Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 2)

TRÊN “TUYẾN LỬA” TRƯỜNG SƠN

Bến Giằng - sông Bung, nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trên đường Trường Sơn.

Nhiều cung đường, ngọn núi, con suối, đèo dốc, cây cầu, dòng sông… nằm dọc ngang trên đường mòn Trường Sơn qua Quảng Nam những năm tháng chiến tranh là “tuyến lửa”. Nhằm bảo vệ “mạch máu” đường Trường Sơn thông suốt, quân dân ta đã thực hiện những trận đánh quyết tử trên dòng sông Bung, Bến Giằng, làng Rô, Khâm Đức…

Bến Giằng… “phải chăng đất Quảng anh hùng là đây!”

Bến Giằng (Nam Giang) là một trong số những “tọa độ chết”, do nằm ở vị trí quan trọng về mặt quân sự. Từ đây có hai nhánh rẽ lớn. Một lên tây Trường Sơn qua các xã Cà Dy, Chà Vàl, A Xăh, Bến Yên rồi đi xuống vùng B Đại Lộc. Nhánh hai rẽ xuống Tà Lu, Za Hung, Trung Mang… Nắm rõ vị trí chiến lược này, Mỹ – ngụy đã huy động trên 20 lượt máy bay B52 rải bom xuống khu vực này sau khi phát hiện đường Trường Sơn đã mở nhằm chia cắt không cho quân và dân ta vận chuyển hàng hóa, lương thực và vũ khí phục vụ chiến trường. Bên cạnh đó, địch còn dùng máy bay trinh sát quần thảo liên tục trên bầu trời, nhất là vùng giáp ranh biên giới Việt – Lào, dọc sông Bung, sông Thanh, dọc các đường 13,14…

Nguyên Bí thư Huyện ủy Nam Giang Zơ Râm Un kể về năm tháng vận động thanh niên dân tộc mở đường.

Trong kháng chiến chống Mỹ, nhiều lần quân ta chủ trương đánh giao thông nhằm cắt đứt sự viện trợ bằng đường bộ của địch cho các đồn bốt dọc đường 14 lên cụm cứ điểm Khâm Đức. Trung đội bộ đội địa phương do đồng chí Nguyễn Tùng Lưu chỉ huy phối hợp với du kích xã Cà Dy đánh địch trên trục đường 14, đoạn giữa làng Rô và làng Ngói. Điển hình, ngày 10-11-1962, quân ta bố trí cán bộ trinh sát theo dõi chặt chẽ tình hình địch, phục kích trên đường từ Khâm Đức về miền xuôi, rồi chớp thời cơ thuận lợi tấn công địch. Kết quả trận này, ta đánh hỏng 1 chiếc xe GMC, diệt 10 tên địch và nhiều vũ khí, quân dụng khác… tạo tiền đề thắng lợi cho các cuộc chiến đấu về sau.

Năm 1970, Mỹ tiếp tục dùng thủ đoạn rải chất độc hóa học để tàn phá hoa màu, hủy hoại môi trường, làm cây rừng trút lá nhằm hủy diệt nguồn sống và tán xanh che chở của quân dân dọc sông Bung, đường 14, sông Cái đoạn từ Thác Cạn, Đầu Gò lên Thạnh Mỹ, Bến Giằng đến các làng Rô, làng Ngói… (Một tài liệu giải mật của Mỹ còn cho biết, Mỹ đã sử dụng hóa chất gây ra sình bùn và tạo mây, kéo dài mùa mưa trên Trường Sơn). Hậu quả, thời điểm này, nhân dân chung quanh khu vực Bến Giằng có đến 800 người bị đói. Thêm vào đó, nạn dịch sởi hoành hành làm cho 250 người dân ở đây bị chết. Chúng còn dùng trực thăng bắn phá, thả máy kiểm thính để phát hiện cán bộ, đảng viên đi lại trên các trục đường. Mỹ – ngụy cũng tăng cường quân càn quét, ném bom tàn phá, hòng chiếm Bến Giằng. Chúng sử dụng máy bay B52 rải bom, đồng thời huy động 4 tiểu đoàn hỗn hợp Mỹ – ngụy mở nhiều đợt càn quét lên Thạnh Mỹ nhằm ngăn chặn sự tiếp tế của quân ta từ sông Bung lên Bến Giằng, nơi có hành lang Nam Bắc, Đông – Tây ngang qua. Tuy nhiên, du kích của ta đã dùng kế un khói bên bờ sông Bung để nghi binh, nhử máy bay địch đến ném bom rồi dùng súng bắn rơi nhiều máy bay địch. Hai cứ điểm Coong Zêl, dưới chân núi La Dêê, huyện Nam Giang và cứ điểm Cơ Noong, thuộc xã Ta Xiêng, huyện Tây Giang, giặc đặt nhiều đồn bốt để kiểm soát và khống chế đường chiến lược Trường Sơn và vùng biên giới Hạ Lào. Lợi dụng lúc địch chưa quen với địa hình, ta bao vây bám sát, bắn tỉa, lập vành đai chông thò, cài mìn tự tạo vây quanh đồn. Địch bắn trả quyết liệt, nhưng do rơi vào thế cô lập, nên chúng vội vã huy động hàng chục trực thăng đổ xuống Coong Zêl bốc quân rút chạy về xuôi. Chốt điểm cuối cùng của Mỹ – ngụy trên núi rừng Nam Giang bị xóa sổ hoàn toàn.

Một góc làng Rô.

Đường Trường Sơn = đạn bom + máu

Năm 1965 là thời điểm phong trào mở đường Trường Sơn của bộ đội chủ lực và thanh niên xung phong lên đến cao điểm nhằm phục vụ cho chiến dịch vận chuyển bằng xe tải vào miền Nam. Từng là bộ đội Trường Sơn, trực tiếp tham gia lái xe mở đường cùng Đoàn 559, ông Nguyễn Văn Luyến hiện sinh sống tại thôn Pà Dấu 1, thị trấn Thạnh Mỹ (Nam Giang) kể: “Lúc đó, trên dòng sông Bung, đạn giặc trút như vãi. Các chiến sĩ lái xe cố gắng làm giảm tiếng động, đề phòng sự phát hiện của địch. Xe chủ yếu chở đạn dược và các thiết bị hàn điện ở cầu. Do áp lực khẩn trương mở đường, làm cầu, nên có khi một ngày có đến hàng chục chiếc xe của ta bị cháy. Đường mòn cũ xưa chỉ vừa đủ cho một làn xe qua lại. Hai bên là vực thẳm”. Theo ông Luyến, khi vượt sông Bung phải qua ngầm Dần dài 3km. Xe lưu thông không đèn lù lù chạy trong đêm vì sợ địch phát hiện. Nhưng địch đã dùng máy bay loại C130 bắn pháo xối xả xuống đường Trường Sơn. Có ngày, hai xe bị cháy ông phải thay đến chiếc xe thứ ba để vận chuyển quân khí, thiết bị hàn điện cho cầu. Một lần khác, khi đi cùng với Đoàn 559 để lấy vũ khí, súng đạn từ Lào về, địch phát hiện bắn tỉa. Xe ông Luyến bị cháy, nhiều đồng đội đã hi sinh. Khi kể về trường hợp hi sinh của trung sĩ Đoàn, một người đồng đội, ông Luyến không cầm được nước mắt. Lúc ấy, Đoàn chỉ 13 tuổi, tình nguyện xung phong vào Nam mở đường. Dù còn rất trẻ, nhưng anh xin được làm “hoa tiêu”chỉ đường cho bộ đội và không may bị địch bắn bị thương nặng.

Trận đánh đồn Đất Bắc, đoạn giáp ranh giữa Lào với Quảng Nam, nơi có đường Trường Sơn đi qua cũng ác liệt không kém. Trong khi bộ đội đang mở đường vòng Trường Sơn để tiện vận chuyển hàng hóa, vũ khí thì địch đã sử dụng máy bay rải hàng tấn bom phá hoại. Ông Zơ Râm Un, nguyên Bí thư Huyện ủy Nam Giang, người trực tiếp chỉ huy, huy động 500 thanh niên đều là đồng bào dân tộc thiểu số làm đường Trường Sơn đoạn từ cầu Xơi đến cầu Bến Giằng. Mỗi một đoạn đường đi qua nơi đây luôn thấm đẫm mồ hôi, máu và sự hy sinh của bộ đội, thanh niên xung phong, kể cả dân làng. Theo ông Un, trên hanh lang chuyển từ kho K81 về Bến Giằng – Thạnh Mỹ đến các xã giáp ranh Đại Lộc, Quế Sơn, ngoài Trung đoàn 38, địa phương huy động trên 1.800 dân công vận chuyển bằng tất cả phương tiện như dùng sức người gùi cõng, xe đạp thồ, thuyền, hoặc cho hàng vào bao nylon thả xuôi dòng sông… Ngày nào cũng xuất hiện hình ảnh những chiến sĩ dân công tải đạn, tải gạo trên đường mòn Hồ Chí Minh… “Biết bao máu xương của chiến sĩ, đồng bào đã đổ xuống trên vùng đất Bến Giằng này. Mở đường và giữ đường trên tuyến lửa này quan trọng không kém như mục tiêu bắn hạ máy bay, tiêu hao sinh lực địch. Nói như vậy để thấy giá trị lịch sử vô biên của đường Trường Sơn huyền thoại” – ông Un nói.

 Đã từng chứng kiến cảnh máy bay B52 của giặc Mỹ quần thảo, thả bom mìn phá đường Trường Sơn qua làng Rô, xã Cà Dy (Nam Giang), mế Len nay đã sống gần hết 100 mùa rẫy vẫn còn ám ảnh khi nhắc đến cảnh bồng bế mấy đứa con trốn chạy dưới làn mưa đạn. Dường như bà là thế hệ già nhất còn sót lại ở cái làng Rô bé nhỏ này. Già làng Hồ Văn Seng cũng là nhân chứng sống của cuộc chiến tranh khốc liệt ở làng Rô, người đóng góp công sức mở đường Trường Sơn, nuôi nấng nhà cách mạng, nhà thơ Tố Hữu… Thật tiếc là ông đã đi xa cách đây vài tháng trong một cơn bạo bệnh.

Bài 3: Năm tháng không quên

Chiến tranh khốc liệt nhưng không giết chết được lý tưởng và tình yêu của người lính Trường Sơn, của những mối tình quân dân nở như rừng hoa lan…

Trong hành trình mở đường và giữ đường Trường Sơn có cả máu và hoa, là những năm tháng không thể nào quên…

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn

Advertisements
Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: