Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài cuối)

Những khúc dư âm…

Mở đường. Ảnh tư liệu

Ngày đầu gian khó

Có những người con Duy Xuyên một thời đầu đội bom,cõng đạn trên con đường Trường Sơn khói lửa. Họ bây giờ tuổi đã xấp xỉ 80, sống một cuộc sống thanh đạm ở làng quê yên ả, thanh bình. Hàng năm, vào dịp kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ kính yêu và cũng là dịp kỷ niệm ngày mở đường Trường Sơn, họ họp mặt ôn lại những tháng ngày gian khổ, ác liệt nhưng rất đỗi vinh quang tự hào. Họ tương trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống đời thường và nhắc nhở nhau giữ vững phẩm chất cao quí của bộ đội Trường Sơn.

Trong số những người lính Trường Sơn năm xưa, không ít người tuổi già sức yếu, bệnh tật và do di chứng thương tích, chất độc hóa học của Mỹ rải xuống rừng Trường Sơn đã yên nghỉ ngàn thu, như ông Hồ Ngọc Anh (Duy Phước) và ông Trần Phòng (Duy Châu), Nguyễn Ngọc Xu (Nam Phước) và ông Võ Diêm (Duy Trinh). Ông Huỳnh Tấn Mua (Duy Trung) bây giờ bị mù hai mắt.

Ông Phạm Đóa (Nam Phước), nhớ như in về những ngày đầu gia nhập Đoàn 559: Tháng 5 năm 1959, ông được chỉ huy gọi lên giao nhiệm vụ, hai ngày nữa tập trung tại Ban chỉ huy đơn vị để nhận nhiệm vụ mới. Đúng thời gian qui định, ông Đóa lên trình diện chỉ huy và được đưa lên ô tô bịt kín đi một mạch đến tỉnh Quảng Bình. Sau đó đi bộ tiếp đến Bãi Cỏ, huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) để học Nghị quyết Hội nghị Trương ương Đảng lần thứ 15 về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Đơn vị của ông chỉ là những anh em miền Nam tập kết. Ông Đóa được biên chế vào Tiểu đoàn 301 gùi thồ đầu tiên với 440 người. Và được giao làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí bí mật ở trạm 7 chuyển qua trạm 8.

Ông Đóa kể: Từ năm 1959-1961, bộ đội ta vận chuyển vũ khí bằng đường dây bí mật nên thực hiện khẩu hiệu “nấu không khói, nói không to, ho không tiếng”. Ông nhớ một lần hiểm nguy ập đến đối với ông, đó là một lần ông vượt sông Bến Hải ở khu vực thượng nguồn, đến giữa dòng bè nứa bị vỡ, ông bị dòng nước chảy xiết cuốn trôi cả cây số nhưng ông không dám kêu cứu vì sợ bị lộ, may mắn có chiến sĩ cảnh giới phát hiện bơi ra cứu.

Con đường vận chuyển vũ khí bí mật tồn tại an toàn từ năm 1959 đến năm 1961 nhờ lòng quả cảm và ý thức chấp hành nghiêm nguyên tắc bí mật của các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559. Kết thúc năm 1959, Đoàn đã chuyển được vào Khu V: 1.667 khẩu súng bộ binh, hàng trăm nghìn viên đạn và một số quân dụng thiết yếu khác. Đối với những người con Duy Xuyên tham gia Đoàn 559, Tiểu đoàn 301 đã mang trên lưng mình mỗi người hàng tấn vũ khí, góp cùng hàng triệu người chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Điểm hẹn hạnh phúc

Trung tá Nguyễn Đức Hiền (giữa) gặp thủ trưởng cũ của mình trên đường Trường Sơn.

Trung tá Nguyễn Đức Hiền, 83 tuổi, quê xã Điện An, Điện Bàn, trước khi về hưu là quyền Chính ủy Trung đoàn 509, Bộ Tư lệnh 559, hiện ở số nhà 454/20 Nguyễn Tri Phương, Đà Nẵng.

Ông Hiền xúc động kể: “Sau khi tập kết ra Bắc trong đội hình Sư đoàn 324, năm 1962, tôi vào lại Nam làm Chính trị viên Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 70, rồi làm chính trị viên Tiểu đoàn Công binh 35. Tiểu đoàn chúng tôi phụ trách ngầm Tha Mé và đường từ Tha Mé đi La Hạp, nước bạn Lào. Đoạn đường này dài khoảng 70 km, là cung đường trọng điểm liên thông của ta nên địch đánh phá rất ác liệt. Ban ngày thì bom tọa độ, tối thì bom bi, bom phá B52. Còn F105, F4 “con ma”, “thần sấm” OV10 thì liên tục thả đèn dù, bom, pháo sáng. Từng loạt bom nối nhau trút xuống đoạn đường hẹp, đợt sau chồng lên đợt trước, cây cối đổ ngổn ngang trên đường xen lẫn đất đá vùi lấp. Với khẩu hiệu “Mặt đường là trận địa”, toàn tiểu đoàn cơm vắt muối rang, dầm mưa dãi nắng bám mặt đường khẩn trương sửa chữa cho xe qua, không để tắc nghẽn. Chúng tôi không nhớ hết bao nhiêu đoàn xe chở quân và vũ khí, lương thực đã đi qua con đường tiểu đoàn đảm nhiệm, chỉ biết rằng ai nấy đều thấy hạnh phúc.

Tôi nghĩ điều giúp chúng ta mở được con đường Trường Sơn chính là sức mạnh tinh thần. Còn nhớ hồi cuối năm 1965, đường vận chuyển bằng cơ giới trên hành lang chiến lược chưa thông suốt. Thời điểm này chiến trường đang cần gạo. Cấp trên lệnh cho trạm 5 chi viện cho trạm 4 quân số 20 người. Nhưng trạm 5 có quá nhiều người ốm, chỉ chọn được 18 người. Vậy mà đồng chí Võ Diêm, trạm trưởng trạm 5 đã báo cáo lên tiểu đoàn: “Chúng tôi có 18 thực binh ngoài ra còn có 2 đồng chí “Nguyễn Văn Trỗi” nữa. Chúng tôi trả thù cho anh Trỗi và làm việc thay cho anh Trỗi để đánh Mỹ”. Vậy là trạm 5 với 18 người đã mang vác như 20 người. Chỉ tiêu gùi 800kg, trạm đã gùi đến 810kg. Tôi vẫn nhớ như in đội ngũ cán bộ Đại đội 4. Anh Đồng Thế Quá, đại đội phó và Lý Văn Thọ chính trị viên vừa bám bộ đội chỉ huy vừa trực tiếp khuân đá, vác gỗ, giành những việc nặng nề nhất để làm. Có ngày địch đánh phá liên tục, cơm tiếp tế không được, sau công việc tôi vẫn thấy hai anh ung dung đánh cờ, như không hề có cơn đói đang hành hạ. Đặc biệt, chiến sĩ Nguyễn Văn Thoát của Tiểu đoàn 35 chúng tôi rất dũng cảm. Được giao theo dõi bom rơi, tìm đánh dấu những quả bom chưa nổ, anh tập trung cao độ quan sát bất chấp nguy hiểm, không để sót một quả bom nào trúng mặt đường mà chưa nổ, dù là bom nổ chậm hoặc bom từ trường đồng thời rút ra quy luật đánh phá các loại bom địch và tìm ra cách phá rất hiệu quả. Với tôi, đường Trường Sơn không chỉ có ác liệt mà còn là điểm hẹn hạnh phúc. Hàng nghìn nữ thanh niên xung phong từ ngoài Bắc đã vào Trường Sơn và chúng tôi, những chàng trai chưa vợ đã tìm thấy một nửa của mình từ cô gái xinh đẹp, dịu dàng mà dũng cảm ấy. Tình yêu của chúng tôi nảy nở giữa mưa bom bão đạn, nơi mà sự sống cái chết cách nhau trong gang tấc. Cưới nhau giữa chiến trường và đứa con gái đầu cũng sinh ra ở chiến trường. Gần 40 năm đồng hành từ Trường Sơn về Đà Nẵng, “bà xã” tôi đã chia sẻ với tôi bao buồn vui cho đến khi từ giã cõi đời năm 2007”.

Chị Thao - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn vận tải 232.

Sự hy sinh thầm lặng

Tiểu đoàn vận tải 232 (Cục Hậu cần Quân khu 5) có 98% quân số là nữ, được thành lập đúng vào dịp kỷ niệm 58 năm ngày Quốc tế phụ nữ (8-3-1968). Trải qua 4 năm công tác, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, dấu chân người chiến sĩ “Hai Ba Hai” đã in khắp vùng núi Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, Kon Tum, đường 9 Nam Lào, từ dốc Lò Xo đến Hòn Kẽm Đá Dừng, đèo Le, v.v… Luồn rừng, băng đèo, lội suối, dưới những cơn mưa tầm tã hay cái nắng cháy da, cái rét cắt thịt, cõng hàng gấp 1,5-2 lần trọng lượng cơ thể trong lúc địch liên tục lùng sục càn quét, nhiều chị đã được tặng danh hiệu “kiện tướng hành lang” chân đồng vai sắt, được thưởng huy hiệu Bác Hồ, Huân chương Chiến công Giải phóng… Tiểu đoàn trở thành ngọn cờ tiêu biểu của ngành vận tải Khu V, góp phần quan trọng trong những chiến công vang dội, được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì. Đằng sau thành tích ấn tượng ấy là biết bao hy sinh thầm lặng, không thể nói hết bằng lời.

Tiểu đoàn trưởng Phạm Thị Thao tâm tình: “Không chỉ đưa vũ khí, đạn dược, thuốc men ra chiến trường, sẵn sàng chiến đấu đánh địch bảo vệ hàng, bảo vệ đường hành lang, đơn vị còn xuống đồng bằng chuyển gạo, muối lên phục vụ thương bệnh binh, mở đường, dựng nhà, làm kho chứa hàng, sản xuất chăn nuôi tại chỗ. Trong chiến dịch Xuân – Hè của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, chỉ tiêu trên giao 40kg/người/chuyến, chị em phấn đấu tăng trọng lượng lên gấp đôi, có chị đạt trên 100kg/chuyến và hơn nữa, đăng ký tăng chuyến, đẩy nhanh tiến độ giao hàng. Mỗi năm, tiểu đoàn vận chuyển bình quân hơn 2.000 tấn hàng, với quãng đường rừng đi bộ ước hàng vạn ki-lô-mét. Với chúng tôi, cứ mỗi chuyến hàng ra tiền tuyến là kéo ngày giải phóng miền Nam gần thêm một ít. Niềm tin mãnh liệt ấy đã thôi thúc và tiếp sức cho mỗi người vượt lên gian khổ, vượt lên chính mình. Trên chiến trường Quảng Nam, đoạn từ Đại Lộc đến Quế Sơn là vùng trọng điểm đánh phá của địch, một lần tôi cùng các chị em gùi hàng xuống Quế Sơn lúc trở về bị địch phát hiện. Chúng gọi pháo bắn liên hồi từ 16 giờ chiều đến tận sáng hôm sau, một viên đạn rơi trúng hầm, 6 chị bị thương, 6 chị khác đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất này”.

Chị Phạm Thị Sen, Chính trị viên phó Đại đội 4 nghẹn lời: “Năm 1972, được lệnh hành quân sang Trà Ôn để đưa hàng ra mặt trận. Đang mùa mưa, chị Trần Thị Lâu, Chính trị viên phó Đại đội 3 vừa lội đến giữa dòng suối Nước Chè thì một cơn lũ từ đầu nguồn tràn xuống, nước chảy xiết, cuốn phăng cả người cùng gùi hàng nặng một tạ”.

Trong những năm chống Mỹ, bất chấp gian khổ, hiểm nguy, các chị vẫn “tiếng hát át tiếng bom”. Ngày nay, mỗi dịp gặp mặt, ôn cố tri tân, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn vận tải 232 lại nhắc nhau sống xứng đáng với quá khứ vinh quang, với những đồng đồng đội đã hy sinh trên dải Trường Sơn một thời lửa đạn.

HOÀNG THƠ – HỒNG VÂN – ĐỖ THỊ NGỌC DIỆP

baoquangnam.com.vn

Advertisements
Đã đóng bình luận.
%d bloggers like this: