Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 1)

MỞ ĐƯỜNG

Giao điểm đường Trường Sơn với đường Hồ Chí Minh qua Tây Giang.

Sau 50 năm, nhóm phóng viên Báo Quảng Nam đã có chuyến đi dọc đường Trường Sơn năm xưa, đường Hồ Chí Minh hôm nay qua địa phận Quảng Nam thực hiện loạt bài để phác họa đôi nét về một con đường đã đi vào huyền thoại…

Chúng tôi thực hiện chuyến đi dọc đường Trường Sơn bằng xe máy trong những ngày cuối tháng tư lịch sử. Cách đây mấy mươi năm, núi rừng nơi đây rầm rập bước chân của hàng vạn bộ đội ào ào tiến về Nam, còn giờ đây Trường Sơn đang đón nhận đợt gió Lào nóng rát đầu tiên của năm. Núi rừng Trường Sơn giờ đã xanh ngút ngàn như cố xóa đi những vết tích của chiến tranh, nhưng ký ức về những năm tháng mở đường năm xưa vẫn im đậm trong tâm trí mọi người khi chúng tôi tìm về.

Ngược dấu chân xưa

Nếu khởi điểm của tuyến đường Trường Sơn là Km số 0 tại Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, nơi xuất phát chuyến hàng đầu tiên vượt rừng vào Nam do “Đoàn công tác đặc biệt”, tức Đoàn 559 hành quân vào ngày 13-8-1959, thì cột mốc T2 với cao điểm 1484 tại thôn Asò, xã A Nông, huyện Tây Giang là nơi khởi đầu tuyến đường Trường Sơn vào địa phận Quảng Nam. Để đến cao điểm này, chúng tôi phải vượt 12km đường đá lởm chởm từ giao lộ đường Hồ Chí Minh hiện nay tại đầu thôn Atép, xã Bha Lêê, huyện Tây Giang. Từ khi mở tuyến đường Hồ Chí Minh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đi suốt Bắc Nam thì 12km này vẫn còn nguyên vẹn của dấu ấn đường Trường Sơn năm xưa, và đây là đoạn đường Trường Sơn dài nhất còn lưu dấu của một thời ác liệt. Chiếc xe máy bò trên những đoạn đường đá nhấp nhô cũng chỉ được gần 8km. Gửi xe lại một nhà dân ven đường, chúng tôi trực chỉ hướng tây “hành quân” trong cái nắng và gió Lào.

Phóng viên Báo Quảng Nam khảo sát tuyến đường Trường Sơn đoạn 12km qua Tây Giang.

Lội bộ hơn 3km không xa, nhưng hôm đó giữa cái nắng đợt đầu như đổ lửa cứ hắt vào mặt người khiến ai nấy cũng ướt đẫm mồ hôi. Đường rừng là những con dốc thẳng đứng bò lên đã rã rời đôi chân, lại phải hứng chịu những đợt gió Lào thổi ngược. Tuyến đường Trường Sơn này rộng khoảng 6m, nhưng cỏ lau và cây rừng đã lấn vào gần hết mặt đường, nhiều đoạn chỉ còn lại một lối mòn đủ một người đi. Con đường đơn độc này lâu nay ít dấu chân người, nhưng thật may là hôm ấy, được bác Alăng Đàn, nguyên Chủ tịch UBND xã A Nông, giờ là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Tây Giang, từng là chiến sĩ giao liên trên tuyến đường này dẫn đường nên chúng tôi không cô độc và thỏa sức “khai thác” kho tư liệu quý ấy.

Cao điểm 1484

Chúng tôi chạm chân đến bìa rừng của ngọn núi Bha – Nơơm hùng vĩ khi mặt trời đã đứng bóng. Đây là ngọn núi cao nhất của dãy Trường Sơn, điểm khởi đầu của tuyến đường Trường Sơn từ Lào qua xã A Nông, huyện Tây Giang. Bác Alăng Đàn nói ngọn núi này vô cùng hiểm trở, dốc đá dựng đứng. Ngay từ đầu năm 1960, địch đã xây dựng dọc vùng ranh giới Việt – Lào tại nơi đây các đồn Atép, Apăl, Caxar… nhằm khống chế việc bộ đội ta mở đường từ Hạ Lào qua. Trên cao điểm 1484, do núi đá dựng đứng không thể trèo lên được, địch cho máy bay chở lính đem theo hàng hóa, đạn dược nhảy dù làm đồn án ngự, khống chế. Những tưởng với đội quân được trang bị vũ khí tối tân đến tận chân răng kẽ tóc, chặn chốt ở những điểm yết hầu sẽ hạ gục ý chí mở đường của bộ đội Trường Sơn. Nhưng chúng đã lầm, chính nơi nguy hiểm nhất lại là nơi an toàn nhất! Sau những chiến thắng vang dội đánh địch tại các vùng Hạ Lào, bộ đội Binh đoàn 559 đã lần theo đường mòn, vượt qua cao điểm 1484.

Bia di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh đông Trường Sơn.

Những năm tháng đó, ngày cũng như đêm, trên cao điểm 1484 địch thi nhau bắn đạn xuống uy hiếp. Nhưng chúng không ngờ rằng ngay ở dưới chân cao điểm, dọc theo sườn núi dựng đứng, bộ đội mở đường của Binh đoàn 559 dùng những cuốc, xẻng, xà beng, đục đá mở những con đường mòn ban đầu đủ một người đi, về sau cứ nới rộng ra dần để cho những đoàn quân âm thầm vượt qua làn bom rơi, đạn nổ ngay dưới chân địch.

Đường đã có rồi, nhưng việc vận chuyển vũ khí, lương thực vượt qua biên giới đi qua ngay dưới họng súng của kè thù lại vô cùng khó khăn và nếu bộ đội Trường Sơn không dựa vào người dân của bản Klô, huyện Kờ Lùm (Lào) và đồng bào Cơtu của bản Asò, Arớt của xã A Nông thì khó hoàn thành được nhiệm vụ vừa mở đường, vừa vận chuyển lương thực vũ khí vào chiến trường. Già làng Alăng Xê, 70 tuổi rồi nhưng còn rắn rỏi, khỏe mạnh lắm. Ông từng là Xã đội phó của xã A Nông, là du kích và là bạn cùng chiến đấu với đơn vị với Alăng Đàn, kể việc người dân của bản tham gia khoét núi, đào địa đạo chung quanh đường Trường Sơn để cất giữ vũ khí, lương thực và là nơi trú ẩn, nghỉ ngơi của bộ đội khi vượt biên giới. Già bảo, ngày xưa thằng giặc nó bảo người Cơtu mình cái đầu ngu lắm, không biết gì nhưng được bộ đội mở đường về đánh thằng giặc nó cướp sắn, đốt rẫy của đồng bào nên đồng bào mình khuyên nhau thà chết chứ không ai khai báo cho giặc.

– Ngày 5-5-1959, lãnh đạo Bộ Quốc phòng thừa lệnh Bộ Chính trị trực tiếp giao cho Thượng tá Võ Bẩm tổ chức “Đoàn công tác đặc biệt”, gọi là Đoàn 559 làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn;

– Ngày 19-5-1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho Đoàn mở đường Trường Sơn;

– Trong 16 năm mở đường, đường Trường Sơn dài 16.700km đường xe cơ giới xuyên qua ba nước Đông Dương, dọc theo 10 tỉnh của Việt Nam, 7 tỉnh của Lào, 4 tỉnh của Campuchia;

-Trên tuyến đường đã có 20 nghìn cán bộ, chiến sĩ hy sinh; gần 5.000 xe tải, pháo bị phá hủy.

Tiến về Nam

Sau cuộc khám phá 12km tuyến đường Trường Sơn còn nguyên vẹn qua xã A Nông, huyện Tây Giang, chúng tôi tiếp tục theo đường Hồ Chí Minh qua xã Bha Lêê, xã A Vương huyện Tây Giang) dài trên 28km, xã Za Hung, A Roi, Mà Cooih và thị trấn Prao (huyện Đông Giang) dài 45km. Tuyến đường Trường Sơn năm xưa giờ được “khoác” lên bộ áo mới bởi trùng với đường Hồ Chí Minh hiện nay nhưng đã rộng thênh thang và thảm nhựa phẳng lỳ. Nhưng ký ức về những tháng năm đầu tiên mở đường qua đây (giai đoạn 1960-1965) vẫn còn in đậm trong tâm trí các cựu chiến binh Binh đoàn 559 và cán bộ lão thành cách mạng. Theo các bác Đoàn Ngọc Giảng, Trung úy Trung đoàn 70, hiện ở tại phường An Xuân, TP. Tam Kỳ; Phạm Hào, Trung úy Binh trạm 04; Nguyễn Thanh Đình, Thượng úy Đoàn 185 hiện ở tại xã Ba, huyện Đông Giang thì những ngày đầu mở đường qua đây vô cùng vất vả bởi núi non hiểm trở, dốc cao dựng đứng và nhiều ngầm, suối chảy xiết. Để có đường, ban đầu chỉ là đường mòn vừa đủ một người đi, bộ đội Đoàn 559 phải treo mình trên những vách núi rồi dùng cuốc, xẻng, xà beng mở đường; nếu núi đá thì phải nổ mìn; khi vượt ngầm, suối thì dùng đôi vai vác đá lấp để tạo những lối đi. Bom giặc cứ rơi, đạn cứ nổ nhưng đường thì không bao giờ tắc, cứ dài ra theo năm tháng, bởi với các chiến sĩ 559 việc mở đường như mở những mạch máu chảy trong cơ thể họ vậy.

Từ năm 1965, do nhu cầu chiến trường ngày càng được mở rộng, bộ đội Trường Sơn tiếp tục mở đường, vượt bến Giằng, xoi mở đường qua Nam Giang. Tại đây, gặp đường 14 làm thời Mỹ – Diệm, bộ đội cùng với lực lượng thanh niên xung phong tiếp tục mở đường, lấp hố bom địch bắn phá đảm bảo cho xe thông tuyến từ Thạnh Mỹ lên Ca Dy (Nam Giang) đi qua 5 xã, thị trấn của Phước Sơn là Phước Xuân, Phước Mỹ, Phước Đức, Phước Năng, Khâm Đức. Tuyến đường đi qua Nam Giang và Phước Sơn để lên giáp tỉnh Kon Tum dài trên 100km, là cửa ngõ của bộ đội ta tiến lên Tây Nguyên nên luôn là tọa độ bắn phá của địch. Giặc muốn biến cung đường này làm mồ chôn Cộng sản nên máu của biết bao chiến sĩ và lực lượng thanh niên xung phong đã đổ xuống…

Bài 2: Trên tuyến lửa Trường Sơn

Bom cứ rơi, đạn cứ nổ, nhưng đường thì không bao giờ tắc. Nhằm bảo vệ “mạch máu” đường Trường Sơn thông suốt, những trận quyết tử ở sông Bung, Bến Giằng, làng Rô… đã đi vào lịch sử như huyền thoại.

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn

Advertisements
Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: