản động tan vỡ, học thuyết của một bọn đế quốc hợm của và sùng bái vũ khí đến mù quáng.

Điều mỉa mai là căn cứ nào, doanh trại nào của địch cũng đắp nổi, sơn vẽ dòng chữ rất to: “Danh dự – Trách nhiệm – Tổ quốc”. Cái mà địch không có chúng thường phải hô to nhiều nhất.

Đường chính vào Sài Gòn rất tốt, trước địch làm để phục vụ các cuộc hành quân. Các căn cứ, kho tàng địch rộng và lớn. Những nhà ngân hàng, những cư xá Mỹ, những khách sạn, nhiều tầng cao, đồ sộ, quảng cáo cho chủ nghĩa thực dân mới với ngụ ý nó sẽ đứng vững chãi ở đây, nó sẽ đứng lâu dài không thời hạn. Năm 1968, Oétmolen huênh hoang: “Chúng ta (Mỹ) sẽ ở Nam Việt Nam mãi mãi. Bom đạn của chúng ta sẽ chứng minh điều đó”. Nhưng sự thật chứng minh đều hoàn toàn ngược lại.

Chúng tôi vào Bộ Tổng Tham mưu nguỵ. Ở đây cũng như ở Tổng Nha cảnh sát nguỵ, các hồ sơ tài liệu tối mật của bọn chỉ huy nguỵ vẫn còn. Chiếc máy tính điện tử hiện đại của địch có bộ nhớ tên tuổi, lai lịch từng tên sĩ quan, tên lính trong số hơn một tríệu quân của chúng vẫn còn chạy. Máy tính điện tử Mỹ không thắng trong cuộc chiến tranh này.

Trí tuệ và ý chí của dân tộc ta đã toàn thắng.

Từ Bộ Tổng Tham mưu nguỵ chúng tôi đến trại David ở sân bay Tân Sơn Nhất. Trong phòng họp báo trước kia của phái đoàn ta, đồng chí Hồ Xuân Anh “đăng cai” cuộc họp đầu tiên của Bộ chỉ huy chiến dịch sau toàn thắng với các Tư lệnh và Chính uỷ các Quân đoàn 1, 2, 3, 4, Đoàn 232 và Đoàn 559 để giao nhiệm vụ cụ thể cho các binh đoàn phải làm trong thời kỳ quân quản thành phố và phân công tiếp quản các cơ sở quân sự của địch.

Mới cách đây 17 ngày, khi giao nhiệm vụ cho từng quân đoàn tiến công vào Sài Gòn và phân công tiếp quản thành phố, chúng tôi chỉ bàn với nhau trên bản đồ. Hôm nay ngồi giữa Sài Gòn đã giải phóng, chúng tôi đã nhìn tận mắt, đến tận nơi để bàn bạc và giao nhiệm vụ “trên thực địa”. Có đồng chí thốt lên: “Nhanh quá. Đẹp hơn cả giấc mơ”.

Ít hôm sau, đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Võ Nguyên Giáp từ Hà Nội đáp máy bay vào Sài Gòn hạ cánh ở sân bay Tân Sơn Nhất. Dưới ánh nắng tháng 5 rực sáng của thành phố Sài Gòn vừa được giải phóng, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn bước xuống máy bay, tay cầm khăn lau nước mắt. Nhiều năm hoạt động gian khổ trên chiến trường miền Nam, đồng chí hiểu sâu sắc giá trị của chiến thắng vĩ đại hôm nay. Gặp các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn, các đồng chí Trung ương Cục và tôi cùng nhiều đồng chí khác ra đón, đồng chí Lê Duẩn ôm hôn thắm thiết, biểu dương việc làm đã qua và nhắc tới nhiều việc quan trọng mới phải làm.

Hôm Chủ tịch Tôn Đức Thắng dẫn đầu Đoàn đại biểu miền Bắc vào Thành phố Sài Gòn dự lễ chiến thắng, các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, các đồng chí trong Trung ương Cục, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Huỳnh Tấn Phát, các vị trong Liên minh các lực lương dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam và nhiều vị khác cùng hàng nghìn nhân dân Sài Gòn đủ lứa tuổi cầm cờ hoa ra đón Bác Tôn tại sân bay Tân Sơn Nhất.

Các đồng chí Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt và tôi lại là thành viên của đoàn miền Bắc. Máy bay vừa dừng giữa tiếng reo mừng của nhân dân, chúng tôi lên máy bay đến chỗ Bác Tôn ngồi để chào Bác. Tôi đứng nghiêm báo cáo với Bác Tôn:

– Báo cáo đồng chí Chủ tịch nước, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam.

Tôi nghẹn ngào không nói được hơn. Thấy Bác Tôn lại nhớ Bác Hồ. Đất nước quang vinh, miền Nam thân yêu hoàn toàn giải phóng thì lại vắng Bác Hồ. Miền Nam luôn trong trái tim Người. Tôi bỗng nhớ đến một ngày năm 1969, trước khi tôi đi sang một nước xã hội chủ nghĩa anh em, Bác Hồ dặn tôi nhớ đến thăm hai cháu du kích gái quê ở miền Nam, trong đó có cháu Kiện bị địch bắt chặt một chân, đang nằm chữa bệnh ở nước bạn. Tôi về nước và ngày 7- 8-1969, trong bữa cơm chiều với Bác Hồ và Bác Tôn, tôi báo cáo với Bác Hồ tình hình sức khỏe hai cháu, đưa Bác tấm ảnh chụp với hai cháu và đưa thư của hai cháu gửi lên Bác Hồ. Bác tỏ ra yên tâm. Người thường ăn không ngon, ngủ không yên khi đồng bào miền Nam còn đau khổ. Đêm đã qua, trời lại sáng mà đồng bào miền Nam không được đón Bác vào. Nhưng ý chí và tư tưởng của Người sống mãi ngàn thu với dân tộc, với đất nước, và với mỗi con người Việt Nam.

Sau lễ chiến thắng trước “Dinh Độc lập” nay trở thành trụ sở Uỷ ban Quân quản thành phố, và mừng kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể các đống chí trong Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, các cán bộ cao cấp chỉ huy các đơn vị, các cơ quan, các ngành tham gia chiến dịch cùng về Đà Lạt dự Hội nghị sơ kết chiến dịch. Tiết trời Đà Lạt tháng 5 làm nhớ đến Hà Nội sang thu. Tính từ khi Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đến nay vừa tròn 5 tháng.

Hội nghị họp tại khách sạn Palace, toà nhà lớn nhất Đà Lạt nhìn xuống hồ Xuân Hương và cả một vùng trung tâm thành phố. Đây là nơi 29 năm trước, trong cuộc đàm phán giữa ta và Pháp, thực dân Pháp ngoan cố đòi tách Nam Bộ khỏi Việt Nam và lập lại ách thống trị cũ dưới một hình thức mới. Hôm nay, tại đây, có đông đủ đại diện các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam, những người đã giành toàn thắng cho Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã giành lại hoà bình, độc lập, thống nhất trọn vẹn cho dân tộc. Anh em đồng chí hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ bên nhau từ mọi hướng chiến dịch, từ mọi mặt trận của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy toàn thắng, người phía trước; người phía sau, lần đầu gặp nhau đông đủ, tay bắt mặt mừng. Nhìn những khuôn mặt thân yêu, chúng tôi nhớ đến giọng nói, dòng chữ, qua đài, qua điện, bao nhiêu phút giây nghiêm trang hoặc căng thẳng, sảng khoái hay hồi hộp của mấy tháng trường chiến dịch đánh không nghỉ.

Đồng chí Phạm Hùng, Chính uỷ, thay mặt Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, khai mạc Hội nghị:

– Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng là đỉnh cao cuộc Tổng tiến công và nổi dậy long trời lở đất của quân và dân ta từ đầu tháng 3 đến ngày 30 tháng 4, đã nhanh chóng đập tan hang cuối cùng của địch, giải phóng Sài Gòn trong một thời gian rất ngắn, diệt, làm tan rã và bắt toàn bộ lực lượng của địch ở các Quân khu 3 và 4, bao gồm các lực lượng tổng dự bị, các quân chủng, binh chủng, các đơn vị chủ lực và địa phương, thu toàn bộ vũ khí, chiếm lĩnh toàn bộ các hải cảng, sân bay, kho tàng, đánh đổ toàn bộ hệ thống chính quyền tay sai từ trung ương đến địa phương, kết thúc toàn thắng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của toàn miền, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Nếu trước đây, với Chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta đã đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ, thì ngày nay, với Clùến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, chúng ta đã kết thúc chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở nước Việt Nam ta, thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu.

Kể từ khi có Đảng, qua gần nửa thế kỷ liên tục đấu tranh, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến nay đã hoàn thành trong cả nước. Thắng lợi này tạo ra đầy đủ những điều kiện cơ bản thuận lợi để nhân dân ta xây dựng thành công một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh, góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới”.

Đồng chí Lê Đức Thọ, thay mặt Bộ Chính trị, biểu dương chiến công vĩ đại của quân và dân ta, phân tích một cách sâu sắc, đầy đủ ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân nói chung và đặc biệt của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng. Đồng chí nói đại ý:

– Chúng ta thắng do nhiều nguyên nhân. Cái chính nhất, cơ bản nhất, quyết định nhất mọi thắng lợi là sự lãnh đạo của Đảng. Thắng lợi còn do những nguyên nhân về truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân ta, tinh thần chiến đấu anh dũng của các lực lượng vũ trang nhân dân ta, sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của bè bạn trên thế giới.

Khi nói đến sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta cần thấy rằng sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương trong quá trình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này là rất đúng đắn và rất chính xác. Thắng lợi hôm nay là kết quả một quá trình lâu dài 30 năm kháng chiến. Cả nước ta kháng chiến 30 năm và 30 năm ấy rèn luyện con người chúng ta, rèn luyện bộ đội chúng ta, cho ta nhiều kinh nghiệm quý. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám tạo điều kiện cho chúng ta kháng chiến chống Pháp thắng lợỉ.

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi tạo điều kiện cho chúng ta xây dựng miền Bắc thành càn cứ cách mạng vững chắc của cả nước để thắng Mỹ. Ta đuổi được quân Mỹ ra mới tạo điều kiện đánh cho ngụỵ nhào. Ngay trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này cũng có sự liên tục chiến đấu để giành toàn thắng. Chúng ta thắng ở Tây Nguyên, nhất là với trận đánh giải phóng Buôn Ma Thuột mở ra đột phá khẩu chiến lược.

Trong quá trình nhiều năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, chúng ta đã làm cho chúng bị bất ngờ nhiều lần.

Khi ký xong Hiệp định Paris, Kissinger nói với ta rằng: Mỹ bị hai cái bất ngờ. Thứ nhất là, lúc Mỹ đánh đường 9-Nam Lào, chúng không ngờ ta điều bộ đội tới đây nhanh đến như thế và lực lượng phòng không của ta ở đây mạnh đến như thế. Thứ hai là, năm 1972 Mỹ không ngờ ta đưa xe tăng vào tới An Lộc. Nhưng không phải chỉ có ở An Lộc, trên chiến trường miền Nam năm 1972, ta còn đánh trên một số mặt trận khác cũng bằng xe tăng. Mỹ không phải chỉ bị hai bất ngờ đó. Cuộc tiến công Tết Mậu Thân cũng là một bất ngờ với Mỹ làm cho chúng thiệt hại lớn và buộc chúng phải thay đổi chiến lược. Miền Bắc đánh thắng máy bay chiến lược B52 cũng là một bất ngờ đối với chúng. Mỹ định huỷ diệt ta mà lại bị ta đánh cho thua đậm. Đấy là một trận thắng tiếp sức rất lớn cho Đoàn đại biểu ta ở bàn đàm phán Paris. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975 của ta, địch lại bị nhiều cái bất ngờ lớn hơn. Điều bất ngờ lớn nhất đối với Mỹ chính là việc đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, là sai lầm chiến lược của chúng.

Đế quốc Mỹ luôn luôn ngoan cố và chúng phải gánh lấy hậu quả việc làm sai trái của chúng. Ngay sau khi đã ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam và trong tháng 6 năm 1973, tại Paris, ta đã nói thẳng với Kissinger như sau:

Chính Mỹ đã vi phạm nghiêm trọng Hiệp định Paris về Việt Nam, tiếp tục chiến tranh xâm lược thực dân mới.

Mỹ cứ cố tình và trắng trợn vi phạm Hiệp định mà lại đòi chúng tôi tôn trọng Hiệp định thì thật là hết sức vô lý.

Chúng tôi không khoanh tay ngồi nhìn các ông vi phạm Hiệp định, không để cho các ông muốn làm gì thì làm đâu.

Chúng tôi không bao giờ chịu phòng ngự một cách bị động.

Chúng tôi giành cho mình quyền tự do hành động trước việc Mỹ vi phạm Hiệp định.

Đây là điều ta đã cảnh cáo Mỹ từ lâu. Ta có thiện chí thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản đã ký kết. Nhưng Mỹ và bè lũ tay sai thì ra sức phá hoại Hiệp định một cách có hệ thống và ngày càng đẩy mạnh chiến tranh, tăng cường các cuộc hành quân khủng bố, đàn áp nhân dân miền Nam. Để bảo vệ Hiệp định Paris và bảo vệ thành quả cách mạng, chúng ta phải đi theo con đường bạo lực cách mạng dựa trên lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, kiên quyết phản công và tiến công địch, đi tới cuộc toàn thắng hôm nay.

Lênin từng dạy: Tránh nhất là khi thắng lợi rồi thì say sưa với thắng lợi. Say sưa thì dễ đi đến chỗ tự mãn và mất cảnh giác. Đế quốc Mỹ thất bại ở Việt Nam nhưng âm mưu đen tối của chúng chưa hết. Chúng luôn luôn tìm cách phá hoại thành quả cách mạng của chúng ta. Chúng luôn luôn xen vào rất dữ, phá rất dữ. Cho nên chúng ta phải xây dựng một nền quốc phòng vữrìg mạnh, một quân đội hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu và luôn luôn có ý chí quyết thắng cao để bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.

Ngoài ra, chúng ta phải hết sức tránh tư tưởng công thần, địa vị. Như đồng chí Lê Duẩn đã nói, chiến thắng này thuộc về Đảng ta, thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, thuộc về nhân dân và các chiến sĩ anh hùng chúng ta, thuộc về các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Thắng lợi này là của cả nước, không thuộc riêng người nào, đơn vị nào, địa phương nào. Sức mạnh của toàn thắng là sức mạnh của cả nước, của mọi người và mọi gia đình, sức mạnh của tinh thần yêu nước và lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Đồng chí Lê Đức Thọ còn phân tích rất sâu sắc nghệ thuật quân sự độc đáo của Việt Nam, đặc biệt nghệ thuật chiến dịch trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

Tôi trình bày bản báo cáo sơ kết Chiến dịch Hồ Chí Minh. Rõ ràng chiến dịch lần này, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta sáng tạo rất nhiều kinh nghiệm độc đáo, sau này tổng kết đầy đủ sẽ làm giàu thêm gấp bội khoa học quân sự Việt Nam, phát triển nghệ thuật quân sự, xây dựng một quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại để bảo vệ nền độc lập, hoà bình lâu dài và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Tổ quốc, sẵn sàng làm tròn nghĩa vụ quốc tế của một quân đội cách mạng, của một đảng mác-xít – lê-nin-nít chân chính bách chiến bách thắng của chúng ta.

Thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 là một thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mở ra một kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn cho Tổ quốc ta.

Thắng lợi có tính lịch sử và thời đại lại quá nhanh.

Phải chăng do đế quốc Mỹ đã nhầm lẫn, ngẫu nhiên bỏ cuộc một cách dễ dàng một cuộc chiến tranh đầy tham vọng để chịu nhận lấy những hậu quả tai hại lâu dài về nhiều mặt cho chúng? Phải chăng do bọn cầm đầu nguỵ quân, nguỵ quyền ngẫu nhiên phạm những sai lầm để cho bộ máy chiến tranh đồ sộ với một đội quân hơn một triệu tên xây dựng nên trong hai mươi năm trời phải bị tiêu diệt, tan rã và đại bại trong vòng chưa đầy hai tháng?

Không phải như thế. Thất bại của địch có tính tất yếu không tránh khỏi và thất bại của chúng do chính chúng ta đã tạo ra. Chiến lược và chiến thuật của ta, thế trận và cách đánh mà ta đã bày ra, dồn địch vào thế tiến thoái lưỡng nan, đằng nào chúng cũng phải thua, không có cách gì xoay lại được tình thế.

Quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị từ đầu là giải phóng miền Nam càng sớm càng tốt. Bộ Chính trị đã khẳng định: nếu Mỹ có quay trở lại, ta cũng kiên quyết đánh, đánh mạnh hơn, và nhất định phải đánh thắng lớn hơn. Ta đã chuẩn bị đầy đủ lực lượng và có sẵn kế hoạch, biện pháp để giáng cho Mỹ những đòn nặng nề hơn. Mỹ đã huy động những lực lượng quân sự khổng lồ trong nhiều năm để tiến hành chiến tranh xâm lược trên đất nước ta, cuối cùng thất bại thảm hại, phải rút ra khỏi Việt Nam: nếu chúng trở lại thì liệu có hy vọng gì đảo ngược được thế trận? Và điều chắc chắn là nhất định chúng sẽ chuốc lấy những thất bại to lớn hơn và nhục nhã hơn. Tình hình so sánh lực lượng cho phép chúng ta khẳng định như vậy. Mỹ không viện trợ thêm vũ khí, đô la cho bọn nguỵ, không phải vì chúng hết lực lượng hoặc vì chúng sai lầm mà cái chính là đứng trước sức mạnh tiến công của ta, trong tình hình chung của nước Mỹ và thế giới, chúng thừa biết rằng, dù chúng viện trợ cho bọn nguỵ nhiều đến bao nhiêu đi nữa, cũng không cứu được bọn tay sai của chúng. Dù Mỹ năm 1975 tiếp tế thêm vũ khí, đạn dược cho bọn nguỵ lớn đến bao nhiêu đi nữa, chắc chắn bọn nguỵ vẫn sụp đổ mà quân ta càng thu được nhiều chiến lợi phẩm hơn.

Cách đánh của chúng ta cũng dồn quân nguỵ vào thế bế tắc hoàn toàn, đằng nào chúng cũng chết. Không phải chúng ngẫu nhiên rút khỏi Tây Nguyên và phải chăng nếu chúng chưa rút ở đây thì chúng chưa thua?

Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột và tiêu diệt quân nguỵ đến phản kích, ta chuẩn bị tiến đánh Pleiku và Kon Tum, vì kế hoạch chiến lược từ đầu năm 1975 của Bộ Chính trị là quyết tâm giải phóng Tây Nguyên. Đứng trước sức mạnh của quân ta đã có mặt ở Tây Nguyên trong tháng 3, địch biết nếu chúng còn ở lại Pleiku, Kon Tum thì nhất định sẽ bị tiêu diệt lớn, cho nên chúng đã tính toán nhiều mặt rồi chúng mới quyết định rút để bảo toàn lực lượng. Khi chúng rút thì lại bị ta chặn lại và tiêu diệt gần hết lực lượng này. Nhưng dù chúng không rút đi nữa thì chỉ ít ngày sau, ta cũng sẽ tiến công Pleiku, Kon Tum và chắc chắn chúng sẽ chịu chung số phận như bọn rút chạy. Địch rút hay không rút, giữ hay không giữ Pleiku, Kon Tum, đều bị tiêu diệt, và Tây Nguyên nhất định được giải phóng. Đấy là do sức mạnh và thế chủ động của quân ta, hoàn toàn không phải sự sai lầm của địch là nhân tố duy nhất quyết định thất bại của chúng. Chỉ có chúng mới ngạc nhiên về sự thua trận và sụp đổ nhanh chóng của chúng, còn chúng ta thì chúng ta tính ra được và biết trước được quy luật tất yếu của chiến tranh. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại rèn luyện và lãnh đạo, từ sự chỉ đạo già dặn, nhạy bén, sáng tạo và kiên quyết của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, từ những cố gắng phi thường của quân và dân cả nước ta.

Trên cơ sở những thành quả đạt được qua quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ của quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ta đã tạo nên thời cơ lớn. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương vận dụng nhuần nhuyễn các quy luật của chiến tranh cách mạng, nắm vững những quy luật chiến tranh xâm lược của địch trong thời kỳ cuối của chiến tranh, thúc đẩy tình hình phát triển nhảy vọt, chuyển sang chiến lược thần tốc, tổng tiến công và nổi dậy, giữ quyền chủ động chiến lược và chi phối quân địch từ đầu chí cuối, làm cho chúng bị bất ngờ và phạm sai lầm, thất bại dồn dập, đi đến sụp đổ hoàn toàn.

Sức mạnh phơi phới của cả nước và tài tổ chức đã làm nên cuộc toàn thắng lịch sử, chắc chắn cũng sẽ làm nên những kỳ tích trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước ta.

Tôi đã thay mặt Bộ chỉ huy chiến dịch biểu dương thành tích xuất sắc của các quân khu, các quân đoàn, quân chủng, binh chủng, sư đoàn, tất cả những đơn vị, cơ quan tham gia trực tiếp chiến dịch cũng như các đơn vị bảo vệ sự vững chắc ở miền Bắc, cám ơn tất cả sự chi viện, giúp đỡ, phối hợp của các ngành, các cơ quan dân chính, các lực lượng, các địa phương đối với quân đội.

Chúng ta có sức mạnh tổng hợp của quân và dân cả nước, của hậu phương và tiền tuyến, của vật chất và tinh thần, của con người và vũ khí, của lòng dũng cảm, trí thông minh, làm chủ được mình và làm chủ được kỹ thuật để đi đến làm chủ được chiến trường, làm chủ được vận mệnh của dân tộc.

Với sức mạnh tổng hợp đó, Mùa Xuân năm 1975, quân và dân cả nước ta đã hái bó hoa Toàn Thắng tươi ngát sắc hương nở trong ánh hào quang chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Xin kính dâng lên Chủ tịch Hồ chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Người đã dìu dắt quân đội và nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Xin kính dâng lên Đảng mến yêu, một Đảng Mác – Lê-nin vững mạnh trải qua nhiều thử thách trăm trận trăm thắng, một đội ngũ kiên cường của phong trào Cộng sản quốc tế.

Xin kính dâng lên các đồng chí, đồng đội và đồng bào thân yêu đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, đã đi trước mở đường cho thắng lợi hôm nay.

Xin chuyển bó hoa Toàn Thắng đến tất cả đồng bào trong cả nước, đến những công dân yêu nước, những anh hùng vô danh của cuộc kháng chiến, đến các cụ và các cháu, đến nhân dân ta nhiều năm thắt lưng buộc bụng, bát gạo chia đôi, mỗi người làm việc bằng hai để góp công, góp của cho cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến toàn thắng hôm nay.

Xin chuyển đến những người mẹ, người chị Việt Nam dũng cảm, dịu hiền, trung hậu, đảm đang đã tiễn chồng, tiễn con và tiễn cháu đi đánh giặc, hy sinh hết mực, chịu đựng vô bờ.

Xin chuyển đến những người lao động chân tay và trí óc đã sản xuất, sáng tác, phát minh dưới tầm bom đạn để tăng thêm sức mạnh vật chất và tinh thần cho toàn dân và toàn quân ta đánh giặc.

Xin chuyển đến tất cả cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân trong Nam ngoài Bắc, đến những chàng trai, cô gái đáng yêu đã từ giã ruộng đồng, xưởng máy, trường học và gia đình, cầm súng đánh giặc, vượt qua bao nhiêu gian khổ, hiểm nguy, chịu đựng bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn; đến mấy lớp người liên tục và mấy màu tóc, cha và con, anh và em, ông và cháu, vợ và chồng đã đi suốt hơn 30 năm, từ Tân Trào, Cao Lạng qua Điện Biên Phủ vào tới Thành phố Hồ Chí Minh cho đến Cà Mau.

Xin chuyển đến anh em, bầu bạn khắp năm châu, những người đã coi việc chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam như của chính mình, đã đứng cùng chiến hào với nhân dân Việt Nam, đã chi viện cả tinh thần và vật chất cho Việt Nam đánh thắng Mỹ.

Và cũng xin chuyển đến toàn thể các bạn đọc một Đại thắng Mùa Xuân mà tôi không thể kể lại được thật đầy đủ.

Từ chân trời, đã ánh lên vừng dương sáng hồng như chân lý cách mạng và Mùa Xuân Đại thắng mà dân tộc ta đã sống.

Hết

Tháng 5 năm 1976
Đại tướng Văn Tiến Dũng

vnthuquan.net

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: