Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 5)

Mở đường lên Tây Nguyên

Đường Hồ Chí Minh qua thị trấn Khâm Đức (Phước Sơn). Ảnh: Vũ Công Điền.

Đi theo “bản đồ hành trình” Trường Sơn huyền thoại bắt đầu từ huyện Phước Sơn (Quảng Nam) đến giáp địa phận Đắc Lây (Kon Tum) dài hơn 50km, khi dừng lại ở bất cứ điểm nào, chúng tôi cũng được sống lại với ký ức của những người từng một thời in dấu chân mình trong công cuộc mở và giữ đường Trường Sơn.

Cửa ngõ lên Tây Nguyên

Khâm Đức (Phước Sơn) một buổi sáng đổ mưa bất chợt. Mưa xối xả, ướt trũng phố xá. Nước rào rạt tuôn chảy trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Phố xá Khâm Đức bỗng chốc mang dáng vẻ lạ thường như một nhánh lan vừa hái từ rừng đẹp rực rỡ, đầy màu sắc nhưng tinh khiết, giản dị.

Đoạn đường Hồ Chí Minh qua Khâm Đức được xây dựng rất tươm tất với dải phân cách hai làn xe, bóng nhẵn nền nhựa và tinh tươm ở từng cột đèn đường. Phố càng nhộn nhịp sau mưa. Lịch sử của Khâm Đức đã ghi lại rằng, phố này chỉ thật sự là trung tâm của Phước Sơn từ năm 1976 khi địa phương thực hiện chủ trương đưa dân cư từ các bản làng xa xôi đến định cư tại đây. Trước 1976, dân cư Phước Sơn chủ yếu tập trung ở các vùng núi cao hẻo lánh và từng thế hệ nối tiếp chi viện sức nguời cho công cuộc giải phóng đất nước cũng từ những bản làng vùng cao ấy.

Khâm Đức là cứ điểm quan trọng của Mỹ-ngụy với những cơ sở quân sự được xây dựng nhằm ngăn chặn “mạch máu” Trường Sơn trong chiến tranh. Cách trụ sở UBND huyện bây giờ không xa, là bản doanh của trường Biệt kích toàn miền Nam do Mỹ trực tiếp huấn luyện. Sân bay Khâm Đức, căn cứ Ngok Ta-vat (xã Phước Mỹ) là mắt xích quan trọng của địch để ngăn cản hoạt động của căn cứ 614. Căn cứ này nằm giữa Chavane (Lào) và thung lũng Khâm Đức nhằm vận chuyển quân và hàng hóa vào vùng 2 chiến thuật và mặt trận B3 (Tây Nguyên) của bộ đội Trường Sơn. Chính vì thế nơi đây từng là điểm xảy ra những trận chiến ác liệt. Sau 1968, những mắt xích ấy mới chính thức bị xóa sổ bằng chiến thắng Khâm Đức lẫy lừng giải phóng quê hương Phước Sơn khỏi “vòi bạch tuộc” Mỹ – ngụy. Theo ông Hồ Văn Điều, nguyên Bí thư Huyện ủy Phước Sơn thời kỳ này, chủ trương giải phóng Khâm Đức của Khu ủy Khu V vào tháng 5-1968 là nhằm giải phóng và giành thế chủ động cho tuyến đường mòn Thống Nhất (Hồ Chí Minh) qua Phước Sơn để kết nối với các căn cứ cách mạng khác từ đồng bằng lên Tây Nguyên. Bởi thế đường mòn Hồ Chí Minh từ Khâm Đức lên Đắc Lây càng có vai trò quan trọng là cửa ngõ để tiến vào Tây Nguyên.

Sau mưa, chúng tôi vội vã tìm đến nhà cựu chiến binh Đinh Xuân Mỏi (khối 2B, thị trấn Khâm Đức). Chưa kịp hỏi chuyện Trường Sơn, ông Mỏi đã tâm sự rằng vẫn còn xúc động sau khi xem xong chương trình “Chúng tôi là chiến sĩ” trên tivi và ước ao được một ngày gặp lại những đồng đội cũ của thời mở đường đầy gian khó. Gần 15 năm gắn bó với Trường Sơn, dù nhiều lần thay đổi đơn vị nhưng ông Mỏi vẫn là lính thuộc Đoàn 559 (Đoàn Nam Sơn) và trực tiếp tham gia mở đường Trường Sơn, dẫn bộ đội, cõng lương thực, chuyển công văn, giấy tờ… trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh qua Phước Sơn trong khoảng thời gian từ 1962-1968.

Ký ức của ông Mỏi như sống lại trong những ngày còn len lỏi trong từng lối mòn giữa rừng sâu. Ông kể rằng, đường Thống Nhất lúc ấy chỉ là những lối mòn giữa núi rừng và chia làm nhiều nhánh rẽ, duy nhất chỉ dành để đi bộ. Lúc đó, những người hoạt động trên đường mòn Hồ Chí Minh như ông luôn thường trực tinh thần sắt đá, nhất nhất thực hiện phương châm “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Lặng lẽ trải vải dưới đất mà đi, một lần có thể đưa khoảng 100 bộ đội cắt rừng Đắc Re, vượt Cổng trời Nước Xa, qua Nước Che, về Làng Hồi… Ông Mỏi từng trải qua những trận đói kinh niên, có lần nhịn đói hàng chục ngày, nhai lá chè xanh, rồi bị sốt rét, chết hụt khi bị địch phát hiện…

Một đoạn đường Trường Sơn còn lại qua địa phận Phước Sơn. Ảnh: VŨ CÔNG ĐIỀN

Hành khúc giữa rừng

“Men” theo ký ức của ông Mỏi, chúng tôi tiếp tục rong ruổi trên đường Trường Sơn huyền thoại. Làng Hồi, Khâm Đức, ngầm Nước Mỹ, sông Đắc Chè, đèo Lò Xo, ngã ba Long Viên…, những địa danh chiến thắng lừng lẫy và sống trong tiềm thức của bao người một thời lần lượt hiện ra trước mắt. Đoạn đường từ Nước Trẻo (Phước Xuân) đến chân đèo Lò Xo (Phước Năng) khoảng 35km là đoạn lặp lại của đường Thống Nhất xưa – đường Hồ Chí Minh hôm nay. Những dãy núi cao chập chùng, núi liền núi cao chất ngất. Những vực sâu thăm thẳm xa tít lởm chởm đá chất chồng. Con đường vòng vèo, gấp khúc liên tiếp với những “cùi chỏ” cũng chỉ là khúc mở đầu dưới chân Lò Xo.

Kỷ vật của cựu chiến binh Đinh Xuân Mỏi trong những năm tháng mở đường Trường Sơn: chiếc cà mèn và tấm vải dù. Ảnh: T.MINH

Nhiều người nói rằng, tuy tuyến đường Hồ Chí Minh qua đây đã được xây dựng trên nền con đường cũ nhưng thật ra đã khác ở những đoạn bạt núi, mở cua, phóng tuyến để giảm bớt nguy hiểm. Bởi thế, di dọc đường Hồ Chí Minh qua đoạn này, thi thoảng vẫn bắt gặp dấu tích của con đường cũ, chạy len lỏi theo núi, có đoạn mất hút trong những vạt rừng già. Nền đường cũ là đá, sỏi. Nhiều đoạn bờ ta-lu dương thậm chí vẫn còn in dấu cuốc xẻng, những vật dụng mở đường thô sơ năm xưa. Và có thể hình dung sức người phi thường in dấu trên huyền thoại Trường Sơn như thế nào.

Ông Vũ Quang Minh, Trưởng Thi hành án dân sự huyện Phước Sơn, người đã từng tham gia lực lượng thanh niên xung phong mở đường Trường Sơn ở tuyến này vào những năm 70 (thế kỷ XX) kể lại rằng, ông đã từng thập tử nhất sinh vì bom bi, vì những dốc đá cao chót vót. Giai đoạn đó, đường Trường Sơn từ Khâm Đức đến đèo Lò Xo đã thông được xe ôtô loại nhỏ nhưng vẫn rất khó khăn. Nhằm nhanh chóng mở đường liên kết với các căn cứ ở đồng bằng Quảng Đà, các tỉnh ven biển miền Trung và chi viện cho chiến trường Tây Nguyên, đầu năm 1971 Trung đoàn vận tải Trường Sơn E230 đã huy động hàng trăm thanh niên ở 4 xã Phước Hiệp, Phước Kim, Phước Mỹ, Phước Chánh (Phước Sơn) tập trung mở đường Trường Sơn với dụng cụ chủ yếu là cuốc, xẻng, ky, ván đẩy… Làm suốt ngày đêm, thần tốc mở đường dưới mưa bom bão đạn. Làm xong đoạn nào là lấy tán rừng và cọc làm dàn che (như kiểu dàn mướp) để tránh bị máy bay phát hiện.

Ông Minh kể, chỉ sau 6 tháng đầu tiên, trong số 360 thanh niên xung phong cùng đơn vị với ông đã có 10 người hy sinh. Thế nhưng, chẳng thấy ai nao núng. Thanh niên xung phong lao vào công việc với khẩu hiệu “ngày không thứ, tháng không tuần”, chia sẻ với nhau từng điếu thuốc, củ sắn… Dòng ký ức của ông Minh điểm những vệt nước mắt tuôn trào khi ông nhớ lại lời cuối cùng của người bạn cùng quê Hồ Văn Phong (thôn Là Toi, xã Phước Năng) khi Phong nằm sóng soài trên tay ông vì bom bi. Rằng, “nói lại giùm với vợ và mẹ là Phong không thể sống nữa, nhớ rừng và mọi người”… Đó hẳn là khúc bi tráng của những chiến sĩ trên huyền thoại Trường Sơn năm xưa.

Ký ức đó cũng lặp lại với ông Hồ Văn Điều. Ông Điều là cán bộ lãnh đạo địa phương trong suốt thời gian từ lúc đường Thống Nhất chỉ là những lối mòn (thập niên 60) cho đến khi tuyến đường này đã có xe ô tô của bộ đội Trường Sơn xuôi ngược (thập niên 70). Ông bảo rằng, cách làm dân vận thuở xưa là tuyệt vời, bộ đội cần là lực lượng địa phương sẵn sàng. “Mình huy động thanh niên từng đợt từ 3 đến 6 tháng với khẩu hiệu “Không có gì quí hơn độc lập tự do”. Thanh niên từ khắp các bản làng xa xôi hăng hái lên đường. Người ta hát hò khi làm đường, khi cận kề với những hiểm nguy. Có nhiều gia đình chỉ có một người con trai cũng xung phong tham gia mở đường”- ông Điều nói. Và cũng chính từ sự hăng hái, thần tốc này, “tuyến lửa” Khâm Đức -đèo Lò Xo – Đắc Lây được mở rộng từng ngày và trở thành cửa ngõ để bộ đội Trường Sơn tiến về giải phóng “nóc nhà Đông Dương”, mở đầu cho đại thắng mùa xuân 1975.

Bài 6: Đường về đồng bằng

Nhiều con đường bí mật đã mở ra nhằm tạo ra thế phòng thủ vững chắc, hỗ trợ đắc lực cho “mạch máu” đường Trường Sơn không bị chia cắt. Hàng vạn tấn bom của địch rải thảm xuống dãy Trường Sơn, nhưng những con đường vẫn cứ kiên trì mở, tỏa xuống đồng bằng phục vụ cho chiến trường Quảng Nam…

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn

Advertisements
Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: