30-4: chiến thắng mang tên Việt Nam

TT – Ngày 14-4, cách đây đúng 30 năm, Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định (sau này là chiến dịch Hồ Chí Minh), khởi đầu cho thắng lợi vẻ vang của dân tộc: thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối.

Phó bí thư thành uỷ TPHCM Lê Hoàng Quân (bìa trái) và các đại biểu tại hội thảo

Đúng 30 năm sau, tại TP.HCM, 300 tướng lĩnh, sĩ quan và các nhà khoa học đã về dự hội thảo khoa học “Đại thắng mùa xuân năm 1975 – bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam” do Bộ Quốc phòng, Ban Tư tưởng – văn hóa trung ương và Thành ủy TP.HCM tổ chức.

“Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang sử chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Đồng chí Nguyễn Minh Triết, ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Thành ủy TP.HCM, đã trích báo cáo chính trị tại Đại hội IV của Đảng (1976) làm đề dẫn trong phần phát biểu chào mừng hội thảo.

Có 117 tham luận khoa học được tập hợp tại hội nghị này. Trên 10 tham luận được trình bày trong ngày đầu tiên. Hầu hết các tham luận đều thống nhất nhìn nhận những nét đặc sắc trong chỉ đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, thể hiện ở mấy điểm lớn được đại tướng Phạm Văn Trà, bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nêu ra: sớm nhận rõ kẻ thù, đánh giá đúng tương quan lực lượng địch – ta, có chủ trương, quyết sách phù hợp từng thời điểm lịch sử, đánh bại địch từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn; giải quyết tốt quan hệ giữa nhiệm vụ cách mạng miền Bắc và miền Nam, tạo sức mạnh to lớn để đánh bại kẻ thù; giữ vững độc lập tự chủ, đồng thời thực hiện đường lối ngoại giao mềm dẻo nhằm tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Chủ đạo là tư tưởng nhân ái

Ở một tầm cao mới, đại tướng Lê Đức Anh, nguyên chủ tịch nước, nhận định sâu sắc: thắng lợi trọn vẹn của chúng ta có nhiều nguyên nhân, “tôi cho rằng chủ đạo là tư tưởng nhân ái”. “Tư tưởng nhân nghĩa bắt nguồn từ truyền thống chí nhân chí nghĩa của dân tộc ta – “Lấy chính nghĩa để thắng hung tàn; Lấy chí nhân để thay cường bạo”, và đã được kết tinh ở tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bác đã dạy chúng ta: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” chứ Bác không nói “đánh tiêu diệt”. Thể hiện tư tưởng này, sau Bác là các đồng chí lãnh đạo kế tục, và rồi tư tưởng đó đã chuyển hóa vào đa số chiến sĩ, đồng bào cả nước, thể hiện ở chỗ: trong chiến tranh khi bắt được tù binh – kể cả ác ôn, lính và sĩ quan Mỹ – ta đều thả hết. Bởi vì chúng ta không có hận thù, trả thù gì cả. Nhiều đồng bào ta ở miền Nam đi theo Bác Hồ, một số bị bắt buộc đứng trong hàng ngũ phía bên kia nhưng trong lòng họ vẫn là tinh thần dân tộc.

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã được tiến hành với tinh thần quyết chiến và toàn thắng giải phóng thành phố Sài Gòn hầu như nguyên vẹn.

Chỉ trong vòng 55 ngày đêm (một sự trùng hợp lạ kỳ với 55 ngày đêm Điện Biên Phủ), với sức mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị, bằng ba đòn chiến lược then chốt và cuộc tiến công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long, hơn một triệu quân ngụy bị diệt và tan rã, ngụy quyền sụp đổ, chế độ thực dân kiểu mới mà đế quốc Mỹ đã dày công xây dựng qua năm đời tổng thống bị đập tan.

(Trích tham luận của đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Bởi vậy tôi cho rằng “nhân ái” là cái gốc, là nhân tố chủ yếu để thắng lợi. Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại vừa qua thì thắng lợi là thắng lợi của toàn dân tộc, đã là người VN thì ai cũng được hưởng vinh quang này”.
Học giả Trần Bạch Đằng cũng nhận định: “Những gì mà chúng ta đạt được trong ngày 30-4 tại Sài Gòn cho thấy tư tưởng quân sự, tư tưởng chiến tranh của Đảng Cộng sản VN chứa tính nhân văn rất cao”. Ông kết luận tham luận: “Một chiến thắng như thế nổi bật trong các chiến thắng chống ngoại xâm của người VN, cần đo lường bằng trái tim, bằng truyền thống vì chiều kích quá lớn của nó”.

“Tấn công” và “nổi dậy”

“Nếu nói tới chiến thắng 30-4-1975 mà chỉ nói về năm cánh quân – năm hướng tiến công, tức là chỉ nói về các “quả đấm chủ lực” thì không đầy đủ” – đại tướng Lê Đức Anh đóng góp. Theo ông, phải thấy rõ đây thật sự là cuộc tổng tiến công và nổi dậy, trong đó “quả đấm chủ lực” với những binh đoàn cơ động là lực lượng nòng cốt của đấu tranh quân sự , với những đòn điểm huyệt đã đánh trúng, đánh hay, đánh hiểm ở những trận then chốt và then chốt quyết định, chọc thủng và làm vỡ tuyến phòng thủ chiến lược của địch, khiến quân địch nhanh chóng lâm vào thế bị động, lúng túng rồi vỡ trận về quân sự, hoảng loạn về tinh thần.

Nhưng để giải quyết đồng loạt, rộng khắp, kịp thời làm cho bộ máy ngụy quyền và đội ngũ ngụy quân với trang bị hiện đại, được viện trợ mạnh của đế quốc Mỹ tan rã, thì phải thấy rõ vai trò tiến công và nổi dậy của lực lượng tại chỗ, của lực lượng chính trị quần chúng, trong đó có lực lượng của những người bị bắt buộc đứng trong hàng ngũ của địch, cơ sở cách mạng trong hàng ngũ địch.

Những dẫn chứng lịch sử từ trình bày của Phó bí thư Thành ủy TP.HCM Võ Văn Cương càng làm rõ hơn nhận định ấy. Ông Võ Văn Cương cho biết: trong những ngày này, để chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn, Trung ương Cục miền Nam đã điều động cán bộ nhiều nguồn về tăng cường cho Đảng bộ Sài Gòn – Gia Định.

Trong nội thành và các vùng ven, Đảng bộ Sài Gòn – Gia Định chỉ đạo các lực lượng lãnh đạo hàng vạn quần chúng đợi thời cơ nổi dậy. Và chính trong những ngày cuối tháng tư, lực lượng vũ trang Sài Gòn – Gia Định với sáu trung đoàn đặc công, một lữ đoàn đặc công biệt động và bốn tiểu đoàn bộ binh đã tham gia chiến dịch, đánh chiếm các sân bay, kho tàng, cầu đường… để dọn đường cho quân chủ lực đánh đòn quyết định.

Ở một phía khác, ông ghi nhận đóng góp của sức mạnh binh vận và lực lượng thứ ba. “Ngày 29-4, được sự chuẩn bị của ngành binh vận, luật sư Triệu Quốc Mạnh (đảng viên, cơ sở nội tuyến trong lòng địch) đã chớp thời cơ khi được giao chức vụ giám đốc Nha Cảnh sát đô thành, ra lệnh giải tán các phòng cảnh sát đặc biệt; lệnh cho tiểu đoàn cảnh sát dã chiến không được nổ súng khi chưa có lệnh; lệnh thả hết tù chính trị; lệnh cho cảnh sát tự do về nhà lo cho gia đình, làm tan rã 16.000 cảnh sát”.

“Sáng 30-4, các lực lượng bí mật, công khai chiến lược của ta có mặt tại dinh Độc Lập đã tiếp cận tổng thống ngụy Dương Văn Minh. Cơ sở nội tuyến bí mật của Ban binh vận Trung ương Cục miền Nam, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá tổng tham mưu trưởng ngụy, đã tác động tư lệnh biệt khu thủ đô Lâm Văn Phát ra lệnh cho các đơn vị quân đội án binh bất động và thúc đẩy tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh ra tuyên bố đầu hàng. Những hành động trên đã góp phần hạn chế đổ máu, tạo thêm thế và lực cho quân và dân ta tiến vào Sài Gòn” – ông kể.

ĐẶNG ĐẠI – HỒNG QUỲNH

Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: