Lòng yêu nước và khát vọng hoà bình

(baodautu.vn) Cho đến bây giờ, sau hơn 35 năm im tiếng súng, tôi vẫn chưa hiểu tại sao sức chịu đựng của con người Việt Nam lại có thể bền dai phi thường đến thế.

Thành cổ Quảng Trị- nơi từng diễn ra những trận chiến ác liệt

Ba mươi năm chiến tranh ái quốc là ba mươi năm mất mát đến kinh hoàng, là ba mươi năm vượt ra ngoài khuôn khổ sức chịu đựng của con người, là ba mươi năm mà nếu không có lòng yêu nước, ý chí tự cường, lòng tự trọng của dân tộc, thì chúng ta sẽ không bao giờ bước qua được những dấu mốc lịch sử khốc liệt như vậy.

Lòng yêu nước sản sinh ra sự lãng mạn, sự lãng mạn hun đúc nên khát vọng chiến thắng. Thử hỏi, những năm cam go mù mịt ấy mà con người chỉ biết vùi đầu vào bom đạn, chết chóc mà không biết thỉnh thoảng ngước nhìn bầu trời cao xanh vời vợi của quê hương, không biết nhìn sâu vào đôi mắt trẻ thơ, em gái, không mộng mơ cồn cào có một ngày được trở về với mẹ già, với người yêu, với bản làng ngõ phố, với nồi bánh chưng lửa bập bùng linh diệu trong đêm trừ tịch…, thì người lính làm sao có thể chịu nổi áp lực nặng oằn của cuộc chiến sống còn.

Và cả điều này nữa, người lính làm sao có thể vượt qua được sự trống trải, tan hoang trong tâm hồn khi ba lần khăn gói lên đường làm cuộc tổng tiến công, nhưng hai lần ngậm ngùi trở lại. Bởi, cuộc sống dẫu có gian truân đến mấy, nhưng nếu nó liền mạch, nó cứ truội đi thì còn đỡ, thành quen, thành bản chất rồi, bỗng một ngày tưởng toàn thắng đến nơi, tưởng không còn phải trở về với rừng xanh bưng biền nữa, sống rồi, nhưng vẫn phải trở về, cảm giác đó rất dễ khiến sức chịu đựng bị đứt lìa, gẫy ngang. Nhưng rồi lạ kỳ thay, vẫn chịu được, coi như tất cả làm lại từ đầu.

Để rồi cái đêm cuối cùng, mấy thằng lính đặc công nằm bên mố cầu với nhiệm vụ chiếm lĩnh trong đêm để sáng mai đón đại quân kéo về vẫn tưởng như mơ, tưởng như trò đùa, lòng dạ chẳng mấy tin vào câu chuyện chỉ có nằm trong cổ tích ấy. Ôi, cái màn đêm cuối cùng của cuộc chiến dài dặc, bạn bè mất mát gần hết ấy mới phập phồng làm sao! Toàn thân bôi đen, bôi đỏ nằm dưới chân mấy người lính gác phía bên kia chờ giờ nổ súng, gió sông Sài gòn mang hương vị bèo lục bình thổi về rượi mát, tiếng bìm bịp kêu lành hiền trong lòng nước, con tắc kè nào khàn khàn gọi tuổi trên chạc cây, giây phút ấy sao cứ thấy đầu óc tan loãng ra, dịu nhẹ, dịu nhẹ đến nỗi chỉ muốn đội cỏ đứng dậy vỗ vào vai người lính mặc sắc phục lạ mà rằng, thôi cậu ơi, đánh nhau thế đủ rồi, đêm nay đẹp quá, tôi với cậu bỏ súng sang một bên vào quán làm một tô hủ tiếu cho ấm bụng! Nhưng rồi chiến tranh vẫn là chiến tranh, giờ G vẫn là giờ định mệnh cho cuộc đấu sinh tử, thay vì tô hủ tiếu và cái vỗ vai chân tình, người lính ướt đẫm sương đêm buộc phải đưa tay vào khoen tạc đạn…

Đêm ấy, chả biết người lính kia có sao không, giải phóng rồi, mấy lần chúng tôi trở về có ý hỏi thăm nhưng chịu, chả một ai biết. Bỗng thấy nao buồn. Thì ra, không ai dễ bỏ qua chuyện cũ hơn những thằng lính đã từng nện vào mặt nhau, nện chí tử nhưng nay thái bình rồi, gặp lại là hào phóng bắt tay, nhậu lai rai vài xị đế, chả ai muốn nhắc lại chuyện cũ, chuyện đã qua, thực chất là một chuyện buồn, chuyện để hiểu nhau và thương nhau hơn, cùng một nòi giống máu đỏ, da vàng gặp lúc loạn ly thì phải vậy thôi.

Dẫu rằng, vết thương chiến tranh để lại sao mãi mới lên được chút da non. Dễ hiểu thôi, đơn vị tôi nằm cách Sài Gòn 15 cây số, nhưng phải 10 năm trời mới hành quân đến được nơi cần đến. Như vậy, mỗi năm chỉ nhích được một cây số rưỡi, chỉ có điều mỗi cây số rưỡi ấy phải để lại hàng trăm xác đồng đội. Thực chất, đây là cuộc hành binh trên những nấm mồ để ca khúc khải hoàn tức tưởi giữa thành đô.

Chiến thắng 30/4! Niềm vinh quang được phát tụ bởi lòng yêu nước mênh mông sâu thẳm này không của riêng ai, và nỗi đau này cũng không chỉ nằm riêng một phía. Hơn 35 năm đã trôi qua, tôi đã có dịp trở về nhiều vùng chiến địa lúc này đây đã không còn một dấu tích ngoài những khu công nghiệp, những trung tâm dịch vụ sáng choang mà bỗng ngộ ra một điều: Chiến tranh có thể là trò đùa, nhưng nỗi đau là có thật. Nỗi đau hiện lên trong bạt ngàn nghĩa trang liệt sĩ, trên các ban thờ nghi ngút khói hương và trong đáy mắt mang nỗi đau vô bờ của những người mẹ, người chị, người vợ ở cả hai bên.

Tôi cũng đã đến thành cổ Quảng Trị, nằm một đêm với đồng đội không còn nữa tại nghĩa trang nghe gió thì thầm những câu chuyện ngày xưa và vẳng đâu đây câu thơ thấm đẫm hồn chiến sĩ của Lê Bá Dương: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/Đáy sông còn đó bạn tôi nằm…”. Để có câu thơ dứt ruột này, chàng thi sĩ lính chiến có hiểu không, khi nơi đáy sông đó không chỉ có linh hồn, thân xác của biết bao chiến sĩ cách mạng, mà còn có rất nhiều những thân xác, linh hồn của người lính phía bên kia, nhiều lắm…

Vâng, có thể người làm thơ không biết, nhưng lịch sử không nên quên. Lịch sử những ngày tháng đau thương và hào hùng này phải ghi lại tất cả, chân tình, sòng phẳng.

Cũng như tôi đã nhìn thấy một bà mẹ từ ngoài Bắc xa xôi vào nghĩa trang đặt vòng hoa lên mồ đứa con duy nhất, sau đó bà lặng lẽ đi vào trong thôn thắp một nén nhang cho đứa con thuộc liên đoàn biệt động Sài Gòn hồi ấy của bà mẹ cũng đang ngồi như hóa đá bên mộ con kia. Hai bà mẹ, hai nỗi niềm, hai mặc cảm giây phút ấy bỗng không còn ngăn cách.

Nhìn đáy mắt hai bà mẹ như cháy khẽ lên một điều lâu nay còn mơ hồ, nhưng nay đã thành hình, thành nét: Trái tim Lạc Hồng, lòng yêu nước mãnh liệt đã tạo nên một non sông liền cõi, một sắc trời tự do khoáng đạt hôm nay, nhưng lòng yêu nước bao giờ cũng hàm chứa sự bao dung đến tận cùng, vì thế sự hòa hợp để cùng nhau vì ấm no dân tộc, xét đến cùng cũng chính là lòng yêu nước.

Chu Lai

baodautu.vn

Advertisements
Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: