Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 7)

Đường Thắng Lợi, tiến về Đà Nẵng

Đoàn cán bộ khu V thăm công trường 2-9.

Chuẩn bị cho những trận tiến công lớn, trên vùng căn cứ của Quảng Nam – Đà Nẵng, quân giải phóng đã hình thành nên 2 đơn vị cầu đường là Ban Giao vận khu V do ông Nguyễn Chí Quyết làm trưởng ban và Ban Giao vận tỉnh ra đời ngày 30-8-1968, do ông Phạm Thâm (Sáu Do) làm trưởng ban. Hai ban này thường phối hợp thành lập những công trường mở đường để phục vụ các chiến dịch tấn công quân thù.

Đội đá vá trời…

Công trường Thắng Lợi ra đời ngày 22-4-1973, tại Thạnh Mỹ-Đông Giang, giữa thời kỳ ác liệt và khẩn trương nhất trên chiến trường Quảng Nam – Quảng Đà. Một công trường thuộc Công ty cầu đường 3, với vốn liếng ban đầu trên 500 con người, trong kho chỉ có 18 ang sắn lát, 3 ang muối, 7 ang gạo, mà yêu cầu phải làm đường nối đường mòn Hồ Chí Minh để kịp đưa vũ khí, lương thực xuống đồng bằng, phục vụ chiến dịch lớn. Làm đường bằng rìu, cuốc, xà beng, với một lò rèn gồm 4 thợ, tự rèn bằng nguyên liệu lấy từ các cây cầu hư trên đường 14 – con đường thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và nỗi đau của những người “phu” Việt Nam từ thời Pháp thuộc.

Trên con đường mới mở, từ trong núi, xuyên rừng, vượt sông đã một lần ông Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, người từng làm đau đầu “cáo già” Kissinger tại Hội nghị Paris về Việt Nam, một lần đi qua Trao, trên con đường mới mở, đã thốt lên: “Qua Trao thì đến bến Giằng/ Phải chăng đất Quảng anh hùng là đây?”.

Công trường S của khu V và công trường Thắng Lợi đã mở các tuyến đường Trà My – Tứ Mỹ – Kỳ Sanh,Trà My – Dùi Chiêng – Nông Sơn, Hiệp Đức – Việt An – Quế Sơn, Hiệp Đức – Việt An – Phước Hà… Tháng 5-1973, trên giao cho Ban cán sự Nam Trà, do ông Võ Văn Đoàn – Phó Bí thư Tỉnh ủy – làm Bí thư, sau đó là ông Phạm Xuân Thâm (Sáu Do), Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm Bí thư, huy động hàng ngàn thanh niên xung phong ở các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số, mở đường Quyết Thắng từ Trà My lên Nước Ca, Nước Vin, lên Nước Giáp, Nước Xa, Nước Là… Bước sang năm 1974, Công trường 2-9 được thành lập. Hôm làm lễ ra mắt công trường, Tướng Hai Mạnh (Chu Huy Mân), lúc bấy giờ là Tư lệnh Quân khu V, đến dự để động viên anh chị em. Công trường 2-9 mở đường 16, nối từ đường mòn Hồ Chí Minh xuống Làng Hồi, tại đây có “Ngã ba Làng Hồi”, một thời tấp nập xe lớn, xe nhỏ, hàng hóa, gạo và súng đạn. Từ đây mở đường xuống Hiệp Đức, đường Hiệp Đức – Việt An – Thăng Bình, Hiệp Đức – Phước Hà – Tam Kỳ…

Ngày xưa, bà Nữ Oa đội đá vá trời, còn lúc bấy giờ quyết thắng giặc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam, anh chị em thanh niên xung phong đã đội nắng mưa, đội đất, đội đá, đội cả bom đạn “lấp” sông Hiệp Đức để xe vận tải nặng, xe bọc thép có thể vượt sông. Theo những con đường mới mở dưới bóng cây rừng, ngày 18-7-1974, quân giải phóng diệt gọn cụm cứ điểm Nông Sơn – Trung Phước. Ngày 7-8-1974, quân giải phóng tiếp tục bao vây tiêu diệt chi khu quận lỵ Thượng Đức.

Làm con đường từ dốc Bền xuống Thọ Lâm phục vụ chiến trường Thượng Đức, những người mở đường Trường Sơn đã đổ biết bao mồ hôi, xương máu và để lại bao nhiêu kỷ niệm buồn vui. Trong số hàng chục nghìn dân được giải phóng từ Thượng Đức, có hàng trăm thanh niên được chọn đưa lên công trường tham gia mở đường. Từ ngã ba Thắng Lợi đi Khe Hoa, muốn đến Thượng Đức phải qua dốc Ngật, anh chị em đặt tên là dốc Ngất (đi từ chân lên đỉnh dốc là… ngất). Với vài kỹ sư ít ỏi được học bài bản ở trường, nhưng khi tham gia mở đường rừng thì không thể áp dụng những gì đã học ở trường mà phải vận dụng với điều kiện thực tế. Sau khi cùng những thanh niên thông thạo địa hình băng rừng, lội suối, định hướng chọn địa hình cho xe kéo pháo có thể vượt qua, chờ chiều xuống, sương mù tràn đến phủ đỉnh núi Ngật thì ra quân bạt cây, phá đá… làm sao khi đường thông, xe ta băng qua mà máy bay do thám của địch không hề hay biết cho đến khi trận đánh được khai hỏa.

Nhắc lại chuyện mở đường ngày nào càng nhớ thương anh chị em thanh niên xung phong, những người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân và máu đào cho độc lập tự do, cho hòa bình, nhưng khi có hòa bình thì họ là những người chịu nhiều thiệt thòi. Có đơn vị thanh niên xung phong mở đường 98% là nữ (chỉ đội trưởng, chính trị viên và hai bảo vệ là nam). Những cô gái trẻ trung ấy rất gan dạ, quên mình cho đồng đội, cho con đường, ngày đêm mong làm sao đạn dược, súng ống, lương thực… và cả những chuyến “hàng đặc biệt” sớm đến với chiến trường. Hàng đặc biệt đó là những thùng sắt được niêm phong, ngoài ghi 20T, 30T, 15T, chỉ có cán bộ chỉ huy mới biết trong ấy là đô la, được đưa vào từ miền Bắc, chi viện cho chiến trường, để đổi thành tiền Sài Gòn, mua lương thực, thực phẩm từ vùng địch đưa lên phục vụ chiến đấu…

Các chiến sĩ mở đường từng có mặt với con đường Túy Loan – Trao, với công ty cầu, đã lăn lộn cùng cán bộ, kỹ sư, công nhân, với nhiều xông pha và kinh nghiệm, cho nên sự có mặt kịp thời và tiếng nói có trọng lượng của các anh kỹ sư trẻ được học từ miền Bắc chi viện cho miền Nam đã giúp anh em thi công vượt qua được những khó khăn vướng mắc trước một công trình đang gặp ách tắc, như công trình cầu Bà Huỳnh, cầu sông Tiên, cầu Thanh Niên… Hay như các công trình cầu Bưng Khảm, bến phà Samia trên đất bạn Lào, đường thì xa, ăn uống thiếu thốn, đi lại hết sức khó khăn, thời tiết vô cùng khắc nghiệt, mưa thì dầm dề, nắng thì khô khốc.

Tiến về Đà Nẵng

Ban Giao vận Quảng Đà mở đường Quyết Thắng từ Trao xuống dốc Bền, vượt dốc Ngật, qua dốc Kiền, xuống Túy Loan… Khi con đường mới khai phá còn rất gồ ghề, cốt cho xe tải vượt qua, có cả đóng góp sức lực, phương tiện của lực lượng 559 – Binh đoàn Trường Sơn, của Sư đoàn 372… Đến những ngày giữa mùa xuân lịch sử năm 1975, khi mở đường đến chân dốc Kiền, cán bộ kỹ thuật Quảng Đà vừa qua bên kia chân dốc thì qua chiếc ra-đi-ô hai pin, ngày 29-3-1975, những người mở đường nghe được tin Đà Nẵng giải phóng! Vui không thể tả, làm sao về đến Đà Nẵng nhanh nhất? Nếu đi bộ thì mất một ngày mới đến Túy Loan. Thế là các anh đón xe “bò vàng”, tài xế thấy các anh đội mũ tai bèo liền mời lên ca-bin đưa về thành phố giải phóng.

Khi đặt tên cho các công trường, các chiến sĩ mở đường bộc lộ khát vọng cháy bỏng và một quyết tâm Thắng Lợi, quyết giành Độc Lập (2-9). Theo tiếng gọi của Tổ quốc, những chiến sĩ mang theo cả tuổi xuân và khát vọng đã mở ra những con đường Thắng Lợi, đường Giải Phóng, vượt sông, băng rừng, vượt suối, đưa đoàn quân giải phóng ào ào tiến xuống đồng bằng, tiến về thành phố, làm nên Thắng Lợi tưng bừng, giải phóng toàn bộ quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng trong mùa xuân lịch sử tháng 3-1975. Công sức của họ cũng góp phần quan trọng cho quân giải phóng đưa binh hùng và vũ khí hạng nặng theo quốc lộ 1 ào ào tiến vào giải phóng hoàn toàn miền Nam!

Đường theo “Nước non ngàn dặm”…

Với “Nước non ngàn dặm”, nhà thơ Tố Hữu trong một “Đêm rằm vằng vặc bến Giằng trăng lên…” cùng vui với bà con Làng Rô đã không quên những ngày của tháng 3-1942, lúc ông cùng bạn tù Huỳnh Ngọc Huệ, người Quảng Nam đã vượt ngục Đắc Lay. Sau 27 ngày đêm luồn rừng, đói và mệt thì gặp bà con người dân tộc Cơtu ở Giằng, biết các anh là tù Cộng sản đang bị tầm nã, liền cho ăn, cưu mang, bảo vệ. Nhà thơ nhớ đến người con gái của già làng đã đưa dắt các anh đi lách đồn Tây cho thoát: “Ôi! Làng Rô nhỏ của tôi/ Cao cao ngọn núi, chiếc nôi đại bàng/ Trăm năm, ta nhớ ơn làng/ Cánh tay che chở bước đường gian nguy/ Thương em, cô gái sông My/ Nắm xôi đưa tiễn anh đi qua rừng…”.

Xe chạy theo con đường Trường Sơn đến vùng căn cứ của Khu 5 thì nhà thơ Tố Hữu bỗng nghe: “Hương đâu thơm lựng rừng hè/ Nhặt cành lá quế mà tê tái lòng/ Trà My đây, hỡi Trà Bồng/ Có hay cây quế đợi trông tháng ngày?/ Nâng cành quế héo trên tay/ Càng thương quế ngọt quế cay cùng người!”. Và, giữa rừng “quế ngọt, quế cay”’này, nhà văn Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc) đã viết nên “Đường chúng ta đi” – tùy bút như một bài ca làm xao động bao trái tim son hăng hái lên đường ra mặt trận.

Trong số hàng vạn thanh niên lên đường ra mặt trận có rất nhiều những nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ từ miền Bắc theo đường mòn vào, dừng lại vùng căn cứ Trà My, rồi theo những nẻo đường từ Trường Sơn xuống chiến trường Quảng Nam, Quảng Đà. Theo chân bộ đội trên những con đường này, nhà văn Nguyễn Chí Trung đã làm nên một “Bức thư Làng Mực” ca ngợi tấm lòng tuyệt vời của bà con dân tộc miền núi Quảng Nam. Nhà thơ Dương Hương Ly cùng người vợ trẻ Dương Thị Xuân Quý theo đường mòn vào khu V, anh chị đã xem đất Quảng Nam trung dũng kiên cường là “Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ”. Tất cả họ đã góp sức mạnh riêng của mình, tạo nên một loại vũ khí kỳ diệu: tiếng hát át tiếng bom.

Bài cuối: Những khúc dư âm…

Loạt bài “Trường Sơn – dấu ấn Quảng Nam” đã đi qua một chặng đường làm dậy lên bao ký ức về một thời lửa đạn, nhưng vẫn chỉ mới phác họa phần nào dòng ký ức, kỷ niệm xưa. Bởi có nhiều câu chuyện được kể tiếp từ phía độc giả gửi đến Báo Quảng Nam…

Ký của HỒ DUY LỆ

baoquangnam.com.vn

Advertisements
Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: