Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 1)

“Đã ra quân là đánh thắng” – câu nói đã ngấm vào máu, khắc vào xương, là niềm tự hào đồng thời cũng là trách nhiệm cao cả của những người lính xe tăng đã viết lên những bản hùng ca 52 năm qua.

Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Năm 1968, lần đầu tiên xe tăng Việt Nam xuất kích, địch đã hoàn toàn bị bất ngờ, hoảng loạn chỉ còn biết tháo chạy. Chiến thắng vang dội ở Tà Mây – Làng Vây, góp phần vào chiến thắng chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, đi vào lịch sử Binh chủng Tăng – Thiết giáp như một mốc son chói lọi, mở đầu cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng”.

Ngày 5/8/1967, sau gần 8 năm thành lập, Bộ Tư lệnh thiết giáp được lệnh sử dụng 2 đại đội xe tăng vào Nam chiến đấu. Hai đại đội PT-76 (đại đội 3 và đại đội 9) của Trung đoàn xe tăng H03 được lựa chọn và tổ chức thành tiểu đoàn mang phiên hiệu 198. Ngày 1/10/1967, tiểu đoàn 198 bắt đầu Nam tiến.

Sáng tạo táo bạo

Hơn 2 tháng hành quân bằng bánh xích, vượt trên 1.000 km đường Trường Sơn, toàn tiểu đoàn đến vị trí tập kết với 100% trang bị chiến đấu. Suốt chặng đường hành quân phải đảm bảo tuyệt đối bí mật ấy, những người lính xe tăng đã có nhiều sáng tạo đến táo bạo. Theo thiếu tướng Lê Xuân Tấu, nguyên trưởng xe tăng 555, đơn vị di chuyển chủ yếu vào ban đêm bằng đèn gầm có lắp thêm thiết bị hạn chế ánh sáng.

Những đêm mù sương, các trưởng xe phải đi bộ trước mũi xe, khoác dù trắng dẫn đường. Các kíp xe phải dùng cành cây tươi phủ lên ống xả, vừa ngăn được tiếng ồn, vừa tránh bụi lửa phóng ra từ ống xả. Một bộ bánh xích chỉ cho phép chạy được từ 400 đến 500km trong điều kiện đường tốt. Lần này, do xe tăng của ta phải vượt đoạn đường với địa hình phức tạp, nhiều đá to, ngầm, sông… đặc biệt là phải đi dưới làn bom, đạn pháo địch, nên hơn 90% bánh đỡ nặng và gần 50% mắt xích bị hỏng.

Mắt xích và bánh chịu nặng của xe PT-76 đã vượt hơn 1.000km đường Trường Sơn vào tham gia trận đánh Làng Vây năm 1968. Ảnh: Hà Dương.

Các kíp xe đã đảo xích bên phải sang bên trái và ngược lại, đồng thời, lắp xen kẽ mắt xích lành với mắt xích hỏng để đảm bảo hành quân – cái sáng tạo chỉ có ở người lính xe tăng Việt Nam. Tới điểm tập kết, đơn vị đã nhanh chóng ổn định trú quân an toàn, khắc phục các sự cố của xe, sẵn sàng chiến đấu.

Hằng ngày, máy bay trinh sát địch luôn vè vè trên đầu, máy bay B-52 chốc chốc lại giội bom bừa bãi xuống những nơi nghi vấn, nhưng chúng không thể phát hiện ra hàng chục xe tăng nằm chình ình hơn 10 ngày ngay sát cứ điểm, trên đồi không có lấy một bóng cây chỉ bạt ngàn cỏ tranh. Vì xe đã được phủ bằt các sọt cỏ tranh được trồng và tưới nước hằng ngày.

Nguyên Đại đội trưởng Đại đội tăng 9 Ngô Xuân Nghiêm, cho biết, trong từng trận chiến đấu, tính sáng tạo của lính tăng cũng được thể hiện hết sức sinh động. Câu chuyện kíp xe 569 là ví dụ. Lái xe Phạm Văn Hương bị thương ở chân. Vì không có lái xe thay thế, kíp xe đã sáng kiến Hương lái, còn pháo thủ dùng chân đạp cần lái. Nhờ đó, xe tăng 569 vẫn cùng đồng đội lao về phía trước tiêu diệt địch. Hay chuyện chiếc kính ngắm của xe 565 bị hỏng, pháo thủ đã trực tiếp ngắm qua nòng pháo để tiêu diệt mục tiêu… Những sáng tạo đó đã góp phần làm nên chiến thắng.

Tập kích bất ngờ

Thắng lợi Tà Mây – Làng Vây có vai trò rất lớn của việc bảo đảm bí mật, bất ngờ trong hành quân, trú quân và tập kết chiến đấu. Địch không hề biết về sự có mặt của tiểu đoàn xe tăng đầu tiên của ta trên chiến trường và cũng không biết bằng cách nào ta có thể đưa được những chiếc xe tăng vượt qua núi rừng Trường Sơn điệp trùng hiểm trở.

Yếu tố bí mật đó thật sự tạo nên bất ngờ rất lớn trong trận Huội San (Tà Mây). Ngày 24/1/1968, đại đội xe tăng 3 đã tấn công cứ điểm này. Hai xe tăng 555 và 558 đã lao thẳng vào căn cứ của địch, bắn sập các lô cốt, hỏa điểm của địch. Bất ngờ trước sự xuất hiện của xe tăng ta, quân địch hoảng hốt tháo chạy tán loạn, quân ta làm chủ trận địa trong một thời gian ngắn.

Đoàn tiền trạm của Tiểu đoàn 198 chuẩn bị cho trận đánh Tà Mây – Làng Vây. Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Đến khi đánh cứ điểm Làng Vây, yếu tố bất ngờ về sự xuất hiện của xe tăng không còn nữa, ta lại tạo ra sự bất ngờ mới về hướng tiến công. Để chuẩn bị tiến công, từ ngày 19/1/1968, đại đội tăng 9 đã nhiều lần cùng bộ đội công binh dùng mảng nứa, bí mật thăm dò lòng sông Sêpôn, xác định đường, bến, phương án lái trên sông và đề ra các biện pháp khắc phục cụ thể.

Đại đội xe tăng 9 bơi xuôi theo dòng sông Sêpôn từ vị trí tập kết chiến đấu ở đồi Pê Sai vào tuyến điều chỉnh cuối cùng ở Làng Troài, cách địch gần 2km. Sông Sêpôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông dốc dựng đứng, địch hoàn toàn không ngờ xe tăng ta có thể vận động theo dòng sông để tập kích vào hướng này.

Các chiến sỹ công binh đã bơi lặn trong dòng nước lạnh buốt đo mực nước, đánh dấu các khu vực có đá ngầm và phá những tảng đá to trên quãng sông nước cạn, để mở đường cho xe tăng đi bằng xích. Những đoạn có nhiều đá ngầm, các chiến sĩ công binh quấn dù trắng trên mình, đứng dọc hai bên để làm lộ tiêu sống dẫn đường cho xe tăng bơi. Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, đến 23g cả 8 xe đều đến được vị trí cuối cùng ở khu vực cầu Bi Hiên cách cứ điểm địch khoảng 2km. Lúc này pháo binh địch từ Tà Cơn và hỏa lực địch trong căn cứ Làng Vây bắn mạnh ra trên cả hai hướng, máy bay địch cũng bắt đầu thả pháo sáng, bắn phá ngăn chặn ta tiến công.

Đúng 23g25, ngày 6/2/1968, Sở chỉ huy hạ lệnh và phát tín hiệu xung phong. Xe tăng của ta đồng loạt vượt cửa mở, dẫn bộ binh xung phong vào trong cứ điểm của địch. Sau 4 giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao. Xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống gần 1.000 tên địch.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Advertisements

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 2)

Ở Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp, có một hiện vật không thuộc nhóm vũ khí khiến khách tham quan không khỏi rưng rưng. Đó chính là nắm cơm bị cháy.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Đầu năm 1972, chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch xuân – hè nhằm tiêu diệt căn cứ Đăk Tô – Tân Cảnh bằng trận chiến hiệp đồng binh chủng có xe tăng tham gia, góp phần tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch.

Như mũi tên thép

Đăk Tô – Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của ngụy quân ở bắc Tây Nguyên, mà Mỹ – ngụy cho là vành đai thép án ngữ hành lang Trường Sơn, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng địch được bố trí ở dãy cao điểm phía tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa bảo vệ thị xã Kon Tum.

Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh là giải phóng 1/3 mạn bắc tỉnh Kon Tum, làm sụp đổ tuyến phòng thủ bắc Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn. Sau khi vừa tham chiến ở Đường 9 – Nam Lào trở về, tiểu đoàn 297 tăng thiết giáp lại được lệnh tiến vào chiến trường Tây Nguyên với khẩu hiệu “Tiến sâu – Ở lâu – Đánh thắng!”. Sau 2,5 tháng hành quân, đến đầu năm 1972 thì tới ngã ba biên giới Đông Dương.

Đêm 23/4/1972, từ ngầm sông Pô Kô Hạ, đại đội 7 gồm 9 chiếc xe tăng cùng trung đoàn 66 bộ binh bắt đầu xuất kích. 1g ngày 24/4/1972, xe 377 dẫn đầu tấn công vào hướng đông căn cứ e42 – Tân Cảnh, mở màn trận đánh tiêu diệt cụm cứ điểm này. Sau hơn nửa giờ chiến đấu ác liệt, căn cứ của địch chìm trong khói lửa.

Xe 377 cùng đồng đội xuất kích trong trận Đắk Tô – Tân Cảnh 1972 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Đến 4h30, xe 377 dẫn đầu cho bộ binh và xe 357 xốc tới, dũng mãnh tấn công, như một mũi thép lướt qua công sự, chiến hào, vật cản của địch… tiến thẳng vào sở chỉ huy e42, khiến đại tá cố vấn Mỹ, đại tá Lê Đức Đạt chết tại chỗ, đại tá Vi Văn Bình bị bắt sống. Đến 8h cùng ngày, ta cơ bản làm chủ khu vực Đăk Tô – Tân Cảnh.

Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 ly, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh ngụy. Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định điều một trung đội xe tăng, gồm xe 377, 354, 369 vận động theo đường 18 lên hiệp đồng với Trung đoàn 1, Đoàn 2, tiêu diệt địch ở căn cứ Đăk Tô 2.

Một đấu mười

Mặc dù không có thời gian chuẩn bị nhưng, Thiếu uý Nguyễn Nhân Triển, Trung đội trưởng Trung đội tăng 3 (ngồi trên xe 377) đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh, vừa cơ động, quan sát nắm địch, đồng thời dẫn trung đội vận động với tốc độ cao, dũng cảm vượt qua các trận địa, sự bắn phá ác liệt của máy bay địch để đến căn cứ Đăk Tô 2 trước thời gian.

Xe 377 lại tiếp tục dẫn đầu hai xe 354 và 369 lao thẳng vào cứ điểm. Vì gặp chướng ngại vật nên hai xe kia bị tụt lại phía sau. Địch thấy chỉ có mỗi một xe 377 đơn độc bèn cho xuất kích 10 chiếc tăng M41 chia làm 2 mũi bao vây. Xe 377 lọt vào giữa vòng vây của địch. Cuộc đấu 1 chọi 10 diễn ra ác liệt.

Xe 377, huyền thoại của Binh chủng Tăng Thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trong tình thế nguy nan, Nguyễn Nhân Triển đã bình tĩnh chỉ huy đơn vị chiến đấu, bắn cháy 7 xe M41, làm rối loạn đội hình địch. Xe tăng 354, 369 trên đường cơ động, biết xe 377 gặp khó khăn chờ chi viện đã chạy với tốc độ cao nhất lao lên trận địa, bắn cháy 3 xe tăng địch. Lúc đó, một xe tăng địch ở phía Nam sân bay dã chiến Phượng Hoàng bắn trúng xe 377.

Dù xe bốc cháy, nhưng kíp xe vẫn kiên cường truy kích địch. Nhưng cuối cùng 4 chiến sĩ trong xe là Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển, Hạ sĩ pháo thủ Hoàng Văn Ái, Nguyễn Đắc Lương và Hạ sĩ lái xe Cao Trần Vịnh đã anh dũng hy sinh. Lúc này xe tăng, bộ binh ta mãnh liệt tiến lên tràn vào tiêu diệt địch, làm chủ căn cứ Đăk Tô 2.

11h30 hôm ấy lá cờ của Tỉnh ủy Kon Tum trao cho trung đoàn 66 tung bay trên cứ điểm Đăk Tô. Quân địch đóng ở các căn cứ Ngok Bờ lêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận ĐăkTô, rút chạy toán loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến ĐăkTô, về Đăk Mot và hàng chục ngàn đồng bào các dân tộc Kontum được giải phóng.

Xác những chiếc xe tăng Mỹ do kíp xe 377 bắn cháy tại trận Đắk Tô 2 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trận đánh kết thúc, đồng đội tìm thấy xe 377 đang bốc cháy giữa ngổn ngang xác xe tăng địch. Bên cạnh thi thể không còn nguyên vẹn của các anh, là những nắm cơm mà các anh chưa kịp ăn giữa hai trận đánh đã bị cháy thành than. Tập thể kíp xe 377 đã lập kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao: 1 xe tăng tiêu diệt 7 xe tăng địch trong một trận đánh.

Với chiến công trên, tập thể xe 377 đã nêu tấm gương sáng về bản lĩnh kiên cường. Chiến công của xe 377 được coi là chuyện huyền thoại của Binh chủng tăng thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xe tăng 377 đã trở thành kỷ vật vô cùng thiêng liêng, tự hào của Đơn vị H73 và gia đình các liệt sĩ.

Ghi nhớ chiến công của các anh, chiếc xe tăng 377 đã trở thành tượng đài đặt ở giữa trung tâm thị trấn Đăk Tô, nơi các anh đã anh dũng chiến đấu và hy sinh. Phần hài cốt của các anh đã được quy tập về Nghĩa trang Liệt sỹ huyện Đăk Tô, mảnh đất nơi các anh đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho đất nước; còn nắm cơm đã cháy thành than, cùng các di vật của kíp xe 377 hiện vẫn đang được lưu giữ tại Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp. Ngày 1/9/2009 nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho kíp xe tăng 377.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ cuối)

Hơn 30 năm đã qua đi, nhưng hình ảnh chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống ngụy quyền trưa 30/4/1975 mãi là biểu tượng chiến thắng huy hoàng của dân tộc.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng
>> Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Kỳ cuối: “Nhân chứng” đặc biệt

(Đất Việt) Sau khi giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết, ngày 26/4/1975, toàn bộ lực lượng của ta bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ba ngày sau, đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 1, lữ tăng 203, quân đoàn 2 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong – Trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu tiến vào Sài Gòn.

Thần tốc, táo bạo

Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài ở Nước Trong, sông Buông, địch co lực lượng về tử thủ ở ngã ba Long Bình, cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, căn cứ Nguyễn Huệ, Thủ Đức, Học viện cảnh sát, căn cứ Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn. Nửa đêm 29/4, tiểu đoàn 1 đi đầu đội hình đến phía bắc cầu Xa Lộ. Xe tăng và bộ binh ta tiến đánh cụm địch ở bên kia cầu.

Để tránh thiệt hại cho các lực lượng phía sau, ta cơ động tiểu đoàn xe tăng 1 tới sát cầu, bắn nổ tung 3 xe M113 chở đầy đạn ở giữa cầu. Sau đó quân ta tràn lên cầu. Địch cho xe tăng dẫn bộ binh ra phản kích. Xe tăng của tiểu đoàn 1 bắn cháy 4 xe địch, số còn lại hốt hoảng bỏ chạy về Thủ Đức. Sau khi đánh bại địch giữ cầu Xa Lộ, binh đoàn thọc sâu tức tốc vượt cầu, nhanh chóng vượt qua các tuyến ngăn chặn của địch.

Cánh cổng sắt Dinh tổng thống Nguỵ dưới vành xích xe 390.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

8h ngày 30/4/1975, trong đội hình đại quân thần tốc tiến vào nội đô Sài Gòn, kíp xe 390 gồm: Trung úy Vũ Đăng Toàn chỉ huy xe tăng 390, chính trị viên đại đội 4, Trung sĩ Nguyễn Văn Tập – lái xe, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên – pháo thủ số 1 và Thiếu úy Lê Văn Phượng – pháo thủ số 2, đi đầu đội hình, vượt qua cầu Thị Nghè, gặp xe tăng địch ra ngăn chặn. Bằng một phát đạn xuyên táo, xe 390 diệt luôn 2 xe M113, số xe địch còn lại hoảng sợ bỏ chạy.

Xe tăng 390 tăng tốc theo đại lộ Hồng thập tự, tiến vào đánh chiếm Dinh tổng thống Nguỵ. Thiếu uý Lê Văn Phượng, nguyên Đại đội phó Đại đội tăng 4 nhớ lại, theo phương án tác chiến, xe tăng 390 đến ngã tư thứ 7 thì rẽ trái là vào đến Dinh tổng thống Nguỵ, nhưng vì cả kíp xe không ai biết Dinh ở đâu, xe đã chạy quá một đoạn, nên phải quay lại, theo đường Công lý (nay là đường Nam kỳ khởi nghĩa).

Thắng nhanh để không đổ thêm máu

Sau khi quay lại, chỉ còn cách Dinh khoảng 30m, kíp xe 390 nhìn thấy xe tăng 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy quay nòng pháo, nhấn ga, húc nghiêng cánh cổng phụ bên trái. Do đột ngột gặp sức cản lớn, nên xe chết máy và kẹt ở đó. Khi thấy xe 843 bị vướng trước cổng phụ của Dinh, lái xe Nguyễn Văn Tập quay sang nói với chỉ huy xe Vũ Đăng Toàn: “Hay xe của anh Thận bị thương rồi, Thế nào anh Toàn, có cho xe vào dinh không?”.

“Tông thẳng vào”, Trung úy Toàn đã quyết đoán ra lệnh cho lái xe Nguyễn Văn Tập tông thẳng vào cổng chính của Dinh. Lập tức xe 390 tăng ga, lao thẳng và húc hai cánh cổng thép, xích xe chồm lên cánh cổng bên phải, còn cánh bên trái bung bản lề, nghiêng sang một bên.

Ngay sau đó, xe tăng 843 nổ máy trở lại, tông tiếp vào cánh cổng bên trái, cả hai xe tăng 390 và 843 cùng vượt qua cổng, tiến thẳng vào sân, mở toang cánh cửa cuối cùng vào sào huyệt kẻ thù, tạo điều kiện cho lực lượng ta tràn vào sân Dinh, bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.

Khi xe tăng 843 vừa dừng lại, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe, được đồng đội yểm trợ và được người trong Dinh dẫn đường, tiến lên tầng thượng, hạ cờ chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên cột cờ cao nhất của Dinh tổng thống nguỵ lúc 11h30 ngày 30/4/1975, thời khắc thiêng liêng báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, đánh dấu sự cáo chung của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

Khi được hỏi, có nghĩ gì khi quyết định húc vào cánh cổng sắt của Dinh? Ông Vũ Đăng Toàn cho biết, lúc đó, chỉ có suy nghĩ duy nhất là phải giành được thắng lợi nhanh nhất, để đồng đội và nhân dân không phải đổ thêm xương máu nữa. Mặc dù, có thể “dính” mìn chống tăng hoặc vật cản nổ của địch bảo vệ cổng Dinh, có thể hy sinh, nhưng kíp xe không có lựa chọn khác.

Các sĩ quan cao cấp trong phủ Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn
đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng trưa 30/4/1975.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Trung sĩ Nguyễn Văn Tập chia sẻ: “Khi thời cơ đến, chúng tôi chỉ biết đó là độc lập. Đất nước còn chiến tranh thì đau khổ vẫn còn, vậy thì quyết định nhanh chóng để bắt nội các Dương Văn Minh đầu hàng, chấm dứt chiến tranh”. Họ là những người hạnh phúc nhất được chứng kiến thời khắc lịch sử của dân tộc.

Đó là giờ phút mà không phải người lính nào cũng có may mắn được trải nghiệm. “Cảm giác sung sướng đến phát khóc khi được chứng kiến khoảnh khắc lịch sử, đích đến cuối cùng sau bao nhiêu năm đồng bào, đồng chí đổ xương máu cho độc lập, thống nhất của Tổ quốc”, Thiếu úy Lê Văn Phượng bồi hồi nhớ lại.

Năm tháng đã qua đi, nhưng hình ảnh xe tăng 390 húc tung cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn trưa 30/4/1975 mãi mãi là in đậm trong lòng những người lính xe tăng và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Hiện nay, xe tăng 390 được trưng bày tại Bảo tàng lực lượng Tăng – Thiết giáp. Câu chuyện về “nhân chứng” lịch sử đặc biệt này sẽ như một khúc ca truyền thống tiếp lửa cho các thế hệ những người lính Tăng – Thiết giáp.

Với ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn của xe tăng 390 trong Đại thắng mùa Xuân 1975, tháng 8/2011, Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng đã xét duyệt hồ sơ và thẩm định hiện vật xe tăng 390, nhất trí đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ 2)

TP – Năm 1965, dân chúng Mỹ bắt đầu nghi ngờ về việc Hoa Kỳ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến Việt Nam. Số lượng người phản đối ngày một tăng lên.

Sự phẫn nộ của những người yêu hòa bình

Nhiều thanh niên bất mãn đã tách khỏi xã hội Mỹ và thành lập những công xã như thế này

Các cuộc phản đối được thực hiện với nhiều kiểu thể hiện: Những buổi biểu diễn nhạc chống chiến tranh, tuần hành đòi ngưng ném bom, khẩu hiện dán trên xe máy: Tình yêu chứ không phải chiến tranh, và biểu ngữ “Chiến tranh có hại cho trẻ em và những sinh vật khác”.

Thanh niên Mỹ đốt giấy triệu tập nghĩa vụ quân sự và bao vây các trung tâm tuyển quân. Các cuộc biểu tình lan vào trường học, đặc biệt là sau khi việc hoãn triệu tập nghĩa vụ quân sự đối với sinh viên bị bãi bỏ.
Năm 1968, khoảng 10.000 người Mỹ đã di cư sang Canada để tránh phục vụ cho cái mà họ gọi là cuộc chiến tranh đồi bại.

Lý do để những người yêu hòa bình phản đối cuộc chiến này được đưa ra ngày càng nhiều. Một trong những lý do chính là họ cho rằng thực chất của cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là một cuộc chiến trong đó lực lượng Việt Cộng đã cố gắng để đánh bại một chính phủ tham nhũng và vô dụng ở Sài Gòn.

Những người yêu hòa bình tố cáo Chính phủ Hoa Kỳ đã hủy hoại cả đất nước và con người Việt Nam, đã làm cho hàng ngàn người Mỹ chết, bị thương, và cái giá của cuộc xung đột này còn thể hiện ở chỗ nạn lạm phát trầm trọng.

Phái hiếu chiến lại đồng ý với Johnson rằng cuộc chiến ở Việt Nam quan trọng đối với an ninh của nước Mỹ và cần chấp nhận sự chết chóc và tốn tiền của. Thậm chí còn có người đòi chiến tranh phải leo thang thêm nữa.

Họ tin sẽ có “ánh sáng ở cuối đường hầm” và chỉ có những nỗ lực hết cỡ của quân đội mới có thể mang lại chiến thắng trọn vẹn. Họ dẫn chứng từ những báo cáo của những nhà ngoại giao Mỹ và tư lệnh ở chiến trường Việt Nam rằng đối thủ của họ đã kiệt sức và đang đứng trước bờ vực chiến bại.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Tối thứ Ba ngày 30 tháng Chạp năm 1968, là ngày đón năm mới của người Việt Nam. Những ngày kế tiếp được gọi là Tết – những ngày bắt đầu một năm mới tính theo lịch mặt trăng.

Ở khắp các đô thị miền Nam VN, đường phố đông nghẹt những người trẻ tuổi trông như vừa mới từ ngoại ô lên để đón lễ. Ngoài ra còn có rất nhiều những đám tang bất thường với kèn sáo, và dĩ nhiên là cả quan tài.

Nhưng khi vỡ lở rồi mới biết, áo quan chứa toàn vũ khí, còn những người ngỡ như nông dân lại là Việt Cộng. Tối đó, Việt Cộng đã mở một cuộc tấn công kinh hoàng khắp cả trăm đô thị ở miền Nam, trong đó có Sài Gòn và 26 tỉnh lỵ.

Sau một tháng chống trả, quân đội Nam Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ giành lại được quyền kiểm soát, làm thương vong 42.000 quân Việt Cộng. Đó là một sự kiện chứng tỏ với Johnson rằng đối phương không hề đã bị đẩy đến bờ vực đầu hàng và cuộc chiến hãy còn dài lắm.

Johnson quyết định rút lui

Trước dấu hiệu có thể bị thất bại trong cuộc chạy đua tiếp theo vào Nhà Trắng bởi những đối thủ có chính sách hòa bình ở Việt Nam được đông đảo cử tri ủng hộ, mà một trong những người đó chính là anh trai của cố Tổng thống John Kennedy – ông Robert Kennedy, người đã đề nghị việc Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam từ đầu năm 1963 với phát biểu: “Chúng ta đang giết những người vô tội…”

Là một chính trị gia tinh quái, Johnson hiểu điều gì sắp xảy ra. Ngày 31/3/1968, ông tuyên bố trên tivi: “Tôi đang từng bước hạ màn chiến tranh ở Việt Nam. Tôi đã đề nghị không lực của chúng ta không tiếp tục oanh tạc Bắc Việt Nam”.

Sau một thoáng suy nghĩ, ông nói tiếp: “Đang có sự chia rẽ trong các gia đình người Mỹ. Do đó, tôi không mong muốn, và cũng không chấp nhận Đảng của tôi bổ nhiệm tôi làm tổng thống trong nhiệm kỳ tới”.
Bốn năm trước, Johnson nhận được sự ủng hộ của đông đảo cử tri Mỹ. Nhưng lúc này, ông đã phải tuyên bố giã từ sự nghiệp chính trị của mình.

Sau đó một tháng, một cuộc đàm phán sơ bộ giữa những người đại diện của ông Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ được tổ chức ở Paris. Bất chấp điều đó, chiến sự vẫn nổ ra.

Thời đại Nixon

Cuối những năm 1960, người Mỹ ngao ngán với những cuộc bạo động, biểu tình. Cuộc chiến ở Nam á vẫn không có được câu trả lời khi nào thì chấm dứt. Việc hai chính khách bị ám sát trong cuộc tuyển cử năm 1968 càng làm cho dân chúng lo lắng và thất vọng. Vì thế cử tri Mỹ đã bỏ phiếu cho ứng cử viên hứa hẹn đoàn kết đất nước lại.

Richard M.Nixon trở thành Tổng thống Hoa Kỳ tháng Giêng năm 1969. Năm 1972, ông tái đắc cử. Chính quyền Nixon thay đổi chính sách đối ngoại, tái lập mối quan hệ với Trung Quốc, và muốn chấm dứt sự liên lụy với cuộc chiến Việt Nam.

(Còn tiếp)
Hoàng Thiên Nga – Võ Phụng Hoàng
dịch và tổng hợp

>>Kỳ 1: Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam?

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ cuối)

TP – Nixon luôn phải nỗ lực quyết liệt để đạt được những thành tựu trong cuộc đời. Điều đó khiến ông ta có nhận định rằng thế giới chỉ là một đấu trường trong đó chỉ có chiến thắng mới là điều đáng quan tâm.

ảnh đăng trang 716 với ghi chú : "Vợ chồng Tổng thống Nixon đón nhận sự cổ vũ sau bài diễn văn ông đọc vào năm 1968 tại New York"

Nixon và kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh

Có vẻ như ông ta nhìn nhận những người không cùng quan điểm không đơn giản chỉ là người bất đồng với ông mà là kẻ thù của ông. Những người này đe dọa đến quyền lực của ông và họ cần phải bị tiêu diệt.

Nixon cư xử nếu không nói như một Hoàng đế, thì cũng giống một hoàng tử. Ông ta mua một biệt thự giá 250.000USD ở Key Biscayne– Florida, và một biệt thự khác ở San Clemente– California mà ông ta phong cho cái tên là Nhà Trắng miền Tây.

Chính phủ của ông chi hết 10,5 triệu USD trong hai nhiệm kỳ, một phần trong số đó là để trang bị vũ khí và thiết bị an ninh, còn phần lớn là để sắm sửa đồ đạc và xây dựng cảnh trí. Mười sáu phi cơ và mười sáu máy bay trực thăng luôn phải túc trực để ông sử dụng. Quản gia, người hầu, đầu bếp, thợ làm vườn, lái xe của Nixon gồm cả trăm người.

Trong một lần trả lời báo chí, Nixon cho rằng: “Tổng thống phải khác người, ông ta phải có một phong cách đặc biệt. Bởi dân chúng muốn như vậy. Họ không muốn Tổng thống cũng tham gia vào đám đông và nói : Nhìn này, trông tôi cũng giống với các anh”. Thế nên, người ta luôn thấy ông thắt cà-vạt và mặc áo choàng. Và thậm chí bạn thân của ông ta cũng không được gọi tên của ông, mà phải trân trọng gọi là Mr.Nixon hoặc ngài Tổng thống.

Với thái độ xa lánh dân chúng kiểu đó, dưới thời đại của ông rất ít có những cuộc họp báo và các thông tin quan trọng thường không đến được với dân chúng Mỹ. Một ví dụ là Nixon đã không nói về việc ông cho ném bom Campuchia mãi đến khi việc này đã xảy ra được hơn một năm.

Nhiều người lo ngại rằng Tổng thống đã bao trùm những luật lệ của riêng ông lên Chính phủ.

Tháng 6/1969, Nixon tuyên bố kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”. Có nghĩa là sẽ từ từ rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam và để miền Nam Việt Nam tự giải quyết cuộc chiến của họ. Cuối tháng 8/1969, nhóm 25.000 lính Mỹ đầu tiên trở về nhà. Thời điểm đó, ông tăng cường ném bom miền Bắc, và bí mật ném bom cả Lào và Campuchia.

Phong trào phản chiến tăng lên

Ảnh đăng trang 719 với ghi chú : “Gia đình Nixon thăm Vạn lý trường thành. Chuyến thăm Trung Quốc năm 1972 này đã đánh dấu một mốc chuyển biến quan trọng trong đường lối đối ngoại của Hoa Kỳ”

Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh chỉ thành công một phần. Số lượng binh lính Mỹ trở về nhà ngày một tăng lên, nhưng chính quyền tham nhũng và kém hiệu quả của Nguyễn Văn Thiệu không thể tuyển được đủ quân để lấp vào khoảng trống đó.

Trong khi đó, các tổ chức phản chiến ở Mỹ ngày càng lớn mạnh. Ngày 15/5/1969 hàng trăm ngàn người Mỹ đeo băng đen trên tay áo đổ ra đường diễu hành.

Một cuộc xuống đường tương tự diễn ra vào ngày 15/10/1969. Rồi ngày 15/11/1969 tại Washington khoảng 40.000 người tham gia cuộc đi bộ “Phản đối sự chết chóc” , mỗi người cầm một tấm bảng có ghi tên một lính Mỹ chết ở Việt Nam.

Ông Nixon không chứng kiến các cuộc diễu hành này. Ngồi trong Nhà Trắng, ông bận xem trận bóng đá trên tivi. Ông ta cảm thấy việc rút quân khỏi Việt Nam một cách vô điều kiện là nhục nhã.

Và để có “Hòa bình trong danh dự” thì phải thông qua việc Việt Nam hóa chiến tranh. Một cuộc thăm dò dư luận Mỹ cho thấy 3/4 dân chúng Mỹ đồng tình với quan điểm này của Tổng thống.

Nhưng dần dần cách nhìn nhận của dân chúng Mỹ thay đổi. Tivi đã đưa hình ảnh về sự chết chóc và hủy hoại trực tiếp vào tận trong các gia đình người Mỹ. Báo chí đăng tải những sự kiện như lính Mỹ tàn sát cả một làng của người Việt ở Mỹ Lai.

Mùa xuân 1970, Nixon thông báo quân đội Mỹ đã xâm chiếm Campuchia để xóa sổ những địa điểm tiếp tế của Việt Cộng và Bắc Việt Nam. Dù cho binh lính đã rút khỏi đây vào tháng Sáu, nhưng phong trào phản chiến vẫn ngày càng sôi sục. Quốc hội có nghị quyết đòi việc ném bom Campuchia phải chấm dứt vào tháng Bảy.

Sinh viên đồng loạt biểu tình. Hơn 400 trường học đóng cửa. Từ ngày 9 đến 10/5/1970, khoảng 100.000 sinh viên tập trung trước Nhà Trắng. Thoạt đầu, Nixon gọi họ là những kẻ lười biếng vô công rồi nghề.

Sau đó ông ta tìm cách trò chuyện với họ trong trật tự và thân thiện. Nhưng thay vì nói về chiến tranh, ông chỉ đề cập đến bóng đá và lướt sóng. Một tờ báo viết về sự kiện này : “ Hai người Mỹ gặp nhau và ông nói gà bà nói vịt”.

Việc thương lượng hòa bình vẫn được tiến hành ở Paris. Ngày 8/10/1972, sau khi đã kiên nhẫn thảo luận, Kissinger tuyên bố một thỏa thuận ngừng bắn với Bắc Việt Nam chuẩn bị được ký kết. Hòa bình trong tầm tay. Ngày 23/10, ông ta lại nói việc ký hiệp ước bị trì hoãn vì có những điểm cần làm sáng tỏ.

Có một lý do mà Nam Việt Nam không chấp thuận. Đến tháng 11, việc làm sáng tỏ này vẫn chưa hoàn tất, Nixon ra lệnh huy động tổng lực không quân Hoa Kỳ tấn công Bắc Việt Nam. Thật không may, hầu hết doanh trại, kho hàng, nhà máy là những điểm chính của cuộc tấn công đều được đặt ở khu dân cư đông đúc. Nhà cửa, trường học, bệnh viện bị phá hủy ngoài chủ định, tổn thất trong người dân cũng rất cao.

Trước sự việc đó, nhiều đại biểu Quốc hội trước đó từng ủng hộ Nixon cũng đã lên tiếng đòi nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến. Cuối cùng thì ngày 27 tháng Giêng năm 1973, Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ cũng ký vào bản thỏa thuận này. Mỹ rút quân nhưng vẫn chi viện cho Nam Việt Nam. Còn Bắc Việt Nam thì thả tù binh Mỹ.

Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. 46.000 binh lính Mỹ tử trận, 300.000 bị thương, tiêu tốn hết 137 tỷ USD. Một hậu quả vô hình khác là sự chia rẽ trong các gia đình Mỹ và cảm giác bứt rứt của người Mỹ.

Sự tôn trọng chính quyền liên bang cũng bị giảm sút bởi sự che đậy các hành động của họ trước dân chúng. Trong đầu người Mỹ đã xuất hiện cảm giác không muốn có bất cứ một trường hợp Việt Nam tương tự nào nữa, nhưng họ vẫn mơ hồ về việc nước Mỹ có nên tiếp tục quan tâm đến những lục địa phía Tây bán cầu nữa hay không.

Một hệ quả của cuộc chiến này là sự hạn chế quyền hạn của Tổng thống trong chiến tranh. Tháng 11/1973, Quốc hội thông qua nghị quyết Quyền hạn trong chiến tranh, nêu rõ: Tổng thống gửi quân đội ra nước ngoài phải giải trình với Quốc hội trong vòng 48 giờ. Quốc hội có thể ra quyết định rút quân trong vòng 60 ngày. Nixon phủ quyết nghị quyết này, nhưng nó vẫn được thông qua mà không cần đến sự đồng ý của ông ta…

Thay lời kết

Người bạn gửi tặng chúng tôi cuốn sách này là Nguyễn- kỹ sư cơ giới hạng nặng đang làm việc tại một thành phố nhỏ phía Nam nước Mỹ. Gần 30 năm trước anh đã từng trải những ngày tháng kinh hoàng của thân phận vượt biên trái phép.

Vài năm trở lại đây cuộc sống riêng ổn định, vợ chồng anh vẫn dành trọn những ngày cuối tuần làm việc thêm ngoài giờ để có thêm tiền gửi về hỗ trợ nhiều hoàn cảnh khó khăn trên mọi miền đất nước mà báo chí Việt Nam kêu gọi giúp đỡ, đồng thời chuẩn bị tỉ mỉ về một kế hoạch mở lớp dạy nghề cơ khí miễn phí cho trẻ nghèo sau ngày hồi hương.

Nguyễn tâm sự: Anh chỉ là một trong hàng triệu Việt kiều luôn tha thiết thương nhớ quê hương, ước mong được đóng góp thật nhiều cho đất nước.

>>Kỳ 2 —->> Kỳ trước

Hoàng Thiên Nga – Võ Phụng Hoàng

5 cánh quân giải phóng Sài Gòn (Bài 1)

Quân đoàn 1 mở cửa hướng Bắc

Vượt chặng đường dài 1.700km, ngày 14-4-1975, các đơn vị của Quân đoàn 1 đã có mặt tại khu vực tập kết Đồng Xoài và sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu – tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh – trận đánh cuối cùng trong công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Gian nan đường hành quân

Ngày 31-3-1975, chấp hành nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Quân ủy Trung ương, tại Tổng hành dinh ở Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Thế Bôn, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 1: “Quân đoàn 1 (trừ Sư đoàn 308) có nhiệm vụ tổ chức hành quân gấp vào miền Đông Nam bộ, hiệp đồng với các đơn vị bạn tham gia trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn – Gia Định”.

Lữ đoàn xe tăng 202 phối hợp cùng Sư đoàn 320B, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy.

Chỉ trong vòng 16 ngày, Quân đoàn 1 đã tổ chức được các lực lượng tập kết tại Đồng Xoài – tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước). Bộ Tư lệnh Quân đoàn nhận định: Lúc này trên cả trục đường (đường số 1, đường Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn) đều có những khó khăn, thuận lợi.

Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định hành quân trên đường Tây Trường Sơn. Quân đoàn chia làm 2 khối, đi bằng ô tô (Bộ Tư lệnh Trường Sơn hỗ trợ thêm ô tô) và cơ động theo đường 9 qua Hạ Lào vào Tây Trường Sơn đến Đắc Tô rồi nhập vào đường 14 để vào tập kết ở Đồng Xoài. Ngày 3-4, toàn quân đoàn ra trận. Đội hình hành quân của quân đoàn kéo dài hàng trăm cây số.

Ông Ngô Viết Đông, chiến sĩ lái xe Sư đoàn 751, Bộ Tư lệnh Trường Sơn lúc đó cho chúng tôi biết: “Càng tiến về khu vực Hạ Lào, khí hậu khô bức. Đất bụi mịt mù. Tuy không nhìn rõ nhau, nhưng các xe vẫn cố bám đội hình hành quân. Bộ đội chúng tôi ăn ngủ ngay trên xe. Mỗi xe bố trí 2 lái xe đi liên tục cả ngày lẫn đêm. Mỗi xe là một phân đội nhỏ tự quản lý, giúp đỡ nhau về mọi mặt. Khi gặp địch thì từng xe là một phân đội chiến đấu. Nếu bị tắc đường, các xe phối hợp lại giúp nhau để giải tỏa nhanh chóng”.

9 giờ 30 phút ngày 7-4-1975, khi liên lạc với Bộ Tổng tư lệnh, Sở Chỉ huy Quân đoàn nhận được bức điện khẩn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Toàn văn bức điện như sau: “Gửi Bộ tư lệnh 559, Tiền phương 559. Các sư đoàn, các đoàn binh khí kỹ thuật trên đường hành quân. 559 chuyển Quân đoàn 1, Quân đoàn 2… Mệnh lệnh: Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”.

Trong lịch sử quân đội ta chưa bao giờ có một cuộc hành quân quy mô đến thế, thần tốc như thế. Khi xưa, vua Quang Trung tổ chức hành quân thần tốc từ Phú Xuân ra Thăng Long, chặng đường dài 700 km, ngày đi đêm nghỉ. Trong Chiến dịch giải phóng Sài Gòn này, đoàn quân với hàng ngàn phương tiện cơ giới đã vượt chặng đường dài 1.700km từ Bắc vào Nam, đi suốt ngày đêm không nghỉ.

Trong khi lực lượng cơ bản của Quân đoàn 1 đang thần tốc tiến về miền Đông Nam bộ thì Sư đoàn 308 cũng được lệnh rời doanh trại xuất phát tiến về Nam thực hiện cuộc nghi binh chiến lược. Các đơn vị thông tin vô tuyến của sư đoàn ở vị trí cũ vẫn đều đặn phát tín hiệu lên không trung vào các giờ quy định. Đối phương không thể ngờ, Sư đoàn 308 lặng lẽ hành quân bí mật vào chiếm lĩnh vị trí ở khu vực Tam Điệp – Bỉm Sơn (Ninh Bình) để sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và cơ động chi viện chiến trường.

  • Mở toang cửa phía Bắc

Ngày 25-4, tại Sở chỉ huy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn phổ biến quyết tâm chiến đấu của Quân đoàn, văn bản đã được Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh phê chuẩn và giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị. Sư đoàn 320B cùng một số đơn vị đảm nhiệm tấn công, thọc sâu vào Sài Gòn, chiếm Bộ Tổng tham mưu và chi khu Gia Định. Hướng thứ yếu, Sư đoàn 312 và một số đơn vị khác đảm nhiệm tiến công, chia cắt, ngăn chặn, bao vây cô lập tiến tới tiêu diệt Sư đoàn 5 ngụy không cho chúng co cụm hoặc rút chạy về Sài Gòn.

Kế hoạch tác chiến này khẳng định cách đánh dùng lực lượng binh chủng hợp thành, tiến hành đồng thời giữa đột phá với thọc sâu chiến dịch, kết hợp với LLVT địa phương tạo nên sức mạnh tổng hợp của đòn tiến công và nổi dậy. Đây là lần đầu tiên quân đoàn tổ chức lực lượng sư đoàn tăng cường đánh thọc sâu vào thành phố. Nhờ được tập luyện trong cuộc diễn tập ở Sầm Sơn (tháng 1-1975), Quân đoàn đã tích lũy kinh nghiệm vận dụng đúng tại hướng Bắc Sài Gòn.

17 giờ ngày 26-4, Quân đoàn 1 đã chiếm lĩnh các vị trí ở hướng Bắc Sài Gòn và sẵn sàng xuất phát tiến công. Trong khi địch đang tăng cường sử dụng không quân, pháo binh ngăn chặn ta từ xa và điều thêm lực lượng chốt giữ các căn cứ vòng ngoài như Bình Mỹ, dốc Bà Nghĩa, quận lỵ Tân Uyên… (tỉnh Bình Dương) thì ta đã áp sát các căn cứ Chánh Lưu (Bình Dương) và Phước Vĩnh, Phước Hòa (tỉnh Phước Long) nay là Bình Phước; thực hiện nghi binh thu hút sự chú ý của địch; buộc Sư đoàn 5 của ngụy phải điều Trung đoàn 8 ra chặn đường 14.

Đêm 26-4, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh Chiến dịch đến kiểm tra lại các mặt chuẩn bị của Quân đoàn 1. Sau khi nghe đồng chí Nguyễn Hòa, Tư lệnh Quân đoàn 1 báo cáo tình hình, Đại tướng Văn Tiến Dũng thông báo: “Cánh quân phía Đông và Đông Nam đang phát triển nhanh. Các nơi đang kiềm chế trận địa pháo binh địch. Chính quyền Sài Gòn chưa phán đoán được ý đồ và cách đánh của ta nên đối phó rất bị động và lúng túng. Chiến dịch đang phát triển thuận lợi”.

Đại tướng nhấn mạnh, Quân đoàn 1 tăng cường theo dõi chặt chẽ tình hình sau khi ta đánh mở cửa, cài thế chiến dịch. Phải nắm chắc mọi động thái của Sư đoàn 5 ngụy, kịp thời tổ chức tiến công tiêu diệt khi chúng rút chạy, co cụm. Đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho mũi thọc sâu theo kế hoạch, kịp thời xử trí các tình huống bất trắc xảy ra.

16 giờ 30 phút ngày 27-4, Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn 1 ra lệnh cho Sư đoàn 312 nổ súng tiến công cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ (thuộc tỉnh Bình Dương). 18 giờ, ta đã tiêu diệt và làm tan rã quân địch, mở thông đường 16 tạo điều kiện cho quân ta di chuyển nhanh từ Chánh Lưu để đi nhanh về Lái Thiêu, tạo điều kiện cho lực lượng vào triển khai theo kế hoạch.

Với chủ trương đi đường vòng, bỏ qua các mục tiêu dọc đường để nhanh chóng tiến quân vào mục tiêu với tinh thần quyết thắng. Sáng 29-4, các cánh quân đồng loạt tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch tại Sài Gòn. Trong khi Sư đoàn 312 tổ chức tiến công, bao vây, chia cắt, cô lập Sư đoàn 5 ngụy thì Sư đoàn 320B tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tiến công.

Sau một ngày chiến đấu, Trung đoàn 209 đã cắt đứt hoàn toàn đường 13 và 14, không cho Sư đoàn 5 của ngụy ứng cứu cho nhau. 4 giờ 15 phút ngày 30-4, Trung đoàn 27 nổ súng tiến công Lái Thiêu. Sau 2 giờ chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ Lái Thiêu, mở toang cánh cửa phía Bắc Sài Gòn.

Theo đồng chí Vương Văn Vinh, Đại đội trưởng Đại đội 5, Tiểu đoàn 5, khi đó: “Trận đánh quá bất ngờ nên quân địch không biết. Tờ mờ sáng ngày 30-4, một đoàn xe của địch ở đâu tự nhiên tiến vào Lái Thiêu. Tiểu đoàn chúng tôi liền triển khai đội hình. Tốp đi đầu khoảng 20 xe có xe tăng bị ta tiêu diệt trên đường 13. Tốp sau hơn chục xe liều chết vượt qua đường 13 về phía Bắc Lái Thiêu để về Sài Gòn cũng bị ta tiêu diệt nhanh chóng”.

8 giờ 30 phút ngày 30-4, một cánh quân khác của Quân đoàn 1 là Trung đoàn 48 đã vượt qua cầu Bình Triệu và qua ngã tư Phú Nhuận, theo đường Võ Tánh vào đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy (nay là BTL QK7, đường Hoàng Văn Thụ). 9 giờ 30 phút, ba mũi tiến công từ ba cổng đã gặp nhau ở khu vực cột cờ trước sân trụ sở Bộ Tổng Tham mưu ngụy.

Trước sức tiến công áp đảo của ta, binh lính sĩ quan ngụy thuộc tiểu đoàn biệt kích dù, bảo vệ Tổng hành dinh và các đơn vị khác đã phải lột bỏ quân phục, vứt súng bỏ chạy thoát thân. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 là Đoàn Trưng và Chính ủy Lê Xuân Yến tiến vào phòng làm việc của tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân ngụy, thu nhiều tài liệu quan trọng. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, cờ giải phóng đã tung bay trên nóc trụ sở Bộ Tổng tham mưu ngụy trong tiếng hò reo chiến thắng!

Sáng 25-4, tại Nhà Văn hóa Thanh niên, hơn 500 bạn trẻ đã tham dự chương trình giao lưu “Thành đoàn – Viết tiếp bản hùng ca” do Thành đoàn TP Hồ Chí Minh tổ chức.

Với việc hình thành 5 cánh quân bộ đội chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn thì tại Sài Gòn, LLVT nội thành cũng đã xây dựng 5 cánh quân tại các khu vực: Ngã Bảy, Bàn Cờ, Vườn Chuối (quận 3); Xóm Chiếu, Khánh Hội (Quận 4); ngã tư Phú Nhuận (quận Phú Nhuận); Cầu Bông, Bà Chiểu (quận Bình Thạnh); Tân Phú, Tân Sơn, Bà Điểm (quận Tân Bình). Đây là lực lượng tại chỗ gồm nhân dân, sinh viên, học sinh, trí thức… do Thành đoàn TPHCM phát động và lãnh đạo quần chúng chuẩn bị nổi dậy.

Qua lời kể của bà Trương Mỹ Lệ (trực tiếp chỉ huy 5 cánh quân LLVT nội thành); bà Trần Thị Ngọc Hảo (phụ trách cánh quân tại quận 4) và ông Nguyễn Văn Ngọc (phụ trách cánh quân tại quận Tân Bình), lực lượng đặc biệt này đã tổ chức vận động nhân dân chuẩn bị lương thực, dụng cụ y tế, may cờ, băng rôn, khẩu hiệu… tổ chức thu gom vũ khí, bảo vệ an ninh trật tự nội đô suốt ngày 30-4-1975 và bàn giao lại cho chính quyền quân quản vào ngày hôm sau.

ĐOÀN HIỆP

_________________

(Trong bài có sử dụng tài liệu “Năm 1975, những sự kiện lịch sử trọng đại”, “Những chiến dịch có ý nghĩa quyết định thắng lợi trong Đại thắng Mùa xuân 1975” của Nhà xuất bản QĐND, xuất bản tháng 4-2010).

SGGP Online

5 cánh quân giải phóng Sài Gòn (Bài 2)

Quân đoàn 2 tiến về Sài Gòn từ hướng Đông Nam

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với ông ký ức hào hùng, oanh liệt về những ngày cuối cùng của tháng 4 lịch sử cách đây 35 năm và những trận đánh tốc chiến tốc thắng của Quân đoàn 2 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vẫn như còn rất mới. Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam, chúng tôi được trò chuyện với ông – Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, hiện là Chủ tịch Hội Nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam để nghe ông kể về những kỷ niệm đáng nhớ của tháng tư năm xưa.

Quân đoàn 2 còn gọi là “Binh đoàn Hương Giang”, được thành lập ngày 17-5-1974 tại tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên – Huế).

Quân đoàn 2 ban đầu gồm các sư đoàn bộ binh: 325, 304, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn đặc công 116, Sư đoàn pháo cao xạ 673. Tổng số xe chở hàng và chở người của Quân đoàn 2 lên tới 2.267 chiếc.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 2 do Thiếu tướng Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Linh là Chính ủy đã được giao nhiệm vụ tiến công đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu Long Bình, căn cứ Long Bình, chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ… cảng và bến phà Cát Lái, đánh chiếm Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa, pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhất, quận 9 và quận 4 và hợp điểm tại Dinh Độc Lập.

Chiếc xe tăng số hiệu 390 của Đại đội 4, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Quân đoàn 2 là chiếc tăng đầu tiên đã húc đổ cánh cổng sắt lạnh lùng của Dinh Độc Lập và đại úy Bùi Quang Thận đã cắm lá cờ chiến thắng lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975 trên nóc Dinh Độc Lập kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

T.L.

Một buổi sáng sớm cuối tháng 4, trong căn phòng trang trí giản dị của Hội Nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh hào hứng kể cho chúng tôi nghe về những ngày oanh liệt của Quân đoàn 2 trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Theo ông, chiến dịch Hồ Chí Minh dù chỉ diễn ra trong vòng 5 ngày (từ 26-4 đến 30-4-1975) nhưng là một chiến dịch điển hình về nghệ thuật quân sự Việt Nam trong sự phối hợp hiệp đồng tấn công của các binh chủng tạo thành một sức mạnh tổng hợp để tiêu diệt quân thù.

Theo Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh (khi ấy là Tham mưu phó Sư đoàn 325), các lực lượng của Quân đoàn 2 không chỉ có nhiệm vụ đánh chiếm nhiều vị trí quan trọng của địch trong nội đô Sài Gòn mà còn ngăn chặn, chia cắt đường rút của quân địch qua sông Lòng Tàu và căn cứ hải quân Cát Lái. Hơn nữa, vùng Đông Nam Sài Gòn địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều đồng lầy lớn và sông ngòi chằng chịt nên trong quá trình đánh chiếm các vị trí của địch Quân đoàn 2 phải cố gắng bảo vệ các cây cầu trên đường tiến quân, không để địch phá hoại nhằm tránh gây khó khăn cho những trận đánh vào nội đô của quân ta. Vì vậy Quân đoàn 2 được Bộ chỉ huy chiến dịch cho lệnh “khai hỏa” sớm hơn một ngày so với các hướng tấn công khác để đảm bảo thời gian hiệp đồng cùng với các cánh quân khác đánh vào nội đô Sài Gòn cùng một lúc.

17 giờ ngày 26-4-1975, các sư đoàn, binh đoàn trong Quân đoàn 2 bắt đầu tấn công trên mặt trận phía Đông và Đông Nam Sài Gòn. Tiếng pháo của Lữ đoàn pháo binh 164 cùng các sư đoàn, tiểu đoàn khác của quân đoàn đồng loạt nã vào các mục tiêu trên đường tấn công. Địch kháng cự rất quyết liệt, chúng dùng pháo binh bắn vào đội hình của ta, dùng xe tăng – thiết giáp để cố bịt các cửa vừa bị quân ta mở ra.

Trước hỏa lực mạnh của chúng ta, cùng với sự quyết tâm, quả cảm của các lực lượng bộ binh, xe tăng, pháo binh mà các cụm quân địch nằm trên tuyến phòng ngự vòng ngoài như căn cứ Nước Trong, Trường Thiết giáp, chi khu Long Thành, thành Tuy Hạ đã không thể cầm cự lâu hơn chờ viện binh mà lần lượt bị đập tan.

Chiều ngày 29-4, tất cả mục tiêu của địch ở phía vòng ngoài để bảo vệ nội đô Sài Gòn ở hướng Đông Nam đều bị Quân đoàn 2 tiêu diệt. Sau khi chiếm được khu vực Nhơn Trạch, sáng sớm ngày 29-4, theo đúng kế hoạch đã định pháo 130mm của Lữ đoàn 164 đã nã liên tục vào sân bay Tân Sơn Nhất nhằm khống chế sân bay, không cho quân địch chạy thoát.

Các đồng chí chỉ huy Quân đoàn 2 và Sư đoàn 304 trên đường tiến quân vào Sài Gòn. Ảnh: TƯ LIỆU

Lúc này, sân bay Tân Sơn Nhất chìm ngập trong biển lửa, nhiều đoạn đường băng và máy bay của địch bị phá hỏng. Tiếng pháo của các đơn vị thuộc Quân đoàn 2 gầm vang khắp nội đô Sài Gòn, khiến quân địch khiếp đảm.

Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh cho biết, trong những giờ phút mà khí thế chiến thắng của quân ta đang lên như nước vỡ bờ thì chúng tôi nhận được mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc thần tốc hơn nữa, táo bạo táo bạo hơn nữa, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng”.

Mệnh lệnh này đã tiếp thêm sức mạnh khiến toàn bộ anh em chiến sĩ tham gia chiến dịch thêm quyết tâm chiến đấu để sớm giải phóng miền Nam. Cùng với việc quân ta tiêu diệt nhanh các cứ điểm vững chắc bảo vệ vòng ngoài của địch đã khiến lực lượng ngụy quân còn lại ở trong nội đô Sài Gòn lúc đó vô cùng hoang mang, dao động, tạo thuận lợi cho các mũi tấn công thọc sâu vào nội đô Sài Gòn đánh chiếm những mục tiêu quan trọng một cách nhanh, gọn.

Sau những trận đánh ác liệt diễn ra tại căn cứ Nước Trong, cầu Xa Lộ, Tổng kho Long Bình, Thủ Đức… cho tới trưa ngày 30-4 thì chiếc xe tăng số hiệu 390 cùng với xe tăng số hiệu 843 của Quân đoàn 2 đã húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh và nội các chính quyền ngụy Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện.

Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh kể – trong ngày 30-4-1975 Sư đoàn 325 của ông có nhiệm vụ vượt phà Cát Lái đánh vào Bộ Tư lệnh Hải quân, cảng Sài Gòn, Nhà Bè… Khi chúng tôi nhận được thông tin Dinh Độc Lập đã hoàn toàn bị khống chế, cờ giải phóng đã tung bay trên nóc cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, lúc đó ai cũng rưng rưng, vui mừng khôn xiết, bởi chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng, kết thúc những năm tháng kháng chiến vẻ vang và oanh liệt của dân tộc. Miền Nam đã được giải phóng, non sông đất nước đã thống nhất.

Những ngày cuối tháng 4 này, chúng tôi đã gặp khá nhiều nhân chứng lịch sử. Nhưng, có lẽ ấn tượng nhất là những nhân chứng lịch sử – các chỉ huy và chiến sĩ Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Tăng thiết giáp 203 – đã lái xe tăng húc đổ cổng và cắm cờ tại Dinh Độc Lập.
Nhằm phát huy sức mạnh của binh khí kỹ thuật, nhất là xe tăng thiết giáp, trong trận quyết chiến cuối cùng này Quân đoàn 2 đã quyết định tổ chức lực lượng hỗn hợp đánh thọc sâu vào nội đô, lấy Lữ đoàn xe tăng 203 làm nòng cốt, khi có thời cơ sẽ đánh thẳng vào trung tâm đầu não của địch ở Dinh Độc Lập.

Khi vào đến cửa ngõ Sài Gòn, xe tăng của Đại đội 4 bị quân địch chặn đánh quyết liệt. Đến ngã tư Hàng Xanh, chiếc xe tăng của đại úy Bùi Quang Thận bắn cháy 2 chiếc M41 tại cầu Thị Nghè rồi cùng về đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Đến ngã tư Nguyễn Bỉnh Khiêm, đại úy Bùi Quang Thận chỉ đạo xe tăng quẹo trái đến trước cổng Sở Thú, đang băn khoăn tìm đường thì anh gặp được một phụ nữ người Sài Gòn chỉ đường đến Dinh Độc Lập. Xe tăng của Chính trị viên Vũ Đăng Toàn, sau khi bắn cháy 2 chiếc M113 đã đi theo hướng đường Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ) và cũng đến được Dinh Độc Lập.

Trong khi xe tăng của đại úy Bùi Quang Thận số hiệu 843 mắc kẹt ở cổng phụ thì Chính trị viên Vũ Đăng Toàn đã cho xe tăng số hiệu 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Đại úy Bùi Quang Thận rút cây ăng ten cao 4 mét trên xe (bên trên có lá cờ giải phóng) và tiến thẳng vào trong dinh. Anh yêu cầu một sĩ quan ở trong Dinh Độc Lập dẫn lên chỗ cột cờ và hạ lá cờ ba sọc đỏ xuống, treo lá cờ Mặt trận giải phóng. Lúc đó là 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975.

Đại tá Bùi Quang Thận (khi ấy là đại úy, Đại đội trưởng Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Tăng thiết giáp 203) – người đầu tiên cắm cờ tại Dinh Độc Lập, kể: “Anh em chúng tôi đã may mắn tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Càng may mắn và tự hào khi chúng tôi tham gia đợt hành quân thần tốc của xe tăng, xe thiết giáp về thủ đô của ngụy quân, ngụy quyền. Vì đây là cuộc hành quân có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới. Theo đánh giá tổng kết thì đó là cuộc hành quân bằng xe tăng dài nhất mà lại hành quân bằng bánh xích vận hành ngoài quốc lộ chứ không phải do xe hay tàu kéo!”.

Đại úy Vũ Đăng Toàn (nguyên Trung úy, Chính trị viên Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, trưởng xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập), cho biết: “Chúng tôi được lệnh thần tốc hành quân. Nhưng, theo chỉ đạo nếu gặp địch không chống cự thì vẫn tiếp tục hành quân. Vì việc tiêu diệt địch đã có bộ đội địa phương. Chúng tôi phải thần tốc hành quân về điểm tập kết theo lệnh của cấp trên. Tinh thần anh em lúc đó quyết tâm lắm. Vừa dừng xe thì anh em kỹ thuật lo bảo dưỡng xe. Máy móc nóng bỏng, nhưng anh em vẫn kiểm tra, mồ hôi tuôn như mưa lên máy. Bằng mọi giá phải vượt qua khó khăn, đảm bảo đúng cung độ, cung đường”.

KHÁNH NGUYỄN – ĐOÀN HIỆP

>> Bài 1: Quân đoàn 1 mở cửa hướng Bắc

SGGP Online

5 cánh quân giải phóng Sài Gòn (Bài 3)

“Quả đấm thép” – ngày ấy… bây giờ

Được mệnh danh là “Quả đấm thép”, trong những ngày tháng 4 lịch sử, hòa chung với khí thế hừng hực của quân đội nhân dân Việt Nam, Binh đoàn Tây Nguyên – mũi tiến công thứ 3 trong 5 mũi tiến công của quân ta – đã đánh thẳng vào Bộ Tổng tham mưu của ngụy và phi trường Tân Sơn Nhất, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

  • Chuyện kể của vị Đại tá

Tuy đã bước vào tuổi 62 nhưng Đại tá Phạm Chào – nguyên Cục trưởng Cục Chính trị – Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) vẫn rất nhanh nhẹn, hoạt bát. Gương mặt ông như sáng bừng lên khi nghe chúng tôi hỏi về những ngày cùng với các đơn vị thuộc Binh đoàn Tây Nguyên tham gia vào các trận đánh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

9 giờ 30 ngày 30-4-1975, quân Giải phóng chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh tư liệu

Tháng 3-1975, chúng ta mở chiến dịch Nam Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột. Bằng nghệ thuật lừa địch, ta đã cắt rời địch thành hai mảng Nam và Bắc Tây Nguyên với các chiến trường khác, Quân đoàn 3 đã bí mật và bất ngờ tấn công Buôn Ma Thuột, tiêu diệt Sư đoàn 2, Sư đoàn 3 và toàn bộ lực lượng địch ở Buôn Ma Thuột; tiếp đó giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa và một phần tỉnh Bình Định. Ngày 10-3-1975, Buôn Ma Thuột hoàn toàn được giải phóng, chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng. Tây Nguyên được giải phóng hoàn toàn vào ngày 25-3-1975.

Sau khi chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi, Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam. Để đáp ứng yêu cầu, hoàn thành sứ mệnh cách mạng, ngày 26-3-1975, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Binh đoàn Tây Nguyên, từ những đơn vị chủ lực của Mặt trận B3. Ngày 12-4-1975, Binh đoàn Tây Nguyên hành quân về Đông Nam bộ mở chiến dịch mới.

Đồng chí Phạm Chào cho biết, dẫu sau chiến thắng ở chiến trường Tây Nguyên quân ta chưa được nghỉ ngơi, nhưng tất cả chiến sĩ của binh đoàn rất hồ hởi, khi được đóng góp sức mình vào chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch cuối cùng thống nhất đất nước, tất cả cùng hô to khẩu hiệu truyền miệng: “Thời cơ thôi thúc, nhiệm vụ vinh quang, xốc tới vươn lên, quyết giành toàn thắng”. Ngày 18-4-1975, Sư đoàn 470, 471 (thuộc Binh đoàn Tây Nguyên) hành quân đến Dầu Tiếng, vào rừng cao su củng cố lực lượng, chuẩn bị quân trang, quân dụng sẵn sàng chiến đấu. Ngày 24-4-1975, Binh đoàn Tây Nguyên được phổ biến chuẩn bị mở chiến dịch và sẽ đảm nhận một mũi thọc sâu vùng Tây Bắc Sài Gòn.

5 giờ 30 phút sáng 29-4-1975, từ vị trí tập kết ở rừng cao su Củ Chi, các đơn vị thuộc Binh đoàn Tây Nguyên đi vòng theo các đường 1 và đường 15 tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất theo 2 mũi, quân địch chống cự rất ác liệt nhằm ngăn chặn thế tấn công của bộ đội ta. Suốt một ngày chiến đấu (từ 5 giờ 30 phút sáng đến 14 giờ chiều), chúng ta với khí thế chiến đấu cao, vừa đi vừa đánh đã bắn cháy 5 xe tăng, 1 tiểu đoàn của địch, quét sạch hết mọi kháng cự của địch ở, trại huấn luyện Quang Trung, cầu Bông, kênh Xáng.

21 giờ 30 phút ngày 29-4-1975, ta chiếm luôn ngã tư Bảy Hiền, tiến sát đến cổng số 5 của sân bay Tân Sơn Nhất. 7 giờ sáng ngày 30-4-1975, quân ta với 2 mũi tấn công: Trung đoàn 24 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, Trung đoàn 28 đánh thẳng vào Bộ Tổng tham mưu của ngụy, đến 9 giờ sáng chiếm Sở Chỉ huy không quân và Sư đoàn 5 không quân của địch, bắt sống được 3 đại tá. 11 giờ 30 phút, Trung đoàn 24 chiếm được toàn bộ sân bay Tân Sơn Nhất và Trung đoàn 28 phối hợp cùng đơn vị bạn chiếm Bộ Tổng tham mưu của địch. Sư đoàn 10 với nhiệm vụ thọc sâu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần cùng cả nước hoàn thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

  • Binh đoàn Anh hùng

Hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Binh đoàn Tây Nguyên tiếp tục giúp các địa phương vùng giải phóng giữ vững chính quyền, khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân khu vực Sài Gòn – Gia Định, Thủ Dầu Một, Củ Chi. Tháng 6-1976, binh đoàn về đứng chân ở miền Trung – Tây Nguyên làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tham gia xây dựng củng cố cơ sở chính trị tại địa phương và truy quét lực lượng Ful-rô, giữ vững an ninh, chính trị vùng giải phóng.

Đất nước vừa yên tiếng súng, hòa bình chưa được bao lâu thì chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra, từng bộ phận và sau đó cả đội hình của Binh đoàn Tây Nguyên lên đường ra biên giới. Binh đoàn đã tổ chức nhiều chiến dịch, đánh hàng trăm trận, trừng trị và tiêu diệt nhiều đơn vị chủ lực của tập đoàn phản động Pôn Pốt – Iêngxari, bảo vệ chủ quyền biên giới Tây Nam của Tổ quốc, đồng thời giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Tháng 6-1979, binh đoàn hành quân ra phía Bắc làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Liên tục từ tháng 9-1985 đến tháng 7-1986, binh đoàn tiếp tục chiến đấu ở Vị Xuyên. Gần 10 năm ở đất Bắc, binh đoàn đã nỗ lực phấn đấu và đã trưởng thành về nhiều mặt.

Chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc kết thúc, năm 1987 từ miền Bắc, binh đoàn nhận nhiệm vụ trở lại Tây Nguyên. Vượt lên những khó khăn riêng tư, 100% cán bộ, chiến sĩ chấp hành mệnh lệnh lên đường. Đã 23 năm kể từ ngày trở lại Tây Nguyên, được sự đùm bọc, sẻ chia của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ binh đoàn đã nêu cao phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, truyền thống bộ đội Tây Nguyên, đoàn kết một lòng, chủ động, sáng tạo vượt qua mọi khó khăn thử thách, xây dựng binh đoàn tiến bộ toàn diện.

ĐỨC TRUNG

Sau khi Sở Chỉ huy Quân đoàn 3 từ Tây Nguyên chuyển về Củ Chi, ngay trong đêm 28-4, Bộ Tư lệnh quân đoàn do Thiếu tướng Vũ Lăng làm Tư lệnh và Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm chính ủy đã đề ra kế hoạch tấn công. Bộ Tư lệnh quân đoàn đã quyết định – đánh chiếm Cầu Bông, cầu Xáng và bàn đạp Hóc Môn để Sư đoàn 320A siết chặt vòng vây căn cứ Đồng Dù, nhốt chặt Sư đoàn 25 ngụy và bắt đầu cuộc tiến công của Binh đoàn Tây Nguyên theo hướng Tây Bắc vào Sài Gòn và hiệp điểm cùng các đơn vị khác tại Dinh Độc Lập.

Theo hiệp đồng chung, Sư đoàn 320A chỉ được phép dứt điểm căn cứ Đồng Dù trong thời gian từ 5 giờ 30 đến 10 giờ 30. Đồng Dù là một căn cứ lớn được Sư đoàn 25 ngụy, một đơn vị mạnh của địch trấn giữ nên để thực hiện yêu cầu – chỉ được phép đánh thắng trong thời gian ngắn là không dễ nên Bộ Tư lệnh quân đoàn phân công đồng chí Nguyễn Kim Tuấn, Phó Tư lệnh Quân đoàn trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Đúng 5 giờ 30 ngày 29-4, Sư đoàn 320A nổ súng tiến công căn cứ Đồng Dù. Trong thời điểm Sư đoàn 320A đánh Đồng Dù thì Sư đoàn 316 đã tiến công chiếm chi khu Trảng Bàng.

Các cánh quân khác của Quân đoàn 3 đã liên tiếp chiếm các vị trí chiến lược theo kế hoạch: Sau 50 phút đánh áp sát, Tiểu đoàn 20 Đại đội 10 đã tiêu diệt địch đánh chiếm Cầu Bông. Sau 30 phút chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn đặc công 198 và Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 64) đã làm chủ cầu Xáng. Trong ngày 29-4, theo tiêu lộ do công binh cắm sẵn hai trục đường 5 và 6, xe ủi đất đi trước húc tung các bờ ruộng, ụ đất mở đường cho xe tăng và xe chở quân đi vào Sài Gòn. 347 xe các loại chở Sư đoàn 10 tươi lá ngụy trang, cắm cờ Tổ quốc, cờ hai màu xanh – đỏ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo đội hình hàng dọc nối nhau băng băng đi qua những cánh đồng Củ Chi, theo hướng Sài Gòn mà xốc tới.

17 giờ ngày 29-4, đội hình thọc sâu binh chủng hợp thành Trung đoàn 24 vượt cầu Tham Lương và tiến về áp sát ngã tư Bảy Hiền. Đến 21 giờ ngày 29-4, Trung đoàn 24 là mũi thọc sâu vào Sài Gòn sớm nhất của cánh quân hướng Tây Bắc.

Ngày 30-4-1975. 9 giờ 30 Sư đoàn 10 đã đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. 11 giờ đại đội 1 (Tiểu đoàn 1) và Đại đội 6 (Tiểu đoàn 2) Trung đoàn 48 đã làm chủ Sở Chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy trong căn cứ Đồng Dù. Các điểm khác, Quân đoàn 3 đã tiến chiếm theo kế hoạch và họ cùng tiến về Sài Gòn.

Sau 1 ngày tiến công quyết liệt, Quân đoàn 3 đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở hướng Tây Bắc Sài Gòn với chiều dài 40km.

Đường vào Sài Gòn từ hướng Tây Bắc đã mở.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Hải – Tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên cho biết, ra đời và lớn lên từ cao nguyên hùng vĩ, mang sức mạnh của Tây Nguyên, binh đoàn đã làm nên những chiến công hiển hách, những chiến thắng vang lừng từ Nam ra Bắc. Từ ngày trở lại Tây Nguyên, Binh đoàn Tây Nguyên đã phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương chủ động triển khai nhiều hình thức, biện pháp dân vận đạt hiệu quả tốt. Binh đoàn đã đưa hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ, hàng ngàn tổ, đội công tác về với các buôn, làng tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giúp nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống mới. Từ đây mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân dân ngày càng bền chặt, tô thắm thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng người dân Tây Nguyên, như lời câu thơ:

Tây Nguyên ai một lần qua đó
Suốt cuộc đời nghĩ lại vẫn thương nhau.

Bài 1: Quân đoàn 1 mở cửa hướng Bắc
Bài 2: Quân đoàn 2 tiến về Sài Gòn từ hướng Đông Nam

SGGP Online

5 cánh quân giải phóng Sài Gòn (Bài 4)

Những bước chân thần tốc

Chấp hành chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị, từ 5 hướng, quân ta rầm rập tiến về bao vây cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn – Gia Định. Những binh đoàn từ Bắc, Trị Thiên đến Tây Nguyên và Khu 5 nườm nượp lên đường. Từng binh đoàn xuất phát từ nhiều địa bàn và những thời điểm khác nhau, đi trên nhiều trục đường và bằng nhiều phương tiện nhưng tất cả đều hành quân về Sài Gòn với tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa”. Có đơn vị vừa đi vừa đánh địch để mở đường, có đơn vị vượt cung tăng trạm; tất cả đều thi đua tiến nhanh về Sài Gòn.

Ở hướng Đông, Quân đoàn 4 với các Sư đoàn 6, 7, 341, Lữ đoàn bộ binh 52, một tiểu đoàn pháo 130mm, một trung đoàn và một tiểu đoàn phòng không hỗn hợp cùng 3 tiểu đoàn xe tăng – thiết giáp với quân số khoảng 30.000 người, đã tiến về Sài Gòn bằng những bước chân thần tốc.

Từ hướng Tây Nam, Đoàn 232 do đích thân đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Miền trực tiếp chỉ huy không chỉ thực hiện nhiệm vụ tiến chiếm các mục tiêu trước khi tiến vào đánh chiếm Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng nha Cảnh sát Quốc gia… mà Đoàn 232 còn thực hiện nhiệm vụ – cắt đứt đường 4 (ở Bến Lức, ngã 3 Trung Lương) chiếm Tân An, Mỹ Tho để chia cắt hoàn toàn Sài Gòn với miền Tây Nam bộ, không cho quân ngụy ở Sài Gòn rút về đồng bằng sông Cửu Long, đập tan kế hoạch “tử thủ” tại Quân khu 4 của quân đội VNCH.

Và từ 5 hướng, các đoàn quân Giải phóng như 5 cánh sao đã tiến về giải phóng Sài Gòn, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước Việt Nam.

  • Quân đoàn 4: 80 giờ tiến vào Sài Gòn

Trung tướng Hoàng Nghĩa Khánh, khi đó là Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 rất xúc động khi nói về cánh quân phía Đông đánh vào Hố Nai, Biên Hòa rồi tiến công giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử cách đây tròn 35 năm. Ông nhớ lại: Nhiệm vụ của Quân đoàn 4 là đánh chiếm khu vực Biên Hòa-Hố Nai (gồm cả Sở Chỉ huy Quân lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và sân bay Biên Hòa), tiến về Sài Gòn chiếm các quận 1, 2, 3, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH, Bộ Quốc phòng VNCH, Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH, Đài Phát thanh Sài Gòn.

Muốn về Biên Hòa-Hố Nai thì phải đi qua chi khu Trảng Bom để mở đường số 1, Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Quân đoàn 4 quyết định cử Sư đoàn 341 đánh chiếm Trảng Bom, sau đó mới đánh không quân ngụy và sân bay Biên Hòa; cử Sư đoàn 6 đánh chiếm căn cứ Quân đoàn 3 ngụy và Tiểu khu Biên Hòa. Hai sư đoàn trên làm nhiệm vụ mở cửa cho Sư đoàn 7 thọc sâu đánh thẳng Sài Gòn, chiếm Dinh Độc Lập!

4 giờ 7 sáng 27-4, khi chúng tôi phát lệnh tấn công Trảng Bom, Suối Đỉa và Long Đạt thì tướng Lê Minh Đảo (Tư lệnh Sư đoàn 18 ngụy) đã điều Chiến đoàn 52 (có 8 xe tăng yểm hộ) đánh vào đội hình tấn công của Sư đoàn 7 nhưng lại bị Sư đoàn 341 tấn công lại. Các pháo thủ bắn cháy 4 xe tăng địch.

Giằng co đến 8 giờ 30 sáng, quân ta chiếm được chi khu Trảng Bom và bắt gần 500 sĩ quan, binh sĩ VNCH làm tù binh. 9 giờ sáng, số quân còn lại của địch rút từ Trảng Bom về Suối Đỉa lại bị quân ta phục kích hai bên đường. Hơn 2.000 quân và gần 100 xe các loại bị Sư đoàn 341 của ta tiêu diệt-bắt giữ.

Trung đoàn 24, Quân khu 8 làm chủ Bộ Tư lệnh cảnh sát ngụy

Trên hướng thọc sâu, Sư đoàn 7 (Quân đoàn 4) phát triển đến Hố Nai thì phải dừng lại để phối hợp với Sư đoàn 341 và Sư đoàn 6 thực hiện đòn tấn công tổng hợp vào các lực lượng của Lữ đoàn 3 thiết giáp và Lữ đoàn dù 4 – của quân đội VNCH… Chiều 28-4, bộ phận thông tin của ta bắt được mẩu đối thoại của địch: “Đường 15 bị cắt rồi, Việt cộng chiếm Trảng Bom, Long Thành, pháo kích Long Bình, tôi định di chuyển về Gò Vấp”, Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy nói.

Từ tình hình trên, Tư lệnh Quân đoàn 4 Thiếu tướng Hoàng Cầm ra lệnh dồn sức đánh mạnh các điểm địch co cụm trong khi Sư đoàn 7 tranh thủ tiến sát Hố Nai. Tuy nhiên tàn quân địch vẫn lẩn trốn, trà trộn vào dân và dùng tiểu liên M.16, M.79, M.72 bắn thẳng vào đội hình của quân ta khiến Sư đoàn 7 phải mất thêm thời gian tổ chức chiến đấu tiêu diệt địch.

Ngày 29-4, khi nhận được tin Sở Chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy chạy về Gò Vấp, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 thống nhất chỉ đạo Sư đoàn 6 bỏ các vị trí ở Hố Nai, chiếm cầu và chốt giữ đầu cầu sắt; Sư đoàn 341 đánh chiếm sân bay Biên Hòa còn Sư đoàn 7 phải đột phá đi qua ngã ba Tam Hiệp, đưa đội hình vượt sông Đồng Nai trong đêm.

4 giờ sáng 30-4, Sư đoàn 7 tiến đến được cầu sắt xe lửa Biên Hòa nhưng xe tăng của sư đoàn không qua được vì cầu yếu. Vì vậy, Thiếu tướng Hoàng Cầm đã xin ý kiến Bộ Chỉ huy chiến dịch và chỉ đạo Sư đoàn 6 làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch và tiếp quản thị xã Biên Hòa. Sư đoàn 341 chuyển quân lên xe tải để vượt cầu sắt xe lửa vào chiếm các mục tiêu theo kế hoạch (quận Gò Vấp, quận 3, quận 10). Riêng Sư đoàn 7 quay trở ra đường xa lộ tiến vào mục tiêu quận 1.

8 giờ sáng 30-4, 4 xe tăng của Sư đoàn 7 tiến vào Sài Gòn. Một cán bộ cách mạng của ta (vừa được Sư đoàn 7 giải thoát khỏi nhà tù Tam Hiệp) ngồi trên chiếc xe đi đầu, chỉ đường cho quân ta tiến vào Sài Gòn. Đoàn xe tăng của Sư đoàn 7 theo đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và đi tới Dinh Độc Lập lúc 12 giờ 30. Tất cả chúng tôi đều hạnh phúc rơi nước mắt sau 80 giờ tiến công nghẹt thở vào Sài Gòn!

  • Đoàn 232 – Kế hoạch cuối cùng

Đoàn 232 được thành lập vào tháng 2 năm 1975, gồm Sư đoàn 3, Sư đoàn 5 và Sư đoàn 9 cùng một số đơn vị binh chủng khác hợp thành. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh đoàn là đồng chí Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà); Chính ủy đoàn là đồng chí Lê Văn Tưởng (Hai Chân); đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Miền, trực tiếp chỉ huy các lực lượng trên hướng Tây và Tây Nam tiến vào Sài Gòn, trong đó Đoàn 232 là lực lượng chủ yếu.

Nói về những ngày sôi động này, Thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng, Sư đoàn phó Sư đoàn 5, cho biết: “Khoảng 22 giờ ngày 26-4, Sư đoàn 5 mở đầu chiến dịch bằng đòn đánh chia cắt đường số 4 tại khu vực Rạch Chanh, ngã ba Nhị Thành, ấp Bình Yên, Phú Mỹ và áp sát thị xã Tân An, chi khu Thủ Thừa tỉnh Long An. Ngày 27-4, Sư đoàn 5 đã cắt hẳn đường số 4 tại 2 đoạn từ Bắc Tân An đến Bến Lức và từ Nam Tân An đến Tân Hiệp. Tiểu khu Hậu Nghĩa và các chi khu Đức Hòa, Đức Huệ đã bị quân ta đánh chiếm. Các trung đoàn đặc công đã tập kích các chốt Bà Hom, Vĩnh Lộc, căn cứ ra đa Phú Lâm”.

Cùng lúc này, lệnh nổi dậy của Ban Chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo đến lực lượng bộ đội địa phương “Xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện và tỉnh giải phóng tỉnh”. Dọc sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, bộ đội địa phương đã đưa một lực lượng thọc sâu, tấn công thành phố Mỹ Tho, cắt đứt hoàn toàn đường số 4, cô lập Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long.

Trước sức tấn công như vũ bão của quân ta, Tỉnh trưởng tỉnh Long An gọi điện cho tướng Nguyễn Khoa Nam xin lệnh phá cầu Tân An và Bến Lức, nhưng tướng Nam không đồng ý do các cây cầu này dùng cho kế hoạch – nếu mất Sài Gòn thì Bộ Tổng Tham mưu Quân lực VNCH sẽ rút qua cầu về đồng bằng sông Cửu Long.

Đô đốc Chung Tấn Cang cũng dành riêng một chiến hạm để di tản Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về Cần Thơ bằng đường biển. Các tướng ngụy Lê Văn Hưng, Lê Minh Đảo cũng đặt hy vọng vào việc biến Vùng 4 chiến thuật thành căn cứ để kéo dài cuộc chiến tranh. Nhưng, kế hoạch đó đã hoàn toàn bị phá sản.

  • Chiến dịch không có đêm ngày!

Nhắc về sự sôi động của các cánh quân thần tốc tiến về Sài Gòn trong những ngày tháng 4 lịch sử, Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cho biết: “Lúc đó, tôi là Trưởng phòng Tác chiến của B2 mà sau đó khi chuyển qua chiến dịch Hồ Chí Minh thì tôi cũng là Trưởng phòng Tác chiến của chiến dịch. Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh đóng tại Căm Xe. Thú thực không khí lúc đó tại Phòng Tác chiến rất căng thẳng và sôi động. Với quyết tâm của Bộ Chính trị – 20 ngày bằng 20 năm – thì lúc đó tại Bộ Chỉ huy không có khái niệm đêm hay ngày mà phải làm sao đảm bảo cho chiến dịch thành công. Từ ngày 26-4 trở đi không khí càng thêm căng thẳng.

Tại Sở Chỉ huy nhưng chúng tôi lúc nào cũng di chuyển, di chuyển liên tục trên bản đồ theo sự di chuyển của bộ đội ngoài chiến trận. Nói thì rất dễ, nhưng thực hiện khó khăn lắm. Chúng ta phải làm sao đánh thắng từng cửa, từng trận. Và, chiến thắng đường 4 đã cắt đường rút chạy của địch về đồng bằng sông Cửu Long cũng như chặn cửa không cho quân địch từ miền Tây lên tiếp ứng là thành công mang tính chiến lược!”.

Sự phối hợp các lực lượng, quân binh chủng, quân chủ lực và quân dân địa phương đã tạo hiệu quả bước đầu. Ngày 27-4, đồng chí Bùi Văn Trữ (tức Sáu Nhẫn), Phó Phòng Công binh Miền đã chỉ huy CB-CS kết hợp cùng đồng bào địa phương huy động phương tiện tại chỗ tạo đường dẫn vượt sình lầy và làm cầu phà dã chiến đưa phương tiện cơ giới, xe tăng, pháo của Đoàn 232 vượt sông Vàm Cỏ Đông tấn công vùng Mỹ Hạnh, Đức Hòa để theo lộ 10 tiến về Sài Gòn.

Tại một khu vực khác, đơn vị do đồng chí Phan Trung Kiên (nay là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) chỉ huy đã giải phóng Đồn Trường học ở Đức Lập Hạ, Đồn Giồng Dầu ở Mỹ Hạnh Bắc (tỉnh Long An) mở đường cho Đoàn 232 tiến về giải phóng Sài Gòn.

Đồng chí Phan Trung Kiên, cho biết: “Sau khi chiếm các đồn nêu trên thì cánh quân của ông tiếp tục qua đường số 9, rừng Bà Dụ đánh chiếm Đồn Nhà Tô, Phân chi khu Xuân Thới Thượng, một phần chi khu Xuân Thới Sơn. Bằng mọi giá phải đón đánh ngụy quân tháo chạy và không cho chúng qua kênh Thầy Cai về Sài Gòn”.

Khoảng 3 giờ 40 ngày 29-4, đơn vị của đồng chí Phan Trung Kiên nổ súng tấn công Phân chi khu Xuân Thới Thượng. Địch kháng cự quyết liệt và chạy dồn vào Đồn Nhà Tô cố thủ. Đơn vị tiếp tục vây ép, dùng loa kêu gọi địch đầu hàng, bọn biệt động quân thoát ra, lọt vào trận địa phục kích của ta và bị tiêu diệt gần hết. Trận đánh kết thúc lúc 14 giờ 40, ngày 29-4 ta làm chủ hoàn toàn khu vực.

Trong thời gian này, Sư đoàn 9 đảm nhận mũi tiến công chủ yếu của Đoàn 232 theo đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám) tấn công Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô. Các ngã đường dẫn đến Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô đã bị quân giải phóng bao vây. Không còn con đường nào khác, khoảng 10 giờ 30 ngày 30-4-1975, tướng Lâm Văn Phát, Tư lệnh Biệt khu thủ đô dẫn các thuộc cấp ra đầu hàng và kêu gọi sĩ quan, binh sĩ thuộc quyền hạ vũ khí đầu hàng.

M.ANH – Đ.HIỆP

Bài 1: Quân đoàn 1 mở cửa hướng Bắc
Bài 2: Quân đoàn 2 tiến về Sài Gòn từ hướng Đông Nam
Bài 3: “Quả đấm thép” – ngày ấy… bây giờ

SGGP Online

Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh khẳng định: trong thế giới bây giờ chỉ có kách mệnh Nga là thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc, tự do bình đẳng thật sự. Kách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công nông các nước và các dân tộc bị áp bức, các thuộc địa làm kách mệnh để lật đổ tất cả đế quốc và tư bản chủ nghĩa trên thế giới.

5 cánh quân giải phóng Sài Gòn (Bài 5)

Lực lượng nội đô khởi nghĩa

Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân và thanh niên thành phố trong giai đoạn chống Mỹ hết sức vĩ đại, phong phú và đa dạng. Mỗi thời điểm đấu tranh, mỗi sự kiện phong trào đều là những nét tiêu biểu của truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân và thanh niên thành phố. Trong cuộc chiến giành độc lập, tuổi trẻ Sài Gòn – Gia Định đã góp phần không nhỏ làm nên những chiến thắng vẻ vang cho đất nước. Chiến thắng 30-4-1975 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy ấy đã có sự đóng góp của lực lượng nội đô do Thành đoàn phát động và lãnh đạo. Đội quân đặc biệt ấy có nhiệm vụ cũng đặc biệt và không kém phần quan trọng trong giải phóng Sài Gòn. Tiến công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng đã tạo nên sức mạnh to lớn dẫn đến chiến thắng lịch sử 30-4-1975.

  • Chuyện ngày xưa

Chúng tôi gặp chị Trương Mỹ Lệ (bí danh Tư Liêm) trong thời khắc cả nước đang nôn nao chờ đón ngày lễ lớn 30-4 và 1-5. Và câu chuyện về ngày xưa đã được chị kể lại:

Khoảng cuối tháng 3-1975, đồng chí Mai Chí Thọ triệu tập tôi lên làm việc và hỏi: “Nếu khởi nghĩa nổ ra, liệu lực lượng, sinh viên học sinh (SV-HS) trong nội thành có khả năng phát động khởi nghĩa ở những nơi nào?”.

Tôi trả lời: “Thưa, lực lượng SV-HS tại các trường đại học, những tổ chức công khai và bán công khai có thể phát động khởi nghĩa ở 5 khu vực: Khu 1 gồm: Ngã bảy, Bàn Cờ, Vườn Chuối (thuộc quận 3) sẽ do lực lượng SV-HS ở các trường: Kỹ thuật Cao thắng, Trường Pétrus Ký, Trường nữ Trung học Gia Long, Đại học Vạn Hạnh phụ trách.

Khu vực 2 gồm: Cầu Khánh Hội, Xóm Chiếu thuộc quận 4, sẽ do lực lượng tại các trường Đại học Y, Nha, Dược và Trường Trung học Nguyễn Trãi phụ trách. Còn khu cầu Kiệu và các địa bàn ở Phú Nhuận (khu vực 3) sẽ do đoàn Công tác Xã hội SV-HS Sài Gòn phụ trách. Riêng khu Tân Phú, Tân Sơn, Bà Điểm thuộc quận Tân Bình (khu vực 5) là khu quy tụ nhiều đồng bào công giáo sẽ do một số sơ và cha xứ cùng với cơ sở cách mạng của ta phụ trách.

Bà Trương Mỹ Lệ (đứng thứ 2, hàng trước, từ phải sang) cùng các cán bộ Thành đoàn trở lại thăm cơ sở cũ trong nội thành. Ảnh: M.L.

Nghe tôi trình bày xong, đồng chí Mai Chí Thọ có vẻ yên tâm. Nhiệm vụ của cấp trên đề ra là: Khi nổ ra khởi nghĩa, lực lượng cán bộ, HS-SV trong nội đô phải trở về các khu dân cư để làm nhiệm vụ phát động quần chúng cùng đứng lên khởi nghĩa. Rút kinh nghiệm xương máu từ cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, các đồng chí lãnh đạo yêu cầu lực lượng nội thành của ta phải có khả năng gần gũi và gắn kết được với quần chúng nhân dân ở từng khu vực để trong trường hợp khởi nghĩa không thể giành thắng lợi nhanh chóng, quân ta không bị đánh bật ra ngoài và dễ dàng bị tiêu diệt. Do vậy, 5 cánh quân của Thành đoàn phải được chọn lọc rất kỹ. Thời gian này, Thành đoàn “cài cắm” lại trong nội đô 5 người là các anh: Nguyễn Chơn Trung, Lê Công Giàu và các chị: Nguyễn Thị Nghĩa, Trần Thị Ngọc Hảo và Trương Mỹ Lệ (Thường vụ Thành đoàn, chỉ huy cánh quân bám trụ nội đô).

3 đồng chí nữ nhận nhiệm vụ bám trụ nội thành để chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa với rất nhiều thứ, dự phòng cho mọi trường hợp có thể xảy ra, từ truyền đơn, lương thực, thực phẩm như khô, gạo, mắm, muối, dụng cụ y tế, thuốc men… Để có cờ giải phóng, chúng tôi phải chuẩn bị sẵn vải đỏ, vải xanh, vải vàng và mua mỗi nơi một màu, để tránh giặc nghi ngờ mỗi nhà chỉ trữ 1 màu vải. Ngoài ra, mỗi khu vực cũng được chuẩn bị sẵn một máy ghi âm để thu lời kêu gọi binh lính và thu sẵn chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Và, theo lệnh cấp trên chỉ đạo – khi khởi nghĩa nổ ra, chúng tôi phải phát băng kêu gọi ngay để yên dân. Sở chỉ huy của lực lượng nội đô đặt tại nhà số 115 đường Bàn Cờ gọi là “điểm nút” bởi đó là nơi giao liên sẽ nhận và truyền đạt mệnh lệnh từ cấp trên và chuyển về các khu vực khác thuận tiện nhất.

Lực lượng nội đô chưa biết bao giờ chiến dịch bắt đầu, thời điểm nào khởi nghĩa, nhưng qua thông tin từ nút giao liên, chỉ huy các cánh quân đều hiểu: ngày tổng tiến công và nổi dậy đang rất gần.

Ông Nguyễn Văn Ngọc, phụ trách khu vực 5 (khu vực Tân Bình), cho biết: “Khu vực của tôi là phía Đông Bắc Sài Gòn. Nơi đây có khá nhiều đơn vị quan trọng, đồn bót của lính ngụy. Ở đây phần đông bà con lao động nghèo, cùng với việc vận động bà con chuẩn bị nổi dậy khởi nghĩa thì chúng tôi còn nhận được sự hỗ trợ của bà con giáo dân, một số quân nhân có cảm tình với cách mạng nên công tác chuẩn bị cũng thuận lợi”.

  • Một ngày bằng 20 năm

Trong thời gian từ 27 đến 29-4, tình hình trong nội thành rất căng thẳng. Hôm phi công Nguyễn Thành Trung ném bom dinh Độc Lập, chính quyền Sài Gòn ban bố khẩn cấp lệnh giới nghiêm, khiến nhiều cán bộ đi công tác không thể trở về Sở chỉ huy. Để đảm bảo cho hoạt động thông suốt, lực lượng nội đô có một tổ giao liên mà hầu hết là các chị. Và, thông tin liên lạc khi ấy chỉ là truyền khẩu, tuyệt không ai mang mảnh giấy thông tin nào trong người để tránh mọi bất trắc khi lỡ bị địch bắt.

Những ngày giữa tháng 4, lực lượng nội đô của Thành đoàn tích cực may cờ, vẽ khẩu hiệu tuyên truyền, in truyền đơn, đêm thì đi rải truyền đơn, la cà đến các nhà dân qua đó thăm dò tình hình của địch và tìm cách giải thích các chính sách của chính quyền cách mạng đối với vùng mới giải phóng.

Thông tin chiến thắng của 5 cánh quân chủ lực từ 5 hướng tiến rùng rùng về Sài Gòn đã khiến lực lượng nổi dậy của Thành đoàn càng hăng hái làm việc với tinh thần “1 ngày bằng 20 năm”. Để che mắt địch, những túi truyền đơn, những xấp vải may cờ được xuất phát từ khu vực Khánh Hội – Xóm Chiếu do các sinh viên trường Y, Nha, Dược phụ trách. Các sinh viên ngành y, dược và các túi tài liệu đã thoát qua sự kiểm soát của địch khá dễ dàng do trước đó, anh em sinh viên đã tham gia công tác xã hội rồi, nên đêm đêm chúng tôi chộn rộn đi lại chuyển tài liệu thì quân lính cứ nghĩ là anh em sinh viên làm công tác xã hội.

Sáng 30-4, lúc gần 10 giờ, cô Út Phượng, giao liên, thông báo lệnh của anh Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) cho chị Trương Mỹ Lệ: “Anh Năm Nghị chỉ đạo chị Tư phải cho khởi nghĩa ngay”. Nhận lệnh, chị Tư Liêm lập tức triển khai khởi nghĩa tại khu vực 1 ở Bàn Cờ. Ngay lập tức, lệnh khởi nghĩa được truyền đi. Chị Tư Liêm chỉ đạo cho anh em ráp cờ và treo ngay tại số nhà 115 đường Bàn Cờ. Các băng rôn chào mừng quân giải phóng cũng được căng ra đỏ căn nhà ấy và đỏ các con đường, con hẻm của khu Bàn Cờ. Anh em đeo băng đỏ lực lượng vũ trang nội thành Sài Gòn – Gia Định đi vận động bà con khởi nghĩa. Bà con rất ngạc nhiên, nhưng vẫn hưởng ứng dù khi ấy các cánh quân chủ lực chưa vào đến Dinh Độc Lập, Đài phát thanh vẫn còn phát đi những thông tin của chính quyền cũ.

Ông Nguyễn Văn Ngọc, nhớ lại: “Đêm 29-4, khi thấy quân giải phóng xuất hiện ở cầu Tham Lương thì chúng tôi đã treo cờ. Các má, các dì, các chị tiểu thương mua bán ở các chợ cũng đồng loạt treo cờ giải phóng. 8 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, chúng tôi mượn loa của Nhà thờ Tân Hương tổ chức phát lời kêu gọi. Cuộc nổi dậy khởi nghĩa đã thành công tốt đẹp, không máu đổ. Đến bây giờ tôi càng thấm thía những bài học về công tác dân vận của ta”. Tại quận 4, cờ giải phóng đã được treo rợp trời trước khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

Căn nhà số 115 Bàn Cờ, nơi lực lượng Thành đoàn treo lá cờ giải phóng đầu tiên.

Bà Trần Thị Ngọc Hảo (phụ trách khu vực 2) không giấu cảm xúc: “Vùng đất quận 4 nổi tiếng là vùng đất dữ. Do vậy, đêm 30-4-1975, chúng tôi rất lo lắng. Bọn du đãng lợi dụng thanh toán nhau thì sẽ ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, do vậy, anh em chúng tôi đã chia nhau đi tuần tra để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh tình hình!”.

****

Sáng 30-4-1975, anh Phạm Chánh Trực cùng một cánh quân khác của Thành đoàn đã tiếp quản Tòa hành chánh quận 11.

Ngày 30-4-1975, 5 cánh quân khởi nghĩa trong nội thành đã lần lượt tiếp quản các đơn vị hành chánh và chuẩn bị đón đoàn quân Giải phóng từ 5 hướng tiến vào Sài Gòn. 5 cánh quân của Thành đoàn đã thực hiện nhiệm vụ chính quyền lâm thời tại cơ sở trong việc giữ gìn, bảo vệ an ninh trật tự tại chỗ để ngày hôm sau chuyển giao lại cho lực lượng quân quản. Và từ 5 hướng khác nhau, các anh chị trong lực lượng nội đô Sài Gòn – Gia Định đã cùng nhau họp mặt tại “tổng hành dinh” của Thành đoàn – số 4 đường Duy Tân mà nay là Nhà văn hóa Thanh Niên TP Hồ Chí Minh để mừng ngày chiến thắng của toàn dân tộc Việt Nam.

MAI HƯƠNG – ĐOÀN HIỆP

Bài 1: Quân đoàn 1 mở cửa hướng Bắc
Bài 2: Quân đoàn 2 tiến về Sài Gòn từ hướng Đông Nam
Bài 3: “Quả đấm thép” – ngày ấy… bây giờ
Bài 4: Những bước chân thần tốc

SGGP Online