Đại thắng mùa Xuân 1975 – Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là một trong những cuộc kháng chiến kéo dài nhất, oanh liệt nhất và đã chiến thắng vẻ vang, trọn vẹn.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là bước phát triển ở quy mô cao nhất của toàn bộ tiến trình cách mạng ở miền Nam và của cuộc kháng chiến. Sẽ không thể thấu hiểu sâu sắc nguyên nhân thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nếu không đặt trong tổng thể quá trình Đảng hoạch định đường lối, lãnh đạo và chỉ đạo ở từng chặng đường cụ thể giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lơi hoàn toàn. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển và thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Sau khi hoàn thành việc thay thế thực dân Pháp để chiếm miền Nam nước ta (28-4-1956), đế quốc Mỹ thực hiện chính sách của chủ nghĩa thực dân mới, dựa vào chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, âm mưu chia cắt lâu đài nước Việt Nam, phá hoại sự nghiệp hoà bình thống nhất của dân tộc Việt Nam như đã được quy định tại Hiệp định Geneve (7-1954). Mỹ – Diệm đã đàn áp đẫm máu phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân miền Nam. Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khoá II) 15.7.1954 đã xác định rõ kẻ thù chính của cách mạng nước ta là đế quốc Mỹ. Tháng 9. 1954 Bộ Chính trị đã có những chủ trương cụ thế đế chống âm mưu phá hoại của Mỹ, giữ vững thành quả cách mạng, chống những hành động tiến công của địch.
Tháng 10-1954 thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Xứ uỷ Nam Bộ được thành lập ở căn cứ Chắc Băng- U Minh để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Tháng 8.1956 đồng chí Lê Duẩn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ bám trụ hoạt động tại miền Nam đã soạn thảo tài liệu Đề cương đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam. Đề cương đã đặt ra những vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết đối với phong trào cách mạng miền Nam. Trong những năm 1956-1959 Mỹ – Diệm điên cuồng khủng bố cách mạng. Nhưng với sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng, nhân dân Nam Bộ, và khu V đã từng bước xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa để đấu tranh chống địch.

Yêu cầu đấu tranh vũ trang trở thành bức bách và đặt ra trực tiếp. Từ ngày 12 đến 22.1.1959 Trung ương Đảng (khoá II) họp Hội nghị lần thứ 15 đề ra Đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam. Trung ương chủ trương con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là Khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Thực hiện đường lối của Nghị quyết 15, toàn miền Nam đã nổ ra phong trào Đồng khởi cuối năm 1959 đầu năm 1960. Phong trào Đồng khởi thật sự là một cao trào cách mạng, và bước phát triển nhảy vọt về chất của cách mạng miền Nam, giáng đòn nặng nề vào bộ máy thống trị của Mỹ -Diệm làm phá sản một hình thức điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Đế quốc Mỹ rất hiếu chiến và ngoan cố không cam chịu thất bại. Nghị quyết 15 đã dự kiến với một đối tượng như vậy và trong điều kiện nào đó “Cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ”.
Trên thực tế, do phong trào Đồng khởi của ta chưa giành được thắng lợi hoàn toàn nên đã chuyển thành chiến tranh cách mạng lâu dài chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Để tăng thường sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng miền Nam, Đại hội III của Đảng (9. 1960) đã quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam gồm những uỷ viên Trung ương trực tiếp chỉ đạo trên chiến trường. Trung ương Cục chính thức hoạt động từ 10. 1961. Những nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị năm 1961, 1962, Nghị quyết Trung ương 9 (12.1963), với sự cha đạo trực tiếp của Trung ương Cục, của các cấp bộ Đảng ở miền Nam và với sự chi viện ngày càng tăng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trên đường Trường Sơn, phong trào cách mạng miền Nam có những bước phát triển mạnh mẽ. Chiến thắng ấp Bắc (2.1. 1963), cuộc khủng hoảng của ngụy quyền dẫn tới đảo chính 1.11.1963, Mỹ phải trừ bỏ Ngô Đình Diệm. Kế đó là những chiến thắng lớn ở Bình Giã, Ba Giao An Lão đến Đồng Xoài đã lám thất bại “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.

Thất bại trong “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, đồng thời ồ ạt đưa quân đội viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào tham chiến ở miền Nam, phát động cuộc Chiến tranh cục bộ chống nhân dân Việt Nam. Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3.1965), Hội nghị Trung ương l2 (12.1965) và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17.7. 1966 đã thể hiện quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Chiến thắng trong trận đầu đánh Mỹ ở Núi Thành (Quảng Nam) 26.5.1965, Chiến thắng Vạn Tường (Quảng Ngãi) 8. 1965, tiếp đó là thắng lợi trong chiến dịch mùa khô 1965-1966, mùa khô 1966-1967 và chiến thắng xuân Mậu Thân 1968 đã làm thất bại chiến tranh cục bộ của Mỹ, chứng minh Mỹ không thể thắng bằng quân sự trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, buộc Mỹ phải chấm đứt ném bom miền Bắc (1.11. 1968) và ngồi vào bàn đàm phán ở Hội nghị Paris bắt đầu từ 13.5. 1968. Cùng với những chiến thắng về quân sự, Đảng chủ trương mở mặt trận ngoại giao, kết hợp vừa đánh vừa đàm theo chủ trương của Hội nghị Trung ương 13 (27. 1.1967), Đảng ta cho rằng đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.

Thất bại trong chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố kéo dài chiến tranh bằng chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” cực kỳ tàn ác và thâm độc. Trong những năm 1969, 1970 cách mạng miền Nam chịu nhiều tổn thất và gặp nhiều khó khăn. Song toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả nước vẫn nêu cao ý chí, quyết tâm giành thắng lơi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thực hiện bằng được Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ta tích cực, chủ động khôi phục và phát triển lực lượng trên tất cả các chiến trường, tăng cường chi Viện của hậu phương miền Bắc. Nghị quyết 19 của Trung ương Đảng (1971) khẳng định quyết tâm đó. Đầu năm 1971 phối hợp với chiến trường các nước bạn Lào và Campuchia ta đã giành thắng lợi lớn về quân sự, nhất là việc đánh tan cuộc hành quân Lam Sơn 719 với chiến địch Đường 9 Nam Lào. Thắng lợi đó chứng minh quân ngụy Sài Gòn không thể đương đầu với lực lượng vũ trang cách mạng, nhất là với chủ lực của miền Bắc, chứng minh sự phá sản của “Việt Nam hoá chiến tranh”. Trong bối cảnh quốc tế rất phức tạp, ta mở cuộc tiến công Xuân – hè 1972 trên toàn miền Nam. Mỹ lo sợ thất bại hoàn toàn nên vội vã “Mỹ hoá” trở lại cuộc chiến tranh phát động cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc bắt đầu từ ngày 6.4.1972 và đỉnh cao nhất là cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng 12 ngày đêm cuối tháng 12.1972. Thất bại trong trận “Điện Biên Phủ trên không” của quân dân Việt Nam, Mỹ buộc phải trở lại bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Paris (27.l.1973). Ngày 29.3.1973 quân Mỹ ở miền Nam làm lễ cuốn cờ chấm dứt sự có mặt của quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam.
Sau Hiệp định Paris, đế quốc Mỹ vẫn tăng cường viện trợ về quân sự và kinh tế cho chính quyền Sài Gòn, tiếp tục thực hiện chiến lước “Việt Nam hoá chiến tranh”. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ trợ giúp đã vi phạm những điều khoản của Hiệp định, lấn chiếm và tiếp tục mở rộng chiến tranh. Tình hình đó cho thấy một thực tế là, con đường phát triển của cách mạng miền Nam vẫn phải là tiếp tục tiến hành chiến tranh cách mạng để đánh bại chính quyền tay sai của Mỹ để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Trong bối cảnh đó Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III được triệu tập để quyết định những nhiệm vụ của cách mạng miền Nam. Hội nghị họp đợt I: từ ngày 19.6 đến 6.7.1973 và đợt II: từ ngày 1.IO đến 4.11.1973. Hội nghị tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn sâu sắc của 18 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước làm cơ sở cho những quyết sách trong giai đoạn mới tiến lên giành thắng lợi cuối cùng v.v .

Hội nghị 21 của Ban Chấp hành Trung ương phân tích, đánh giá tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch, trên chiến trường, phân tích âm mưu và thủ đoạn của địch và dự kiến hai khả nàng phát triển: Một là, Hiệp định được thi hành từng bước, xung đột quân sự giảm dần, hoà bình được lập lại về cơ bản; đấu tranh chính trị ngày càng phát triển, cách mạng ở thế tiến lên mạnh mẽ. Hai là, địch gây chiến tranh trở lại; ta phải tiến hành chiến tranh cách mạng để giành thắng lợi. Trung ương Đảng nhấn mạnh, ta phải nắm vững tình hình, nắm vững thời cơ, chỉ đạo kiên quyết khôn khéo và linh hoạt để đưa cách mạng tiến lên. Trong mỗi khả năng phát triển của tình hình sẽ còn nhiều tình huống phức tạp. “Song dù tình hình phát triển theo khả năng nào, con đường tiến lên giành thắng lợi của cách mạng miền Nam chỉ có thể là con đường bạo lực diễn ra dưới hình thức này hay hình thức khác. Ta phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó chắc thắng với khả năng xấu nhất là địch gây đại chiến tranh”. Nghị quyết 21 của Trung ương đề ra những biện pháp cơ bản thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển.

Thực hiện nhiệm vụ do Hội nghị 21 của Trung ương Đảng đề ra, cả nước dốc sức chuẩn bị lực lượng về mọi mặt. Trong nửa cuối năm 1973 và cả năm 1974, cùng với gấp rút củng cố và phát triển lực lượng tại chỗ trên chiến trường, Đảng chỉ đạo nhiệm vụ tăng cường chi viện của hậu phương miền Bắc. Mức tuyển quân và huy động của cải vật chất ở miền Bắc tăng nhiều lần so với các thời kỳ trước. Hội đồng chi viện tiền tuyến được thành lập. Điều đó nói lên quyết tâm chiến lược của Đảng và nhân dân ta. Định hướng lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng là phải nắm vững tình hình, nắm vững thời cơ, chỉ đạo kiên quyết và khôn khéo. Đến cuối năm 1974, việc chuẩn bị về mọi mặt đã tạo nên sự chuyển biến căn bản trong thế và lực của ta trên chiến trường. Bộ Chính trị hạ quyết tâm động viên sức mạnh của quân dân cả nước hoàn thành giải phóng miền nam trong 2 năm 1975, 1976. Sau chiến thắng Phước Long (1-1975) thế và lực của ta tăng lên, khả năng Mỹ đưa quân trở lại là rất khó xảy ra, Bộ Chính trị đi đến quyết định mở cuộc tiến công chiến lước để hoàn thành giải phóng miền Nam trong năm 1975. Bộ Chính trị và quân uỷ Trung ương quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên. Ngày 10- 3-1975 ta tiến công Buôn Ma Thuật. Chiến thắng Buôn Ma Thuật và chiến địch Tây Nguyên thắng lợi chẳng những đã tăng cường thế và lực của ta mà còn xuất hiện thời cơ giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất. Ngày 18-3-1975 một ngày sau khi địch rút chạy hoàn toàn khỏi Bắc Tây Nguyên, Bộ Chính trị và quân uỷ Trung ương đã họp ngày 25-3-1975 và quyết định nhanh nhạy, chớp thời cơ giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975 nghĩa là chậm nhất là cuối tháng tư năm 1975. Phát triển thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị, quân uỷ Trung ương và Bộ Thắng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Huế-Đà Nẵng. Ngày 26-3- 1975, giải phóng Huế. Ngày 29-3-1975, giải phóng Đà Nẵng. Tiếp tục tuy quét địch dọc các tỉnh cực nam Trung Bộ. Ngày 24-4-1975, ta phá tan phòng tuyến Xuân Lộc của địch mở cánh cửa hướng đông tiến vào Sài Gòn. Cùng ngày 24-4-1975 Bộ Chính trị quyết định chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. 17 giờ ngày 26-4-l975 chiến dịch Hồ Chí Minh đỉnh cao nhất của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 bắt đầu và toàn thắng vào lúc 11h30 ngày 30-4-1975 giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Có thể thấy rõ sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Bộ Chính trị, quân uỷ Trung ương đã có vai trò quyết định đến sự phát triển thần tốc, táo bạo của quân và dân ta trên toàn chiến trường và chỉ trong 55 ngày đã giành thắng lợi hoàn toàn. Sự lãnh đạo ở đây thể hiện ở đường lối kháng chiến và phương pháp cách mạng đúng đắn mà Đảng đề ra đã đưa toàn bộ cuộc kháng chiến lần lượt vượt qua những khó khăn thách thức, đánh bại các chiến lược chiến tranh của tên đế quốc hùng mạnh nhất. Trong đại thắng mùa Xuân 1975 sự lãnh đạo của Đảng cần được nhấn mạnh từ Nghị quyết 21 của Trung ương và tiếp đó là những quyết định quan trọng của Bộ Chính trị cuối năm 1974 đầu năm 1975. Tài thao lược của Đảng ta trong lãnh đạo chỉ đạo chiến tranh cách mạng đã được thể hiện trong những quyết sánh và thắng lợi liên tiếp trên chiến trường. Không có sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, quyết đoán và táo bạo như thế thì không thể có thắng lợi. Ở đây đã đạt tới trình độ cao trong khoa học, nghệ thuật lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng của bộ thống soái tối cao của Đảng và sự năng động, sáng tạo của lãnh đạo ở các địa phương, các chiến trường.
Đại thắng mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn là sự hội tụ sức mạnh của quân và dân cả nước, sức mạnh của toàn dân tộc. Đó là sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam thần kỳ với sự hy sinh to lớn của đồng bào chiến sĩ miền Nam trên tiền tuyến lớn và sự chi viện hết lòng của hậu phương lớn miền Bắc với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” và “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Đó là thắng lợi của khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đồng thời cũng tỏ rõ sức mạnh của chủ nghĩa xã hội của sự kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, của sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân l975, về quân sự là sức mạnh tổng hợp của sự hiệp đồng binh chủng của bộ binh, pháo binh, xe tăng, lực lương phòng không, không quân, hải quân, đặc công, vận tải, hậu cần, tình báo…, của sự tiến công như vũ bão của các binh đoàn chủ lực với sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương. Tổ quốc và nhân dân đời đời ghi nhớ sự hy sinh của chiến sĩ, đồng chí, đồng bào trong suốt cuộc kháng chiến và trong các chiến dịch của mùa xuân đại thắng, của những người đã ngã xuống ngay cửa ngõ Sài Gòn trước giờ toàn thắng.

Trong đấu tranh cách mạng, muốn giành thắng lợi phải có thực lực. Thắng lợi trên chiến trường phải có thực lực quân sự mạnh. Mạnh được, yếu thua. Cuộc tổng tiến công và nổi đậy mùa Xuân 1975 đã huy động sức mạnh quân sự tối đa cùng với sự chủ huy tài ba, thao lược quả cảm của những tướng lĩnh nắm vững khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam và dày dạn kinh nghiệm trận mạc suốt 30 năm kháng chiến. Từ Bộ Tổng tư lệnh đến Bộ Tư lệnh các chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế-Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh bao gồm các đồng chí lãnh đạo lỗi lạc và tướng lĩnh tài ba. Bộ đội chiến đấu dũng cảm, chỉ huy tài giỏi bảo đảm chắc thắng. Đại thắng mùa Xuân 1975 kế thừa và phát triển những kinh nghiệm, những bài học của các cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) và Xuân hè 1972 do đó đã phát huy những yếu tố làm nên sức mạnh và khắc phục những hạn chế. Đại thắng mùa Xuân 1975 đã phát triển đến đỉnh cao, làm phong phú khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Chỉ trong 55 ngày đêm đã đánh sập toàn bộ bộ máy chmh quyền địch và hơn một triệu quân đội tay sai được Mỹ trang bị và huấn luyện ở trình độ hiện đại trên toàn miền Nam.

Cần phải nhấn mạnh rằng, sau thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, ta đã nắm phần thắng trong tay. Hội nghị Bộ Chính trị ngày 18-3-l975 đã nhận định sự tan vỡ của ngụy quân, ngụy quyền là không thể cứu vãn được. Vì thế, phải chớp thời cơ và quyết giành thắng lợi hoàn toàn trước khi mùa mưa đến. Thắng lợi của chiến dịch Huế-Đà Nẵng và suốt các tỉnh Nam Trung Bộ đã cho thấy thắng lợi hoàn toàn đang đến gần. Khi các mũi tiến công của đại quân ta áp sát Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh thì tình thế không thể đảo ngược, thắng lợi cuối cùng chỉ tính từng ngày, từng giờ. Mặc dù ngay ở cửa ngõ Sài Gòn, địch vẫn chống trả quyết liệt, nhưng sức mạnh quân sự áp đảo của đại quân ta đa buộc toàn bộ ngụy quân và ngụy quyền phải đầu hàng vô điều kiện. Đối phương đã phải ngừng chống cụ, hạ vũ khí và tuyên bố đầu hàng. Đối phương sẽ không tuyên bố đầu hàng nếu như họ còn sức mạnh, còn có khả năng kéo dài sự kháng cự để hy vọng làm chuyển biến tình hình có lợi cho họ. Buổi sáng 30-4-1975 là giờ phút tuyệt vọng của địch chứng kiến sự cáo chung của chế độ tay sai Mỹ kéo dài 21 năm ở miền Nam nước ta.

Đại thắng mùa Xuân 1975 không chỉ kết thúc cuộc kháng chiến oanh liệt chống Mỹ cứu nước suốt 21 năm, mà còn chấm dứt sự thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới trên đất nước ta kéo đài 117 năm (1858-1975). Đó là thắng lợi vẻ vang của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh bại những thế lực thực dân, phát xít, đế quốc hùng mạnh nhất trong thế kỷ XX. Thắng lợi đó đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc Việt Nam.

Với đại thắng mùa Xuân 1975 một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc đã được mở ra- kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. 30 năm đã trôi qua kể từ thắng lợi vẻ vang đó, đất nước Việt Nam độc lập, thống nhất đã tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử, giành những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới. Hào khí Xuân 1975 đã và mãi mãi cổ vũ các thế hệ người Việt Nam quyết tâm gìn giữ nền độc lập thống nhất- thành quả mà các thế hệ cha anh đã đổ biết bao xương máu mới giành được. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu mà đại thắng mùa Xuân 1975 là bản hùng ca tuyệt (diệu vẫn đang có ý nghĩa sâu sắc động viên toàn thể dân tộc Việt Nam hôm nay vững bước trên con đường xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh để đến năm 2010 ra khỏi tình trạng một nước nghèo, chậm phát triển và đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ý chí tự lực tự cường, sự thông minh sáng tạo và lòng quả cảm của những người Việt Nam đã làm nên đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử, sự đoàn kết và sức mạnh phi thường của cả dân tộc trong trận thắng huyền thoại đó đã và đang được mọi người con của nước Việt hôm nay tăng cường đoàn kết, nêu cao niềm tự hào, tự tôn dân tộc xây dựng đất nước giàu mạnh, cuộc sống ấm no, hạnh phúc, sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.

Theo PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, tạp chí Tư tưởng – Văn hoá, tháng 4/2005

Báo điện tử ĐCSVN

Advertisements

Từ thành công trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đến vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay

Tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Bác đã mang về thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Câu thơ xuân “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đã vạch đường đi, nước bước để có thắng lợi hôm nay.

Đó là suy nghĩ của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp (được ghi trong hồi ký Tổng hành dinh trong mùa Xuân đại thắng) sau cuộc họp Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương ngày 30-4-1975 tại Tổng hành dinh để theo dõi và chỉ đạo cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn của năm cánh quân, buộc Dương Văn Minh tổng thống nguỵ phải đầu hàng vô điều kiện.

Từ đó thấy rõ, tư tưởng Hồ Chí Minh được quán triệt và thực hiện trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 là một bộ phận trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh về cuộc chiến tranh cách mạng chống đế quốc mà thế hệ lãnh đạo tiếp nối đã tiếp thu và vận dụng để giành toàn thắng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ta có thể tìm hiểu đôi nét về các tư tưởng đó nhằm quán triệt và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

“Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” là sự vận dụng tư tưởng chiến lược mà đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra trong hội nghị các Đảng Cộng sản và công thân thế giới họp ở Bu-ca-rét từ tháng 7-1960, được các đảng anh em nhất trí. Đó là chiến lược đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận các thế lực đế quốc lớn mạnh, không cho chúng cụm với nhau để chống phá cách mạng. Còn bài thơ “Học đánh cờ” của Bác là một ẩn dụ rất tinh tế. Về cuộc chiến tranh cách mạng, ta thấy hầu như câu nào cũng chứa đựng tư tưởng chỉ đạo. “Tiến công, thoái thủ nên thần tốc. Chân lẹ, tài cao ắt thắng người”. Tư tưởng này đã được vận dụng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, thể hiện trong Nghị quyết Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp ngày 3l-3-1975, quyết định đòn chiến lược cuối cùng của cuộc Tổng tiến công: “Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tất hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay không để chậm. Phải hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ”. Cũng từ đó có mệnh lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh ngày 7-4-1975, gửi các đơn vị trên đường hành quân vào mặt trận: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới Mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng?”.

“Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ. Kiên quyết không ngừng thế tiến công. Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời, một tốt cũng thành công”. Tầm suy nghĩ sâu, cách nhìn rộng của Bộ Thống soái tối cao trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975, thể hiện nổi bật trong lời kết luận của Bí thư thứ nhất Lê Quẩn trong Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng tới các Tư lệnh chiến trường, từ 30-9-1974 đến 8-10-1974: “Lúc này chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn. Ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác. Nếu để chậm mươi lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược hồi phục mạnh lên, thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng. Thời cơ này đòi hỏi phải làm nhanh, làm gọn, làm triệt để nhưng phải khôn khéo…”. Nhận rõ tầm quan trọng của yêu cầu tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ, sau khi duyệt kế hoạch cơ bản giải phóng miền Nam trong hai năm 1975- 1976, Hội nghị còn yêu cầu phải có kế hoạch tận dụng thời cơ khi nó xuất hiện: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.

Câu thơ “Vốn trước hai bên ngang thế lực. Mà sau thắng lợi một bên giành. Tấn công, phòng thủ không sơ hở. Đại tướng anh hùng mới xứng danh” cho thấy không có những thời kỳ làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch những năm trước đó của cuộc chống Mỹ, cứu nước thì không có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Rõ ràng, sau Hiệp đánh Giơ-ne-vơ, khi chính quyền Ngô Đình Diệm hò hét “Lấp sông Bến Hải” để “Bắc tiến”, rồi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, đưa không quân và hải quân ra đánh phá hòng “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá” thì chúng đâu có yếu? Chính vì Trung ương Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo quân dân cả hai miền “tiến công, phòng thủ không sơ hở” mà cả ba chiến lược chiến tranh của Mỹ tiến hành ở miền Nam đều lần lượt bị đánh bại. ở miền Bắc, cũng do chủ động “phòng thủ” theo lời tiên đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người đến thăm Bộ Tư lệnh Phòng không- Không quân: “Ở Triều Tiên, trước khi thua, đế quốc Mỹ đã dùng không quân san phẳng Bình Nhưỡng. Sớm muộn rồi chúng cũng đem B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua”, chúng ta đã cảnh giác, đánh thắng trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ phải trở lại Pa-ri đàm phán, chấp thuận những điều kiện của ta.

Bằng sự chỉ đạo chiến lược sắc bén của Đảng, thấm nhuần tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, chúng ta đã buộc đế quốc Mỹ từ chỗ leo thang phải xuống thang chiến tranh. Trước tình hình dó, Người ra “lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Người nhấn mạnh: “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta phải chiến đấu quét sạch nó đi. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam anh hùng… liên tục tiến công, liên tục nổì dậy, kiên quyết tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Quân và dân miền Bắc quyết ra sức thi đua yêu nước, xây dựng CNXH và làm tròn nhiệm vụ của mình đối với đồng bào miền Nam ruột thịt, luôn luôn nâng cao cảnh giác, tự lực cánh sinh, tăng cường lực lượng sẵn sàng chiến đấu đập tan mọi âm mưu mới của địch”. Chính sự chấp hành triệt để “Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch” của cả hài miền Nam Bắc đã dẫn đến hiệu quả kết thúc thời kỳ “đánh cho Mỹ cút”, đánh dấu bằng buổi lễ cuốn cờ của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn ngày 29-3-1973. Đây là tiền đề dẫn đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Về phương thức tiến hành chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích không lên chỉ biết đánh. Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền, giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt… Đảng phải chăm lo lãnh đạo mọi mặt, lúc đánh nhau tất cả mọi mặt phải gắn liền với nhau mới thắng được”. Tuân theo tư tưởng đó, Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 1-1975, chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã khẳng định: “Đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, kết hợp với dấu tranh ngoại giao”, “Ta đánh theo cách đánh của ta là phải chính trị quân sự kết hợp, phải là chiến lược tổng hợp với ba quả đấm. Khác đi là không thắng được”. Tuy nhiên, vận dụng chiến lược tổng hợp của chiến tranh cũng phải có trọng điểm. Đọc báo cáo chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đảng, khi nói về cuộc trường kỳ kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến”. Quán triệt tinh thần đó, Hội nghị Bộ Chính trị, tháng 5-1973, bàn về vấn đề miền Nam đã quyết nghị “Phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý… Tiến công quân sự bằng phản công chủ động đánh bại mọi hành động của địch”. Trong Hội nghị, nhiều Uỷ viên Bộ Chính trị nhấn mạnh: nói quân sự, chính trị song song là đúng nhưng lúc này phải biết lấy quân sự làm trụ cột, làm chỗ dựa cho đấu tranh chính trị. Tại Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, tháng 6- 1973, khẳng định cách mạng miền Nam phải tiến hành bằng con đường bạo lực, đồng chí Bí thư thứ nhất kết luận: “chiến lược của ta là chiến lược tiến công, vấn đề quân sự phải đặt lên hàng đầu. Đấu tranh chính trị lúc này phải kết hợp với đấu tranh quân sự, binh vận và pháp lý”. Đến Hội nghị Bộ Chính trị, tháng 3-1975, quyết định đòn chiến lược cuối cùng của Tổng tiến công, đã quyết nghị về phương thức tác chiến chiến lược: phát huy sức mạnh tống hợp của cả bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang ở riêng thôn và thành thị, thực hiện từ ngoài đánh vào kết hợp với lực lượng tại chỗ từ trong đánh ra, lấy chủ lực từ ngoài đánh vào là quyết định, tập trung lực lượng tiến công địch nhanh chóng, lợi dụng thời cơ, dồn dập phát triển thắng lợi.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, về mặt đảm bảo vật chất và kỹ thuật đã là sự thể hiện sâu sắc việc quán triệt tư tưởng tự lực cánh sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1968, Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm về phát triển nền khoa học, kỹ thuật của đất nước: “Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tướng, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết vấn đề do cách mạng ta đề ra, và trong thời gian không xa đạt được những đỉnh cao về khoa học và kỹ thuật”.

Trận “Điện Biên Phủ trên không” làm cho không quân địch thất bại nặng nề, phải kể đến thành tích của cán bộ, nhân viên kỹ thuật của ta rất sáng tạo trong việc thiết kế mạng ra đa và bố trí trận địa tên lửa theo lối ứng dụng; đến tinh thần tiết kiệm đạn dược của bộ dội pháo cao xạ để bất kỳ lúc nào cũng có đủ cơ số đạn đánh địch. Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, viện trợ về vũ khí, trang bị cho ta không có, trong khi đế quốc Mỹ với chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” đã để lại và bổ sung cho chế độ Sài Gòn rất nhiều vũ khí, đạn dược. Trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Bộ Tổng Tư lệnh rất lo thiếu vũ khí. Chỉ đến khi ta thu được nhiều kho đạn của địch, vấn đề được giải quyết ổn thoả. Trận ném bom xuồng sân bay Tân Sân Nhất của phi đội A.37 do Nguyễn Thành Trung chỉ huy là điển hình về “lấy vũ khí địch diệt địch” theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 kết thúc một thế kỷ thống trị của bọn thực dân đế quốc trên đất nước ta, nhưng hậu quả của nó thật ghê gớm. Đấy là, một đất nước bị tàn phá sau mấy chục năm chiến tranh, tình trạng nghèo nàn, lạc hậu trải dài từ Nam chí Bắc. Nhớ lời căn dặn của Hồ Chủ tịch “Nước đã độc lập mà dân chưa được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập phỏng có ý nghĩa gì”, Đảng ta đã động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung khắc phục những tình trạng đó. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã xếp “giặc đói khổ” và “giặc dốt nát” ngang hàng với “giặc ngoại xâm”, còn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu thì Người coi “tội lỗi ấy nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”. Theo tư tưởng ấy, chống nạn “nghèo nàn, lạc hậu” của dân tộc Việt Nam ngày nay cũng cần được coi như trận chiến đấu mới của toàn Đảng, toàn dân, mà tính chất “trường kỳ, gian khổ, nhất định thắng lợi” cũng chẳng kém cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ. Kiên quyết không ngừng thế tiến công”. Cuộc tiến công xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu ở Việt Nam tất cũng phải quán triệt tư tưởng “tự lực cánh sinh”, dựa vào sức mình là chính, đi đôi với tranh thủ sự giúp đỡ của anh em, bè bạn toàn thế giới, nay trở thành quan điểm vừa phát huy nội lực, vừa tranh thủ vốn đầu tư, hợp tác của nước ngoài, đã và đang đạt được những kết quả hết sức quan trọng. Về chiến lược, tất phải vận đụng phương châm “đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận” những nguy cơ do địch gây ra và những nguy cơ do yếu kém của bản thân ta, theo chiến lược tổng hợp mọi sức mạnh cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…

Theo chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, có thể coi bước đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2010 là một “giai đoạn chiến lược” của “cuộc chiến”; bước đưa nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 là một “giai đoạn chiến lược” thứ hai để tiến tới mục tiêu chiến lược “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Những chỉ tiêu đó là rất nặng nếu ta đi sâu phân tích nội dung của khái niệm, đối chiếu với tổng số thời gian còn lại. Khái niệm “nước kém phát triển” và “nước công nghiệp theo hướng hiện đại” đều là những khái niệm mang hàm nghĩa so sánh với các nước trong vùng và trên thế giới. Trong khi ta phát triển thì các nước khác cũng tiếp tục đi lên. Đến năm 2010, nếu ta không theo kịp, thậm chí có vượt qua các nước trong vùng (hiện nay) thì ta vẫn cứ là nước kém phát triển. Đến năm 2020, nếu các nước công nghiệp đã ứng dụng công nghệ tin học một cách phổ biến mà ta vẫn ở trình độ công nghệ cơ khí thì cũng chưa tự coi mình là nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Từ nay đến đó, bước thứ hai chỉ còn 15 năm, bằng nửa thời gian tính từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đến nay.

Từ nay đến các thời hạn đó, các “đối tượng tác chiến chiến lược” mà ta phải “kiên quyết không ngừng thế tiến công”, trước hết là “nguy cơ tham nhũng, quan liêu”. Nguy cơ này được đề cập đến nay đã trải qua ba rthiệm kỳ Đại hội Đảng, sắp tới nhiệm kỳ thứ tư nhưng xem ra “đối tượng” đó chưa bị đẩy lùi bao nhiêu, chưa nói đến bị đánh bại. Hơn nữa các thủ đoạn của nó còn phát triển tinh vi hơn và táo tợn hơn. Không thể đi vào chuyên đề này bằng một bài về chiến lược chung, nhưng ít nhất về mặt xây dựng Đảng phải kiên quyết tiến tới chi bộ đảng không được phép có “đảng viên tham nhũng, bị truy tố, phải ra hầu toà”, tự hạ mình xuống mức thấp hơn quần chúng bình thường, đừng nói gì đến tính tiên phong để quần chúng noi theo. Đành rằng các nước phát triển và các nước công nghiệp hiện đại cũng không phải đã quét sạch tham nhũng, nhưng ở nước ta hiện nay, tệ nạn ấy làm suy giảm nghiêm trong lòng tin của quần chúng đối với đội tiên phong lãnh đạo cách mạng, gây trở ngại cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Chúng ta không theo chủ nghĩa “trừng phạt”, nhưng bài học do Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại trong việc xử lý “vụ Trần Dụ Châu” cần được học tập nghiêm túc.

Để thực hiện tốt phương châm “lấy xây dựng kinh tế làm nhiệm vụ trung tâm, lấy xây dựng Đảng làm nhiệm vụ then chốt”, đối tượng, tiếp theo phải kiên quyết tiến công là sự lộng hành của hàng lậu, hàng giả cộng với những yếu kém về quản lý của ta đang làm cho sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam còn rất thấp khi gia nhập kinh tế thị trường. Chỉ cần quan tâm đời sống hằng ngày cũng dủ thấy tình trạng hàng hoá của ta đang bị “thua trên sân nhà” khá rõ chứ chưa nói đến “sân khách”. Trong khi cuộc sống thời bình của nhân dân đang đòi hỏi rất nhiều nhu yếu phẩm các loại để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần thì nhìn đâu ta cũng thấy hàng ngoại. Một xã hội tiêu thụ đang hình thành mà nguồn cung cấp chủ yếu là hàng hoá nước ngoài, phần lớn không phải hàng nhập qua cửa khẩu mà là hàng lậu thuế. Hàng hoá được tiêu thụ ngày càng nhiều, không chỉ ở thành phố mà cả ở nhiều vùng nông thôn đang “điện khí hoá” khá nhanh. Sản xuất hàng hoá nước ta muốn sớm thoát nguy cơ “tụt hậu xa hơn với các nước trong vùng” thì không được coi thường thị trường nội địa với 80 triệu dân, một lĩnh vực thị phần không thể đánh mất. Đối với nền sản xuất hàng hoá trong nước mới được tạo dựng, đối tượng gây nguy hại nhất chính là nạn hàng giả, hàng lậu, trong khi cơ chế quản lý còn không ít thủ tục rườm rà. Với một đất nước dài và hẹp, lại có vùng “biên giới mở” rất khó kiểm soát, hàng trốn thuế có thể thâm nhập đủ mọi phía, bóp chết hàng hoá trong nước, từ chiếc ti vi, xe máy, điện thoại, bếp ga, nồi cơm điện đến hoa quả, bánh kẹo, đồ chơi trẻ em… Thuế nhập khẩu bị thất thu, hàng trong nước không đủ sức cạnh tranh trừ dăm bảy thương hiệu có sản phẩm chất lượng cao trong hàng trăm mật hàng đáp ứng nhu cầu (về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, công tác) của mọi tầng lớp nhân dân. Chỉ trong một vài năm nữa, khi những thỏa thuận của khu vực mậu dịch tự do ASEAN, (AFTA) và tổ chức thương mại thế giới (WTO) có giá trị với ta, nếu các mặt hàng nội địa cứ tiếp tục bị các “đối thủ”; ngáng chân không thể tiến lên được thì tình trạng “thua trên sân nhà” và trên thị trường khu vực sẽ càng lộ rõ. Bởi vậy, với tinh thần “kiên quyết không ngừng thế tiến công” của mùa Xuân toàn thắng 1975, cần kịp thời tận dụng thời gian còn lại, dẹp bỏ càng nhanh càng tốt những trở lực đang ngáng trở nền sản xuất hàng hoá non trẻ của đất nước, khiến nó không đủ thế và lực để đương đầu với cuộc cạnh tranh khốc liệt trong cơ chế thị trường. Đối tượng thứ ba cần kiên quyết tiến công là các tệ nạn xã hội và tội phạm, đứng đầu là nạn ma tuý, mại dâm… đang đe đoạ tiền đồ của một bộ phận thanh niên nam, nữ, vốn là chủ lực của các lực lượng sản xuất xã hội đang cần được động viên cho sự nghiệp CNH,HĐH.

Đó là “những việc cần làm ngay”, còn việc làm thường xuyên, lâu dài là phải tạo lập được “thế trận lòng dân” vững chắc, xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh . Việc này cần làm một cách kiên quyết, bền bỉ, giàu tính thuyết phục, sao cho mọi tầng lớp nhân dân, mọi ngành nghề liên kết chặt chẽ, toàn diện với nhau, phát huy mọi khả năng tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất, đáp ứng kịp thời mọi tình huống, cả thời bình và thời chiến, thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ, cách bốn tháng trước khi Người “đi xa”. Đó là: “Phải xây dựng lực lượng thật tốt, chất lượng thật cao. Luôn luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi… Chú ý tiết kiệm sức người, sức của, giữ gìn thật át vũ khí, trang bị”. Với phương châm “trong ấm, ngoài êm”, quán triệt quan điểm chỉ đạo: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với CNXH, lấy việc giữ vững môi trường hoà bình ổn định để phát triển kinh tế-xã hội là lơi ích cao nhất của dân tộc” của Nghị quyết Trung ương Tám khoá IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, toàn quân, toàn dân ta thấm nhuần tư tưởng bảo vệ hoà bình, vì hoà bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác đã từng căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi cần giữ vững hoà bình: “Phải hết sức tránh khiêu khích, không để xảy ra xung đột… Nếu xảy ra xung đột thì biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không có xung đột”. Quan điểm đối ngoại sau khi nước nhà giành được độc lập (8-1945) cũng được Người nói rõ trong khi trả lời phỏng vấn của một nhà báo Mỹ, đại để rất hoan nghênh bất kỳ nước nào, kể cả các nước tư bản đến giúp Việt Nam kiến thiết đất nước hoà bình, độc lập, đôi bên cùng có lợi; còn cương quyết cự tuyệt nước nào đưa tư bản đến để ràng buộc, áp chế Việt Nam. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại là chìa khoá của hoà bình trong điều kiện quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay. Để giữ vững môi trường hoà bình, ổn định cho đất nước xây dựng và phát triển, cần liên kết chặt chẽ ba ngành lại với nhau, hỗ trợ nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh được quán triệt và thực hiện trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 không thể tách rời hệ tư tưởng của Người chỉ đạo toàn bộ cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc để có một mùa xuân đại thắng. Trong cuộc chiến đánh bại nghèo nàn, lạc hậu, với lực lượng mới, vị thế mới, thời cơ mới, kẻ thù thu hẹp, bè bạn tăng thêm, ta hoàn toàn đủ điều kiện để vận dụng sáng tạo những tư tưởng Hồ Chí Minh, như đã vận dụng thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong mùa Xuân 1975 lịch sử, giành lấy những mục tiêu chiến lược về bước phát triển của đất nước, thực hiện lời di chúc thiêng liêng “Còn non còn nước, còn người. Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

Theo Thiếu tướng, Giáo sư Bùi Phan Kỳ, Tạp chí Quốc phòng toàn dân tháng 4/2005

Báo điện tử ĐCSVN

Đường Hồ Chí Minh – một kỳ tích của ý chí Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ quân và đần ta đã làm nên một kỳ tích có một không hai, đó là xây dựng thành công tuyến đường vận tải quân sự chiến lược xuyên Trường Sơn- Đường Hồ Chí Minh.

Đây là tuyến đường vận tải quân sư chiến lược chủ yếu, chi viện sức người sức của từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam và cho nhân dân hai nước bạn Lào và Cam – pu –chia. Nó có tầm vóc và ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Đường Hồ Chí Minh được xây dựnh từ tháng 5- 1959 xuất phát từ yêu cầu của cách mạng Việt Nam và sự phát triển của cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam trong giai đoạn đó. Nhiệm vụ của Đường Hồ Chí Minh rất đa dạng và được từng bước bổ sung trong quá trình cứu nước: tổ chức đội hình binh chủng hợp thành đánh thắng cuộc chiến tranh ngăn chặn bằng không quân và bộ binh của Mỹ trên Đường Hồ Chí Minh; tổ chức vận tải chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam và chiến trường Lào, Cam- pu –chia; bảo đảm hành quân cơ động có tính chiến lược, chiến dịch cũng như vận động chiến đấu của các binh chủng, quân chủng; đánh địch bảo đảm cho mở đường và vận chuyển ; mở rộng vùng giải phóng trên dải Trường Sơn, tạo thành những khu căn cứ chiến lược làm chỗ dựa cho chiến trường miền Nam cũng như chiến trường Lào và Cam-pu-chia; xây dựng cơ sở quần chúng, phát triển chiến tranh nhân dân địa phương, giúp đỡ nhân dân nước ta và bạn trên khu vực tuyến đường sản xuất, bảo đảm đời sống; bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cấp chiến lược và cho các chiến trường tiếp nhận, điều trị thương binh bệnh binh và chuyển tiếp ra hậu phương miền Bắc,v.v.

Trải qua 16 năm hoạt động và chiến đấu liên tục trong điều kiện cực kỳ khó khăn, gian khổ và quyết liệt, Đường Hồ Chí Minh từ thủa ban đầu còn sơ khai «đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng», ở phía Đông Trường Sơn, làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, bộ đội vào Nam ra Bắc, kết hợp gùi, thồ vũ khí, sau đó đã hình thành một mạng lưới đường vận tải quân sự chiến lược nối Đông Trường Sơn với Tây Trường Sơn dài gần 20. 000 km, bao gồm 4 hệ thống trục dọc dài gần 6.810 km, 21 hệ trục ngang dài 4.980 km, 5 hệ thống đường vượt khẩu dài 700 km, hệ thống đường vòng tránh các trọng điểm dài 1.300 km. Đặc biệt, trên tuyến đường này, tận dụng ưu thế địa hình, ta đã mở 800 km đường rừng, dùng tán cây rừng nhiều tầng làm màn ngụy trang khổng lồ cho đội hình xe lớn chạy ban ngày, giảm được sự đánh phá ngăn chặn của không quân Mỹ ; mở tuyến vận tải đường sông vào tới Crô -chi- ê (Cam -pu – chia) và hệ thống đường ống đến Bù Đốp (Lộc Ninh). Với mạng lưới đường giao thông kỳ hình, kỳ đang như ”trận đồ bát quái huyền thoại » này, Bộ đội Trường Sơn đã chuyển tới các chiến trường miền Nam nước ta, nam Lào và Cam -pu –chia hơn 1,5 triệu tấn hàng hoá, vũ khí và 5,5 triệu tấn xăng dầu; đã tổ chức đưa đón và vận chuyển trên hai triệu lượt cán bộ chiến sĩ qua lại trên đường, trong đó có nhiều binh đoàn lớn, nhiều tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn xe tăng thiết giáp, pháo binh, pháo phòng không tên lửa, công binh…Cũng trong 16 năm đó, Bộ đội Trường Sơn đã chiến đấu 111.135 trận đánh trả không quân Mỹ, bắn rơi 2.455 máy bay, đánh thắng 1.263 cuộc hành quân nống lấn, biệt kích, thám báo, diệt 18.740 tên, mà đỉnh cao là chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971) xoá bỏ vĩnh viễn cuộc chiến tranh ngăn chặn của địch; cùng nhân dân và đơn vị bạn bảo đảm vững chắc và phát triển tuyến đường, giữ vững và đẩy mạnh hoạt động vận chuyển. Trong quá trình vận tải và chiến đấu, Bộ đội Trường Sơn đồng thời đã xây dựng và phát triển lực lượng ngày càng vững mạnh, đủ sức đáp ứng yêu cầu vận chuyển và chiến đấu trong mọi tình huống. Từ chỗ ban đầu chỉ có những tiểu đoàn gùi thồ, hoạt động phân tán, Bộ đội Trường Sơn đã thành một binh đoàn hợp thành lớn mạnh, được trang bị ngày càng hiện đại, bao gồm: 8 sư đoàn binh chủng tập trung, 21 trung đoàn độc lập (bộ đội xe hơi, bộ đội công binh, bộ đội phòng không, bộ đội đường sông, bộ đội đường ống, bộ đội kho hàng, thông tin, các đơn vị bộ binh, giao liên…) với quân số 10 vạn bộ đội, l vạn thanh nhiên xung phong. Lực lượng đó ngày càng được hoàn chỉnh, hình thành lực lượng tại chỗ, góp phần xây dựng lực lượng chiến lược của Bộ, đồng thời là một bộ phận lực lượng dự bị chiến lược của Bộ để đón đầu sự phát triển của chiến tranh cách mạng; góp phần tạo thời cơ, đón thời cơ và là một cơ sở để Bộ Chính thị, Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm chiến lược thần tốc rút ngắn thời gian giải phóng miền Nam từ 2 năm xuống còn 1 năm và cuối cùng là 5 tháng.

Là một lực lượng hợp thành, để tạo nên sức mạnh trùng hợp, Bộ đội Trường Sơn đã tổ chức được hệ thống chỉ huy tập trung thống nhất cao và sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng, các lực lượng trên toàn tuyến cũng như từng cung, từng trạm. Sự chỉ huy tập trung thống nhất cả về sử dụng lực lượng, phương tiện, trang bị, kế hoạch vận chuyển và chiến đấu chính là nhân tố quyết định trong việc tranh thủ kịp thời mọi cơ hội để dứt điểm, kịp thời tạo ra sức mạnh cần thiết ở khắp nơi những lúc cần thiết, giải quyết nhanh và có hiệu lực các vấn đề về chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, thực hành vận chuyển, đáp ứng kịp thời, đầy đủ yêu cầu thường xuyên cũng như yêu cầu đột xuất của các chiến trường. Sự hợp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, các binh chủng đều nhằm đến mục tiêu: tất cả để vận chuyển thắng lợi. Do đó, lọi lực lượng, mọi binh chủng, mọi đơn vị trên toàn tuyến cũng như trên từng cung vận chuyển, trên từng binh trạm, từng điểm giao thông đều chủ động, tích cực tìm mọi cách thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của mình theo tinh thần phía sau luôn vươn lên phía trước và tạo điều kiện cho phía trước hoàn thành nhiệm vụ. Sự hiệp đồng bảo đảm cho các đoàn xe xuất phát đúng lúc, luôn nâng cao tốc độ vận chuyển; các lực lượng công binh và giao thông bảo đảm cầu đường thông suốt, kịp thời theo yêu cầu của đoàn xe; các lực lượng phòng không bảo vệ có hiệu lực các mạng đường, cầu và mục tiêu vận chuyển; các lực lượng xếp đỡ ở kho hoạt động kịp và vượt nhịp độ của vận chuyển. Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Bộ dội Trường Sơn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, đảm bảo cơ động binh lực, vật chất 50 ngày đêm thần tốc, quyết thắng, giải phòng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây chính là sự vận dung thành công tư tưởng tiến công trong tổ chức bảo đảm, thực hành vận tải và chiến đấu bảovệ tuyến đường; sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân về tổ chức lực lượng, tập trung lực lượng, tập trung sức mạnh tiến công làm cho hiệu lực chiến đấu, hiệu quả vận chuyển tăng gấp bội để hoàn thành tốt nhiệm vụ riêng của từng bộ phận, từng lực lượng và nhiệm vụ chung của toàn tuyến.

Ngày nay, nếu đứng từ đỉnh cao thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để suy nghĩ và đánh giá một cách sâu sắc hơn thắng lợi và thành tích của Đường Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy ý nghĩa rộng lớn và nhất là những bài học kinh nghiệm quý báu của nó trên nhiều mặt.

Thứ nhất, Đường Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của con đường cách mạng Việt Nam; thắng lợi ở Đường Hồ Chí Minh là thắng lợi của con đường cách mạng Việt Nam, của tư tưởng chiến lược tiến công của cách mạng Việt Nam, của chiến lược quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam. Hoặc nói một cách khác, Đường Hồ Chí Minh là sự biểu hiện bằng hoạt động cụ thể mối quan hệ gắn bó giữa hai cuộc cách mạng của hai miền, giữa hai nhiệm vụ chiến lược trong một đường lối thống nhất của cách mạng Việt Nam, nối liền tiền tuyến lớn miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc, phản ánh vai trò quyết định nhất của miền Bắc XHCN đối với sự nghiệp cách mạng chủng của cả nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Với chân lý sáng ngời: “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, máu chảy ruột mềm », thì việc thiết lập tuyến đường vận tải chiến lược Hồ Chí Minh là một tất yếu khách quan, một biện pháp chiến lược không thể thiếu được trong chiến lược cách mạng và chiến lược quân sự chiến tranh nhân dân của dân tộc ta.
Thứ hai, thắng lợi ở Đường Hồ Chí Minh là thắng lợi của ý chí, quyết tâm, của tư tưởng chiến lược tiến công, của sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam đánh thắng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ quen ỷ vào sức mạnh của vũ khí-kỹ thuật. Trong “cuộc chiến tranh ngăn chặn” mà đế quốc Mỹ tiến hành lên Đường Hồ Chí Minh, dưới mặt đất, lục quân Mỹ và nguỵ đã thực hiện hàng vạn trận phục kích, tập kích, biệt kích, đổ bộ đường không, nống lấn, càn quét với các quy mô khác nhau hòng cắt đứt Đường Hồ Chí Minh. Trên không, Mỹ tập trung phần lớn lực lượng không quân đánh phá quyết liệt, với quy mô lớn nhất. Trung bình một ngày, Mỹ tiến hành 450 phi vụ máy bay chiến đấu và một tháng thực hiện 1000 phi vụ B.52 để đánh phá “đường mòn”. Những cuộc oanh tạc đó kéo dài liên tục 2.500 ngày, đêm. Mỹ còn dùng các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại nhất lúc bấy giờ để phục vụ cho ý đồ cắt đứt hoặc ngăn chặn hoạt động của Đường Hồ Chí Minh. Chúng đã trút xuống rừng Trường Sơn 71 triệu lít thuốc làm trụi lá cây; dùng máy bay ném vào trong mây những tinh thể muối I-ốt bạc để tạo nên mưa nhiều trên những đoạn đường hiểm trở; gieo vào trong mưa các chất a-xít để ăn mòn các thứ vũ khí bằng kim loại ; sử dụng các loại vũ khí, trang bị hiện đại nhất lúc đó như khí tài hồng ngoại, ca-mê-ra truyền hình, bom la-de và các loại khí tài điện tử: máy cảm ứng địa chấn, máy cảm ứng âm thanh ”cây nhiệt đới », ”máy ngửi hơi người” để phát hiện lưu lượng người và xe cộ vận chuyển. Nhưng ý chí « xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước», dù phải hy sinh, gian khổ tột cùng nhân dân ta cũng quyết tâm đánh thắng Mỹ, đã được Bộ đội Trường Sơn biến thành hành động, khắc phục mọi khó khăn, chủ động tiến công địch, hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Thứ ba, thắng lợi ở Đường Hồ Chí Minh là thắng lợi của sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo khoa học và nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân phù hợp với nhiệm vụ vận tải quân sự và điều kiện cụ thể của chiến trường. Quá trình hoạt động, Bộ đội Trường Sơn đã vận dụng thành công và phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân vào nhiệm vụ của một binh đoàn vận tải chiến lược. Điều này thể hiện trước hết ở việc xây dựng, phát triển lực lượng, xây dựng thế trận vận tải chiến lược. Thế trận đó đã phát huy cao hiệu lực của mọi lực lượng, phương tiện vận chuyển và chiến đấu, trụ vững và phát triển được trong mọi tình huống địch đánh phá ác liệt, cho phép nhận và giao hàng trực tiếp cho các chiến trường, càng đánh càng mạnh, càng thắng lớn. Dựa vào thế trận lợi hại đó, chúng ta đã tổ chức từng bước hình thành và phát triển thành một loại hình chiến dịch đặc biệt-chiến dịch vận tải quân sự binh chủng hợp thành từ Tập đoàn binh trạm, lên toàn tuyến đường. Đây là một loại hình chiến dịch trong đó có cả vận tải, có cả bảo vệ vận tải bằng đánh địch trên không, trên mặt đất, có cả bảo đảm giao thông đường thuỷ, đường bộ, đường ống với nhiều lực lượng tham gia như các binh đoàn xe cơ giới, nhiều đơn vị pháo cao xạ, công binh, bộ binh,… hiệp đồng chặt chẽ với nhau dưới sự chỉ đạo và chỉ huy tập trung thống nhất, trong một không gian rộng lớn, với khoảng thời gian nhất định và nhằm đạt mục tiêu rất quan trọng do chiến lược giao cho.

Thứ tư, thắng lợi của Đường Hồ Chí Minh còn là biểu hiện sáng ngời đường lối đoàn kết gắn bó thuỷ chung, liên minh chiến đấu của cách mạng Việt Nam, cách mạng Lào và cách mạng Cam-pu-chia chống kẻ thù chung, giành lại độc lập, tự do cho mỗi nước. Hệ thống đường phía tây Trường Sơn và nhiều kho hàng chiến lược, nhiều căn cứ kháng chiến, nhiều bệnh viện, trạm xưởng… được xây dựng trên đất bạn là để đáp ứng nhiệm vụ đó. Bộ đội Trường Sơn đã sát cánh cùng quân và dân các nước bạn chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, gây dựng và phát triển phong trào chiến tranh nhân dân, giúp đỡ nhân dân bạn sản xuất và bảo đảm đời sống. Đồng thời quân và dân Lào, quân và dân Cam-pu-chia cũng đã hết lòng giúp đỡ bộ đội Trường Sơn làm tất nhiệm vụ của mình.

Nhân kỷ niệm 30 nậm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta ôn lại mấy nét về tuyến đường vận tải chiến lược Hồ Chí Minh, một trong những biểu tượng của ý chí, quyết tâm dành Mỹ, đồng thời cũng là một trong, những thắng lợi có tính chất tiêu biểu của trí tuệ, tài thao lược biết thắng Mỹ của Đảng ta, quân đội và nhân dân ta. Thắng lợi của Đường Hồ Chí Minh và những bài học quý báu rút ra trên đây, mãi mãi là một tài sản vô giá, để quân và dân ta tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triến trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN hôm nay và mai sau.

Theo Đồng chi Đồng Sĩ Nguyên, Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, tạp chí Quốc phòng toàn dân tháng 4/2005

Báo điện tử ĐCSVN

Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo chiến lược sắc bén, huy động sức mạnh cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Đánh giá về sự kiện lịch sử trọng đại này, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trông qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Có được thắng lợi này, một trong những nguyên nhân, đồng thời cũng là một bài học sâu sắc nhất về sự lãnh đạo của Đảng, đó là Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo chiến lược sắc bén, huy động được sức mạnh của cả nước thực hiện quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có thể thấy sự chỉ đạo chiến lược sắc bén của Đảng và Hồ Chủ tịch thể hiện trên nhiều nội dung, trong đó nổi bật ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận rõ kẻ thù, đánh giá đúng tương quan lực lượng địch – ta, có chủ trương, quyết sách phù hợp với từng thời điểm lịch sử cụ thể, đánh bại địch từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Ngay từ trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954) về chấm dứt chiến tranh và lập lai hòa bình ở Đông Dương được ký kết, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (từ 15 đến l8-7- 1954), Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hòa bình ở Đông Dương và đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông Dương. Thực tiễn đã diễn ra đúng như vậy. Với đã tâm chiếm Đông Dương, đùng Đông Dương làm bàn đạp mở rộng chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ đã hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng ở miền Nam. Chỉ tính từ tháng 7-1955 đến tháng 2-1956, Mỹ – Diệm đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên. Giữa năm 1956, chúng tuyên bố từ chối Hiệp thương Tổng tuyển cừ theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ và công khai hô hào “lấp sông Bến Hải” để “Bắc tiến”. Những hoạt động của Mỹ ở miền Nam rước ta đã bộc lộ rõ dã tâm của chúng muốn biến miền Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ để chuẩn bị chiến tranh xâm lược mới nhằm đánh chiếm cả miền Bắc Việt Nam, đè bẹp phong trào giải phóng dân tộc và ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội (CNXH) – mà chúng gọi là “làn sóng đỏ” – ở khu vực Đông Nam Á.

Phân tích tình hình trên, nhận rõ kẻ thù, Hội nghị lần thứ 15 (năm l959) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) chỉ rõ: Mỹ, Diệm chẳng những là kẻ thù của nhân dân miền Nam đang bị chúng thống trị mà còn là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam, của nhân dân miền Bắc đã được giải phóng. Trong Diễn văn khai mạc Đại hội lần thứ III của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nhân dân ta từng chịu đau khổ vì bọn đế quốc và ngày nay còn bị bọn Mỹ – Diệm chia cắt đất nước, giày xéo miền Nam. Ngày nào mà chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ – Diệm thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon ngủ yên”. Cùng với việc sớm nhận điện rõ kẻ thù, nhất là âm mưu, thủ đoạn, chính sách cơ bản của chúng đối với nước ta, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn hết sức sáng suốt, dựa trên cơ sở quan điểm cách mạng, khoa học đánh giá đúng tương quan lực lượng địch – ta, từ đó có chủ trương, quyết sách phù hợp với từng thời điểm lịch sử cụ thể, đánh bại địch từng bước, tiến lên giành thắng lơi hoàn toàn.

Đồng chí Lê Duẩn – cố Tổng Bí thư của Đảng đã từng nói: “Thành bại của một cuộc cách mạng, nói cho cùng là do lực lượng so sánh quyết định. Trong chiến tranh, kẻ nào mạnh thì thắng, kẻ nào yếu thì thua. Song nói mạnh yếu là nói theo quan điểm cách mạng, quan điểm phát triển, là căn cứ vào sự đánh giá tổng hợp cả quân sự và chính trị, cả thế, lực và thời cơ, cả điều kiện khách quan và nghệ thuật lãnh đạo, là xem xét yêu cầu trong quá trình vận động, trong không gian và thời gian nhất định”. Đồng thời sự đánh giá so sánh tương quan lực lượng địch ta lai phải đặt trong bối cảnh quốc tế phức tạp khi đó. Thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1960), nếu chỉ so sánh đơn thuần về diện tích, dân số cũng như trình độ khoa học kỹ thuật, tiềm lực kinh tế, quân sự giữa ta và Mỹ rồi lấy đó làm cơ sở để đánh giá mạnh yếu thì sẽ hết sức sai lầm, phiến diện. Bởi lẽ khoảng cách đó của hai bên khá xa: về diện tích, nước ta chỉ bằng 1/20, dân số bằng 1/6, giá trị tổng sản lượng hằng năm (tính ở miền Bắc) chỉ bằng 1/1000 nước Mỹ. Song, với quan điểm xem xét khoa học, biện chứng và cách mạng, Đảng ta đã căn cứ vào tổng thể các yếu tố và khẳng định: Mỹ và tay sai có quân đông nhưng không có cơ sở chính trị sâu rộng và vững chắc, tuy quân sự chúng còn mạnh, nhưng chính trị của chúng lại rất yếu mà yếu nhất là ở nông thôn. Từ nhận định này, Đảng ta xác định: ”Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân». Với chủ trương đúng đắn đó, phong trào đồng khởi ở miền Nam Việt Nam đã nổ ra và nhanh chóng phát triển thành cao trào, khởi nghĩa từng phần và giành thắng lợi, đưa cách mạng miền Nam vượt qua thử thách sống còn, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Đây là sự mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước rất độc đáo, sáng tạo của Đảng ta.

Khi Mỹ tiến hành chiến tranh đặc biệt, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương chỉ đạo phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ của quần chúng ở nông thôn; phát triển nhanh các lực lượng quân sự và kết hợp đẩy mạnh đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; thực hiện đánh địch bằng hai chân (chính trị, vũ trang), ba mũi (chính trị, quân sự, binh vận), trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị). Chiến tranh nhân dân ở miền Nam từ đó từng bước phát triển đến đỉnh cao.

Từ 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, đã xuất hiện một số người biểu hiện tư tưởng «sợ Mỹ”, hoặc đánh giá quá cao về sức mạnh của đế quốc Mỹ, tỏ ra thiếu lòng tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Nhưng Đảng ta sáng suốt nhận định: Mỹ là một đội quân mạnh nhưng vào miền Nam không phải trong thế mạnh, mà trong thế yếu, thế bị động. Chỗ yếu cơ bản nhất của chúng vẫn là về chính trị. Còn về phía ta lúc này không chỉ đã mạnh về chính trị mà cả về quân sự. Đây là cơ sở để Đảng ta hạ quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12 của Đảng (12-1965) đã đề ra nhiệm vụ “Động viên lực lương cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào”. Ở miền Nam, Đảng ta đã chỉ đạo kiên quyết giữ vững thế chiến lược tiến công, đánh Mỹ, diệt ngụy, nhất là sau khi đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 càng đẩy chúng vào thế bị động. Ở miền Bắc, quân và dân ta đã đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, đặc biệt là trận “Điện Biên Phủ trên không”, kiên quyết bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH và chi viện tích cực cho tiền tuyến lớn miền Nam. Như vậy, so sánh lực lương giữa ta và địch phải xem xét cả quân sự và chính trị, cả số lượng và chất lượng, cả lực lượng và thế trận, cả ở chiến trường nước ta và tình hình chính trị nước Mỹ, cũng như tính năng động chủ quan trong điều hành chiến tranh của đôi bên. Thực tế đã chứng minh, quan điểm đánh giá so sánh lực lương của Đảng ta là hoàn toàn chính xác.

Sau Hiệp định Pa-ri (1-1973), quân Mỹ và chư hầu buộc phải rút khỏi miền Nam, cục diện chiến trường, so sánh lực lượng giữa ta và địch có sự thay đổi lớn. Vấn đề đặt ra lục này là liệu quân ngụy có thể thay thế quân Mỹ, quân chư hầu và liệu Mỹ có khả năng can thiệp trở lại không? Trước tình hình bọn ngụy tay sai được Mỹ tiếp sức tiến hành các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm lại nhiều vùng giải phóng của ta, Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết 21 (7-1973) chỉ đạo cách mạng miền Nam kiên quyết phản công, giữ vững vùng giải phóng, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ và đón thời cơ để tiến lên giành thắng lợi quyết định. Với chiến thắng Thượng Đức (7-1974), ta khẳng định, chủ lực ta hơn hẳn chủ lực ngụy. Đến chiến thắng Phước Long (1-1975), Đảng ta có cơ sở kết luận ít có khả năng Mỹ can thiệp trở lại và có can thiệp cũng không cứu vãn được tình hình. Tình thế phát triển mau lẹ, Đảng ta đã nhạy bén nắm bắt tình hình, đánh giá đúng sự so sánh lực lương địch – ta trong từng thời điểm cụ thể, kịp thời đề ra và điều chỉnh kế hoạch giải phóng miền Nam cho phù hợp, từ 2 năm theo xác định ban đầu rút xuống còn trong năm l975 và cuối cùng là trước mùa mưa, bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mở đầu là trận then chốt Buôn Ma Thuột và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giành thắng lợi hoàn toàn trong vòng chưa đầy hai tháng.

Thứ hai, trong chỉ đạo chiến lược, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết tốt quan hệ giữa nhiệm vụ cách mạng miền Bắc và miền Nam, tạo sức mạnh to lớn để đánh bại kẻ thù.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã tạo ra cơ sở vững chắc để nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Một trong những đặc điểm và là đặc điểm lớn nhất, bao trùm nhất sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là đất nước tạm chia làm hai miền, mỗi miền thực hiện một nhiệm vụ chiến lược riêng. Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN, còn miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Song giữa cách mạng miền Nam và cách mạng miền Bắc có mối quan hệ hữu cơ gắn bó chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau cùng thực hiện một mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhân dân Việt Nam, kể cả miền Bắc và miền Nam đều chung một kẻ thù, chung một mục tiêu là hoàn thành cách mạng dân tộc, đần chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất rước nhà, mở đường đưa cả nước tiến lên con đường XHCN; sự nghiệp cách mạng vẫn do một Đảng lãnh đạo và do nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam và các lực lương vũ trang nhân dân Việt Nam tiến hành. Bởi lẽ như Chủ tịch Hồ Chí Mirth nói: ”Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Người còn khẳng định: “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”, nên “31 triệu đồng bào hai miền Nam-Bắc là 31 triệu chiến sĩ diệt Mỹ”. Trong bối cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt, mỗi miền thực hiện một chiến lược cách mạng trong những điều kiện khác nhau, việc xác định vị trí và mối quan hệ giữa nhiệm vụ cách mạng hai miền là điều quan trọng nhưng cũng không đơn giản. Nếu không giải quyết tốt quan hệ này, khó có thể tạo sức mạnh to lớn để chiến thắng kẻ thù xâm lược hùng mạnh. Cho nên, đây cũng là một trong những thành công trong chỉ đạo chiến lược của Đảng ta.

Từ tháng 7-1954, Đảng ta đã xác định phải xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (8-1955), nhiệm vụ của hai miền được xác định rõ hơn: “Miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà; miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng đần tộc dân chủ nhân dân”.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960), vị trí của cách mạng mỗi miền được Đảng tiếp tục khẳng định: “Tiến hành cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà”. Còn “đồng bào ta ở miền Nam có nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng để giải phóng miền Nam”. Đồng thời cũng là “theo yêu cầu của cả nước, góp phần bảo vệ miền Bắc và tạo điều kiện thuận lơi cho miền Bắc xây dựng CNXH”. Thực tế đã chứng minh, sự gắn bó của cách mạng hai miền đã tạo sức mạnh vô địch trên toàn đất nước. Đường Hồ Chí Minh chẳng những là đường vận tải chiến lược mà còn là một căn cứ, một chiến trường, một biểu tượng nổi bật của ý chí Việt Nam “xẻ đọc Trường Sơn đi cứu nước”. Cùng với đẩy mạnh chiến tranh xâm lước ở miền Nam, Mỹ đã tăng cường đánh phá miền Bắc nhằm hủy diệt, bóp nghẹt miền Bắc, cô lập miền Nam. Mặc dù vậy, chúng không thể ngăn cản nổi sự chi viện của miền Bắc cho miền Naln. “Miền Bắc đã dốc vào chiến tranh giữ nước và cứu nước toàn bộ sức mạnh của chế độ XHCN và hoàn thành một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước”. Còn nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục đã thể hiện vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng trong cuộc chiến đấu kiên cường, dẻo dai, vượt qua mọi thử thách ác liệt, tạo ra sức mạnh mới như đồng khởi, vành đai diệt Mỹ, đánh địch bằng hai chân, ba mũi, ba vùng… xứng đáng là Thành đồng của Tổ quốc.

Thứ ba, giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời thực hiện đường lối đối ngoại mềm dẻo nhằm tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong bối cảnh quốc tế phức tạp, vừa có nhiều thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn, nhất là sự bất hòa, thậm chí có cả khuynh hướng thỏa hiệp vô nguyên tắc. Kẻ thù của chúng ta là một đế quốc có tiềm lực vật chất, vũ khí, kỹ thuật đứng hàng đầu thế giới. Chúng âm mưu xâm chiếm miền Nam tiến tới xâm chiến cả Việt Nam; đồng thời thực hiện chia rẽ Bắc – Nam, chia rẽ phe XHCN. Cuộc đọ sức giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ xâm lược trở thành “cuộc đụng đầu lịch sử”, cuộc đọ sức điển hình và vô cùng quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng. Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã luôn nêu cao tính độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của mình. Đường lối đó phản ánh đúng nguyện vọng và ý chí quyết tâm của nhân dân ta, dân tộc ta, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, con người Việt Nam và xu thế tiến bộ của nhân loại, tạo sự đoàn kết nhất trí, phát huy sức mạnh của cả dân tộc, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước XHCN anh em và sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ và thắng Mỹ. Do đó, một mặt chúng ta tập trung phát triển tiềm lực của chính mình, mặt khác thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới, mà trước hết là sự đồng tình ủng hộ và đoàn kết hiệp đồng chiến đấu của hai nước Lào và Cam-pu-chia, sự giúp đỡ quý báu của các nước XHCN, nhất là Liên Xô, Trung Quốc, Cu Ba… Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, sắc sảo, sáng tạo lớn. Từ 1956, Người đã viết trên báo Sự thật của Liên Xô: “Trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mỗi Đảng Cộng sản… và những vấn đề được đề ra cho đảng này hoặc đảng khác tuyệt thiên không phải là việc riêng của mỗi đảng mà có quan hệ thiết thân đến toàn bộ giai cấp vô sản quốc tế”. Với tầm nhìn chiến lược ấy, Người giải thích với bạn bè quốc tế rằng: “Việc dân tộc Việt Nam phải vạch ra những phương pháp và biện pháp riêng của lình để chống âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai hòng vĩnh viễn chia cắt đất nước cũng như để quá độ dần dần lên CNXH là điều thật lõ ràng, nhưng lúc này thì sự đoàn kết thực sự của phe XHCN và của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới đối với chúng tôi cũng cần thiết không kém gì hồi kháng chiến chống Pháp”.

Đến 1965, khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chỉ rõ: “Chúng ta cần nắm vững phương châm dựa vào sức mình là chính, nhưng đồng thời, chúng ta hết sức tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các nước XHCN, của các dân tộc Áá, Phi, Mỹ-La tinh và của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ”. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng rất coi trọng tăng cường đại đoàn kết dân tộc và xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân vững mạnh đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ, đứng vững trước mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và các “sóng gió” chính trị.

Đảng ta đặc biệt coi trọng độc lập, tự chủ trong xác định chủ trương, đường lối của mình, đồng thời cũng nhấn mạnh tăng cường đoàn kết quốc tế. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 (7-1973) đã khẳng định: “Nhờ thực hiện đoàn kết quốc tế đến mức cao nhất và giữ vững độc lập tự chủ trong đường lối, chủ trương, chính sách của mình, khi tình hình thế giới thuận lợi cũng như lúc khó khăn, phức tạp, chúng ta đã được các nước XHCN anh em, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào độc lập dân tộc và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ ủng hộ và giúp đỡ, trong đó sự giúp đỡ của các nước XHCN là cực kỳ quan trọng”. Để tăng cường đoàn kết quốc tế, Đảng ta chủ trương tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, tận dụng mọi nhân tố tích cực có thể tận dụng được, hoan nghênh mọi sáng kiến vì hòa bình, kiên quyết một cách có nguyên tắc, đồng thời khôn khéo, mềm dẻo, kiên trì thuyết phục nhằm hạn chế những nhân tố tiêu cực trong quan hệ quốc tế.

Độc lập, tự chủ gắn liền với sự sáng tạo trong việc định ra và chỉ đạo thực hiện đường lối của Đảng ta, đó cũng là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc toàn thắng quá trình đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta có cơ sở để phát huy cao độ tiềm lực của cả nước, thực hiện dại đoàn kết 54 dân tộc anh em trong một nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, khắc phục mọi khó khăn, thoát la khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế, thực hiện đường lối đổi mới, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ và toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng XHCN. Bên cạnh những cơ hội lớn, chúng ta phải đối mặt với những thách thức không nhỏ. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh đó, việc không ngừng củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định của mọi thắng lợi. Những bài học về chỉ đạo chiến lược đúng đắn và sắc bén của Đảng ta trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vừng chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Để làm tốt cả hai nhiệm vụ chiến lược này, nhất là trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có nỗ lực lất lớn. Phải giữ vững ổn định về chính trị, tăng cường xây dựng lực lương vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh và đối ngoại, tập trung nâng cao chất lương tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của các lực lương vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân… theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) của Đảng về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thành hình mới. Đồng thời phải tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội bằng cả nội lực và hợp tác quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng cùng có lợi, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ, xóa bỏ thành kiến, hòa hợp dân tộc, hướng tới tương lai, chủ động hội nhập kinh tế thế giới.

Sau 30 năm chiến thắng, ngày nay đất nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, v.v., làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế trong thời kỳ mới. Sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng cường, tạo điều kiện củng cố vững chắc độc lập dân tộc và bảo vệ chế độ XHCN. Quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy những thành quả cách mạng đã đạt được, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lơi đường lối đổi mới toàn diện, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đại hội Đảng lần thứ IX xác định và chuẩn bị tất mọi mặt cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng thành công rực rỡ.

Theo Đại tướng Phạm Văn Trà, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó bí thư đảng uỷ QSTƯ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Báo điện tử ĐCSVN

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara | 11 sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

“Chúng ta đã sai lầm, sai lầm một cách tồi tệ. Chúng ta nợ các thế hệ tương lai câu giải thích tại sao?” – đó là những lời thú nhận đã trở nên nổi tiếng của McNamara về cuộc chiến ở Việt Nam 9 năm trước đây. Tháng giêng năm ngoái, ông lặp tại nhận xét tương tự trong cuộc trả lời phỏng vấn báo Globe & Mai của Canada, nhưng lần này là về cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Iraq: “Chúng ta đang lạm dụng thế lực của chúng ta. Điều chúng ta đang làm là sai lầm. Sai lầm về đạo đức, sai lầm về chính trị, sai lầm về kinh tế”. Ở độ tuổi gần 90, ông McNamara dành thời gian để viết 3 cuốn sách và xuất hiện trong một bộ phim, nhằm nêu bật những sai lầm cơ bản, tránh cho nước Mỹ khỏi sa lầy trong một cuộc chiến tốn kém nhất nhưng lại ít hiệu quả nhất như cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Những sai lầm của Mỹ trong cuộc chiến tranh đó là gì?

1. Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ tịch địa chính trị của các đối thủ… và chúng ta đã phóng đại nhưng môi nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ.

2. Chúng ta xem xét nhân dân và lãnh đạo của miền Nam Việt Nam chỉ bằng trải nghiệm của chúng ta… Chúng ta đánh giá sai hoàn toàn những lực lượng chính trị trong đất nước đó.

3. Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của tinh thần dân tộc có thể huy động nhân dân đấu tranh và hy sinh vì đức tin và giá trị của họ.

4. Cách nhìn nhận của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự dốt nát sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hoá và chính trị của nhân dân Việt Nam, cũng như về nhân cách và tập quán của các nhà lãnh đạo của họ.

5. Chúng ta đã thất bại khi đó (và từ đó đến nay) trong việc nhận ra những hạn chế của khí tài, lực lượng và học thuyết quân sự công nghệ cao, hiện đại… Chúng ta cũng thất bại, trong việc điều chỉnh chiến thuật quân sự của chúng ta cho phù hợp với nhiệm vụ thu phục nhân tâm của người dân thuộc một nền văn hoá hoàn toàn khác biệt.

6. Chúng ta đã thất bại trong việc lôi kéo Quốc hội và nhân dân Mỹ vào cuộc thảo luận toàn diện và cởi mở, tranh luận những điều nên và không nên xung quanh việc đưa quân đội tham chiến trên diện rộng… trước khi chúng ta lên kế hoạch hành động.

7. Sau khi sự việc diễn ra và những sự kiện không như dự đoán khiến chúng ta đi chệch đường lối đã hoạch định thì chúng ta đã không giải thích đầy đủ những điều đang diễn ra và tại sao chúng ta lại phải làm như đã làm.

8. Chúng ta không chịu thừa nhận rằng kể cả nhân dân lẫn lãnh đạo của chúng ta đều không thông suốt mọi sự. Đánh giá của chúng ta về cái gì là lợi ích tốt nhất của đất nước và dân tộc khác cần phải được đưa ra sát hạch thông qua bàn luận cởi mở tại những diễn đàn quốc tế. Chúng ta không được Thượng đế ban phát quyền nhào nặn mỗi dân tộc theo hình ảnh của chúng ta hay theo cách mà chúng ta lựa chọn.

9. Chúng ta không tuân thủ nguyên tắc về việc hành động quân sự của Mỹ chỉ nên được thực thi trong sự phối hợp với lực lượng đa quốc gia được cộng đồng quốc tế ủng hộ hoàn toàn (về thực chất, chứ không chỉ nhìn từ bên ngoài).

10. Chúng ta đã không chịu thừa nhận rằng trong các vấn đề quốc tế, cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống, có thể có những vấn đề không tìm được giải pháp tức thời… Đôi khi chúng ta phải sống trong một thế giới không hoàn hảo, không ngăn nắp.

11. Những sai sót căn bản trên khiến chúng ta chúng tổ chức được bộ máy chóp bu của chính quyền hành pháp trong việc xử lý hữu hiệu tổng thể những vấn đề chính trị và quân sự bất thường.

Theo Thế Hưng, báo Lao động ngày 18/4/2005

Báo điện tử ĐCSVN

Thành ủy Sài Gòn – Gia Định lãnh đạo lực lượng vũ trang và nhân dân tham gia tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975

“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử của dân tộc như một trong những chiến công chói lọi nhất, một biểu trưng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là thành quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trước hết và cơ bản nhất là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với đường lối chính trị, quân sự, ngoại giao đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Đường lối ấy được Đảng bộ Sài Gòn – Gia Định quán triệt và vận dụng một cách linh hoạt, hiệu quả trong quá trình lãnh đạo quân, dân địa phương tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, chấp hành sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, Thành ủy Sài Gòn – Gia Định đã phân tích chính xác tình hình, kịp thời đề ra chủ trương, biện pháp và tổ chức lãnh đạo nhân dân cùng lực lượng vũ trang làm nên thắng lợi trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, giải phóng hoàn toàn Sài Gòn.

1. Sau Hiệp định Giơnevơ, Sài Gòn – Chợ Lớn là thủ đô của ngụy quyền, nơi tập trung các cơ quan đầu não của chế độ bù nhìn tay sai với một hệ thống chính trị, quân sự dày đặc.

Đối với ta, Sài Gòn không chỉ giữ vị trí chiến lược trong phong trào đấu tranh đô thị toàn miền Nam mà còn là địa bàn hoạt động sôi nổi, liên tục của các lực lượng cách mạng qua các giai đoạn lịch sử. Sự phối hợp các tầng lớp, giai cấp trong cuộc đấu tranh của nhân dân Sài Gòn – Gia Định có hình thái khá đặc biệt, kết hợp bí mật, công khai và bán công khai; hợp pháp và bán hợp pháp đã tạo nên sức mạnh tổng hợp độc đáo. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Sài Gòn – Gia Định, công tác binh vận đã được chỉ đạo phát huy sức mạnh tiến công trong đánh phá bình định nông thôn và trong phong trào đô thị; có khả năng tranh thủ, lôi kéo binh lính, nhân viên ngụy quyền, các phe phái chống Mỹ, ngụy nhằm cô lập kẻ thù chính, mở rộng mặt trận đoàn kết với các lực lượng tiến bộ trên thế giới; xây dựng và nắm chắc lực lượng nội tuyến trong lòng địch, phát huy cao độ phong trào nổi dậy của quần chúng nhân dân.

Từ cuối năm 1974, thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 – 1976, về công tác đô thị miền Nam trong tình hình mới và chủ trương của Trung ương Cục về việc mở đợt tiến công đều khắp nhằm làm chuyển biến cục diện trên toàn chiến trường,
Thành ủy Sài Gòn – Gia Định đã đề ra nhiệm vụ “Tập trung chống địch bình định, tiếp tục mở nhiều lõm giải phóng, chuyển lên tranh chấp ở nhiều mức độ khác nhau trên nhiều hướng, phá lỏng kềm ở vùng nông thôn quanh Sài Gòn, bung dân ra, giành quyền làm chủ, xây dựng bàn đạp đứng chân vững chắc cho các lực lượng vũ trang ven đô, tạo thế chuyển biến nhanh, chuẩn bị điều kiện cho tấn công nổi dậy giải phóng Sài Gòn khi thời cơ xuất hiện”.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, Thành ủy đề ra những chủ trương và biện pháp như đẩy mạnh công tác chính trị tư tưởng, chống ỷ lại, ngại khó, chần chờ, co thủ trong cán bộ đảng viên; triển khai công tác chuẩn bị đồng bộ ở cả ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận); củng cố lại tổ chức lãnh đạo các cấp. Thành ủy Sài Gòn – Gia Định đã lãnh đạo nhân dân và lực lượng vũ trang đẩy mạnh hoạt động tiến công địch trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, binh vận.

Các Trung đoàn Gia Định, Trung đoàn đặc công Rừng Sác, cùng lực lượng dân quân du kích, lực lượng biệt động phối hợp với bộ đội chủ lực Miền tiến công hàng loạt cứ điểm, giải phóng nhiều khu vực ở vùng trung tuyến, kéo sát đến ven đô, mở thêm nhiều lõm chính trị, tạo địa bàn đứng chân vững chắc cho lực lượng vũ trang, tạo ra một cục diện mới trên địa bàn Sài Gòn – Gia Định.

2. Mùa xuân năm 1975, quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc nhanh chóng nắm lấy thời cơ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam trong năm 1975, sau khi hoàn thành bước chuẩn bị chiến lược cả về thế và lực trên phạm vi cả nước, Bộ Tổng tư lệnh đã ra lệnh mở cuộc tổng tiến công chiến lược.

Ngày 29 tháng 3 năm 1975, Trung ương Cục miền Nam họp Hội nghị lần thứ 15 đề ra nhiệm vụ khẩn cấp: “động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tập trung cao nhất mọi sức mạnh tinh thần và lực lượng của mình, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp ba mũi giáp công, ba thứ quân, ba vùng chiến lược, vùng lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, nhanh chóng đánh sụp ngụy quân, ngụy quyền, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân; với khí thế tiến công quyết liệt, thần tốc, táo bạo và quyết giành toàn thắng, giải phóng xã mình, huyện mình, tỉnh mình và toàn miền Nam”.

Tiếp đó, ngày 8 tháng 4 năm 1975, tại Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Miền, Nghị quyết của Bộ Chính trị thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định (sau được mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh) được công bố.

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, ngày 12 tháng 4 năm 1975, Thành ủy Sài Gòn – Gia Định ra chỉ thị hướng dẫn những việc cần làm ngay trong các giai đoạn trước, trong và sau khi thành phố được giải phóng. Đồng thời, phát hành các tài liệu như: “lời kêu gọi của Ủy ban Nhân dân cách mạng Sài Gòn – Gia Định”, “Bảy điều về chính sách binh vận của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam”, “Mười chính sách đối với vùng giải phóng”, “Tài liệu hướng dẫn quần chúng hành động trước, trong và sau tổng công kích, tổng khởi nghĩa…”.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ, Thành ủy Sài Gòn – Gia Định chỉ đạo tổ chức lại lực lượng và hệ thống lãnh đạo các cấp. Từ căn cứ, Thành ủy chuyển dần về áp sát nội đô. Đảng bộ các quận, huyện, ban ngành được chỉ đạo thành lập Ủy ban khởi nghĩa và xây dựng kế hoạch tiến công nổi dậy ở từng khu vực, tất cả khẩn trương chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng với tinh thần “Một ngày bằng hai mươi năm”.

Ở nội thành và vùng ven, nhiều lõm chính trị với hàng vạn quần chúng; nhiều tổ chức bí mật, công khai, bán công khai; nhiều đội tuyên truyền xung phong với truyền đơn, áp phích được in sẵn; 12.000 lá cờ giải phóng được học sinh, sinh viên chuẩn bị; lực lượng biệt động thành… trong tư thế sẵn sàng chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn.

Lực lượng vũ trang Sài Gòn – Gia Định được Bộ Chỉ huy Miền tăng cường 6 trung đoàn đặc công, 1 lữ đoàn đặc công biệt động và 4 tiểu đoàn bộ binh tham gia chiến dịch, được bố trí các hướng với nhiệm vụ: đánh chiếm và làm chủ các cầu trên các trục đường vào thành phố để tạo điều kiện và hướng dẫn quân chủ lực trên các hướng tiến nhanh vào thành phố; cùng quần chúng nổi dậy đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu đã phân công, giữ vững các lõm và hành lang áp sát thành phố; phối hợp với các binh đoàn chủ lực đánh và chiếm giữ tất cả các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế trong thành phố.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bắt đầu từ ngày 26 tháng 4 năm 1975. Trên cơ sở nhiệm vụ đã được xác định, Thành ủy Sài Gòn – Gia Định lãnh đạo lực lượng vũ trang và nhân dân phối hợp với lực lượng của trên thực hành tổng tiến công và nổi dậy rộng khắp. Trên năm hướng về Sài Gòn, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với các binh đoàn chủ lực đánh và tiêu diệt các căn cứ quân sự của địch, bắt tù binh và tiến vào đánh chiếm các mục tiêu trong nội đô.

Những ngày cuối cùng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Thành ủy Sài Gòn – Gia Định đã phổ biến rộng rãi lời kêu gọi và chỉ thị của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng: “Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, với quyết tâm lớn nhất, hãy nhanh chóng đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh nhất của một quân đội trăm trận trăm thắng, đập tan mọi sự đề kháng của địch, kết hợp tiến công và nổi dậy, giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định…

Nêu cao truyền thống quyết chiến, quyết thắng và bản chất quân đội ta, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại”. Để tạo thêm điều kiện thuận lợi cho cuộc tấn công thần tốc vào sào huyệt cuối cùng của kẻ thù, Thành ủy Sài Gòn – Gia Định đã huy động mọi lực lượng, mọi khả năng, kể cả việc tranh thủ một bộ phận lực lượng trong phong trào chính trị đô thị – lực lượng thứ ba vào nhiệm vụ để đánh sập hoàn toàn chế độ Sài Gòn.

Đêm 29-4-1975, ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, bốn mũi Binh vận chỉ đạo cơ sở treo cờ, phát loa gọi hàng đã làm tan rã 20 ngàn lính quân dịch; sĩ quan chỉ huy phó Trung tâm huấn luyện Quang Trung (cơ sở nội tuyến) đã trực tiếp đưa bộ đội ta đi tiếp quản toàn bộ căn cứ.

Sáng 30-4-1975, khi các binh đoàn chủ lực tiến sát ngoại ô thành phố, pháo binh của ta nã đạn xuống phi trường Tân Sơn Nhất, một bộ phận trong lực lượng phong trào chính trị đô thị đã nổi dậy hành động cách mạng. Các lực lượng bí mật, công khai chiến lược của ta có mặt tại Dinh Độc Lập và đã tiếp cận với Tổng thống Dương Văn Minh.

Cơ sở nội tuyến chiến lược của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng ngụy đã tác động Tư lệnh biệt khu thủ đô Lâm Văn Phát ra lệnh cho các đơn vị quân đội án binh bất động và thúc đẩy tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh ra tuyên bố đầu hàng. Những hành động trên đã góp phần hạn chế đổ máu, tạo thêm thuận lợi cho quân và dân tiến vào Sài Gòn.

Cùng với hoạt động của lực lượng vũ trang, nhân dân Sài Gòn – Gia Định nhất tề nổi dậy đánh chiếm các mục tiêu quan trọng. Ở ngoại thành, quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ tự nổi dậy giành chính quyền ở 90% ấp. 2/3 số xã nổi dậy giành chính quyền trước khi bộ đội tiến vào. Trong nội thành, nhân dân nổi dậy phá thế kềm kẹp, gỡ đồn bót, chiếm giữ tòa hành chính ở các quận, các công sở, các cơ sở kinh tế…

Công nhân, học sinh, sinh viên, trí thức xuống đường vận động nhân dân treo cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng, hỗ trợ truy quét bọn ác ôn còn lẩn núp trong thành phố, điều hòa giao thông, giữ ổn định trật tự thành phố ngay sau ngày Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng.

Thành công của Đảng bộ, nhân dân Sài Gòn – Gia Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nói chung, trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, sâu sát của Trung ương; là sự đóng góp sức người, sức của hết sức to lớn của cả nước.

Đó là, Thành ủy đã vận dụng một cách đúng đắn, linh hoạt đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà trực tiếp là Xứ ủy, Trung ương Cục miền Nam để hoạch định chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp tổ chức thực hiện cụ thể, sát hợp với vị trí và đặc điểm của đô thị; Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn – Gia Định đoàn kết một lòng vượt qua mọi hy sinh gian khổ, kiên cường chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng quê hương, đất nước; nhân dân và lực lượng vũ trang đã không ngừng sáng tạo và thực hiện thành công nghệ thuật đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và binh vận; tạo ra được một hậu phương tại chỗ, tổ chức và sử dụng có hiệu quả sự chi viện to lớn của đồng bào miền Nam, đồng bào cả nước cho cuộc kháng chiến.

3. Ba mươi năm qua, Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp nhân dân thành phố có bước trưởng thành trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Thành phố chúng ta đã tạo ra được những bước bứt phá về nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Với khoảng 6,6% dân số cả nước, thành phố Hồ Chí Minh bằng sức mạnh tổng hợp trên địa bàn, đã vượt lên hàng đầu về mức GDP bình quân tính theo đầu người, đóng góp tỷ trọng ngày càng lớn vào kinh tế cả nước, hơn 40% kim ngạch xuất khẩu, 1/3 tổng thu ngân sách quốc gia, gần 30% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% tổng sản phẩm trong nước… Thành phố sau 30 năm xây dựng đã từng bước thay da đổi thịt, bước đầu mang bộ mặt mới đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Là một trung tâm về nhiều mặt và có vị trí chính trị quan trọng của cả nước, kinh tế thành phố tăng trưởng liên tục ở tốc độ cao, có nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới; đồng thời cũng tạo ra nhiều mô hình trong việc thực hiện xã hội hóa các lĩnh vực hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội nhằm góp phần xây dựng những chủ trương đường lối phát triển đất nước. Những thành tựu đó bắt nguồn từ đường lối đổi mới của Đảng; sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Trung ương Đảng và Chính phủ; sự giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương, các địa phương trong cả nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho thành phố Hồ Chí Minh vững bước đi lên.

Quân và dân thành phố Sài Gòn – Gia Định tự hào góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của một dân tộc anh hùng.

(Trích tham luận của Thành ủy TPHCM do đồng chí Võ Văn Cương, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM trình bày)

Báo điện tử ĐCSVN

Chiến thắng 30-4-1975, chiến thắng của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

Toàn thắng 30-4 là kết quả của cả chặng đường dài chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ của mọi người Việt Nam yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mỗi mùa xuân đến, mọi người dân đất nước con Lạc cháu Hồng không thể nào không nhớ tới đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Đó không chỉ là sự hoài niệm về một thời đầy gian khổ, hy sinh nhưng cũng đầy chiến công vang dội của lớp lớp cha anh thưở trước, mà hơn thế, để chiêm nghiệm sâu hơn các nguồn sức mạnh của chúng ta.

Không thể tìm nguyên nhân chiến thắng 30-4 ở những nhân tố riêng biệt, cũng như không thể cắt nghĩa được tại sao Việt Nam đã đánh bại ý chí xâm lược của một cường quốc hàng đầu thế giới trong cuộc đương đầu kéo dài hơn 20 năm, nếu chỉ nhấn mạnh nhân tố này mà không chú ý tới nhân tố khác. Toàn thắng 30-4 là kết quả hợp thành của các nhân tố bên trong và bên ngoài – dân tộc và thời đại – có liên quan tới cuộc đụng đầu lịch sử giữa đế quốc Mỹ và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong cuộc đầu tranh đó, chúng ta lại một lần nữa đứng trước sự lựa chọn mang tính sống còn của vận mệnh dân tộc: giữa độc lập, tự do và nô lệ, giữa toàn vẹn lãnh thổ và chia cắt lâu dài.

Lần giở những trang sử thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đọc những con số, ngẫm nghĩ về sự kiện liên quan tới thời kỳ lịch sử này, càng thấm thía hơn những nhân tố làm nên sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Sức mạnh đó bắt nguồn từ lòng yêu nước, từ niềm tin son sắt vào Đảng Cộng sản Việt Nam, vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp chính nghĩa vì thống nhất Tổ quốc, độc lập dân tộc và CNXH. Lời người mẹ miền Nam dặn dò đứa con tập kết ra miền bắc sau ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết đã nói lên đều đó: “Con ra thưa với Cụ Hồ: Đất nước này chỉ một ngọn cờ vàng sao”.

Những năm sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, qua sự giật dây của đế quốc Mỹ, Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam, gây ra các vụ thảm sát man rợ như Hướng Đen, Phú Lợi, Vĩnh Trinh… Trong tháng ngày tháng đen tối đó, ở mỗi người dân miền Nam, niềm tin yêu Đảng, Bác Hồ càng trở nên sâu sắc. Tình cảm đó, niềm tin đó không những không một thế lực nào, không một thủ đoạn nào có thể xoá được, mà còn luôn luôn được bồi đắp, trở thành nhân tố cốt lõi, thành nền móng cho việc khởi phát Phong trào Đồng Khởi mùa Xuân 1960, đập tan từng mảng chính quyền ngụy Sài Gòn ở nhiều vùng nông thôn miền Nam rộng lớn. Cuộc Đồng Khởi đã làm thất bại một hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân kiểu mới mà đế quốc Mỹ thiết lập tại miền Nam Việt Nam, đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Thắng lợi của Phong trào Đồng Khởi trước hết là thắng lợi của sức mạnh toàn dân dưới ánh sáng đường lối cách mạng miền Nam của Đảng; thắng lợi của sức mạnh quật khởi được tạo nên từ lòng dân – ý Đảng. Phản ánh thắng lợi của Đồng Khởi, ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, tập hợp đông đảo lực lượng yêu nước, nặng lòng với dân tộc, không phân biệt giai tầng, địa vị xã hội, quá khứ, sắc tộc, tín ngưỡng… nhằm mục tiêu chung vì một miền Nam sạch bóng ngoại xâm, tiến tới hòa bình, hòa hợp dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Với Cương lĩnh đúng đắn, Chương trình hành động thiết thực, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo lực lượng yêu nước miền Nam, mặt trận nhanh chóng tập hợp các tổ chức chính trị, xã hội, đảng phái, tôn giáo như Hội Lao động giải phóng, Hội Liên hiệp sinh viên – học sinh, Hội các nhà giáo yêu nước, đảng Xã hội cấp tiến của những người trí thức yêu nước, đảng Dân chủ miền Nam của tư sản dân tộc… Đứng dưới ngọn cờ mặt trận còn có lực lượng của các tôn giáo như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao đài, Hòa hảo; các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, Khmer, Chăm, Hoa…

Sau Đồng Khởi và bắt đầu từ đó, phong trào đấu tranh yêu nước, phong trào cách mạng miền Nam ngoặt sang chặng đường mới chặng đường phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân, của chiến tranh nhân dân đánh bại các cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ xâm lược. Chiến thắng Ấp Bắc (2-1-1963) chứng tỏ sự trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng, khởi đầu cho phong trào ”thi đua Ấp Bắc” giết giặc và phá ấp chiến lược ở khắp các vùng nông thôn đồng bằng, rừng núi. Tại đô thị, phong trào Phật giáo bùng lên đòi quyền bình đẳng tôn giáo, gắn khẩu hiệu đạo pháp với dân tộc, tiến công mạnh vào nền tảng thống trị của chế độ Ngô Đình Diệm. Khí thế của phong trào cách mạng, phong trào đô thị buộc đế quốc Mỹ phải ”thay ngựa giữa dòng”, mong tạo thế ổn định về chính trị để đế quốc Mỹ đẩy mạnh nỗ lực chiến tranh, nhưng thực tế cho thấy, toan tính ấy của chúng chỉ là vô vọng. Phong trào đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận của ta ngày càng phát triển trên cả ba vùng chiến lược; khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng được củng cổ vững chắc. Đến cuối năm 1964, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đã kiểm soát dưới các hình thức và mức độ khác nhau gần 1/3 dân số toàn miền Nam; Ủy ban Trung ương Mặt trận bấy giờ trở thành Chính phủ Trung ương song song tồn tại với Chính phủ Sài Gòn… Trước tình hình đó, đế quốc Mỹ quyết định trực tiếp tham chiến bằng việc sử dụng ồ ạt sức mạnh của lục quân, hải quân Mỹ hòng nhanh chóng giành thắng lợi quyết định, buộc nhân dân ta phải khuất phục sức mạnh quân sự của đế quốc Mỹ. Trong bối cảnh đó, Hội nghị chính trị đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập ngày 27-3-1964 được xem như một ”Hội nghị Diên Hồng”, biểu thị ý chí, nghị lực và quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc Việt Nam trước âm mưu và hành động ”leo thang”, mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ ra cả hai miền Nam, bắc. ”Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” trở thành hành động của các tầng lớp nhân dân miền bắc. Khắp mọi địa phương đã dấy lên các phong trào thi đua ”vì miền Nam ruột thịt” như phong trào thanh niên ”ba sẵn sàng”, phụ nữ ”ba đảm đang”, nông dân ”tay cày tay súng”, công nhân “tay búa tay súng”, học sinh “làm nghìn việc tốt chống Mỹ, cứu nước”… thu hút đông đảo mọi tầng lớp, mọi thành phần, mọi lứa tuổi từ miền xuôi đến miền núi, từ thành thị tới nông thôn… Dưới khởi lửa đạn bom của máy bay, tàu chiến Mỹ, miền bắc không nao núng quyết tâm, vừa sản xuất vừa chiến đấu, vừa dồn sức chi viện mạnh mẽ, liên tục, ngày càng tăng cho tiền tuyến miền Nam. Tại miền Nam, quân và dân các địa phương, các chiến trường đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và binh vận trên khắp ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Nhằm đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà hướng chính là các đô thị trên toàn miền Nam. Cuộc tiến công táo bạo này khởi phát lúc nỗ lực chiến tranh của đế quốc Mỹ lên tới đỉnh cao nhất, lúc chiến trường, đặc biệt vùng ven các đô thị, hầu như ken dày các sắc lính cùng hệ thống đồn bốt dày đặc và bộ máy kìm kẹp, khống chế gắt gao các nẻo đường, các thôn ấp… đã gây cú sốc mạnh, làm choáng váng nước Mỹ, làm Oa-sinh-tơn bàng hoàng, sửng sốt. Chỉ riêng việc có trong tay gần 1 triệu 30 vạn quân, trong đó có hơn nửa triệu quân Mỹ, nhưng sau bao năm không ”tìm diệt” được chủ lực Quân giải phóng; việc nhiều sư đoàn, trung đoàn Quân giải phóng rời căn cứ, vượt qua bao làng mạc, suối sông dồn về ém sát vùng ven đô thị nhưng không có một người dân nào báo cáo cho chính quyền Sài Gòn biết, mặc dù đã qua bao năm đế quốc Mỹ đổ tiền, đổ của vào mong ”tranh thủ trái tim khối óc” của nông dân miền Nam… Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đã làm cho giới lãnh đạo cao cấp Mỹ chán ngán, nản lòng, phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền bắc, trút dần gánh nặng chiến tranh lên vai chính quyền và quân đội Sài Gòn, ngồi vào đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri.

Tiếp đó, những năm sau sự kiện Tất Mậu Thân, quân và dân ta anh dũng vượt qua bao thử thách, hy sinh, liên minh chiến đấu với cách mạng Lào và Cam-pu-chia, đánh thắng địch ở Đường 9 – Nam Lào, đông bắc Cam-pu-chia, ngã ba biên giới (năm 1971); tiến công mãnh liệt đập vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài kiên cố của địch ở Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; đập tan cuộc tập kích chiến lược bàng máy bay B.52 của Mỹ trên vùng trời Hà Nội, Hải Phòng (tháng 12-1972), buộc đối phương dù còn rất ngoan cố và rất hiếu chiến vẫn phải ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam…

Sau Hiệp định Pa-ri, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc đang chuyển biến mau lẹ, “một ngày bằng hai mươi năm”. Chớp thời cơ chiến lược, Bộ Chính trị Trung ương Đảng hạ quyết tâm động viên sức mạnh cao nhất của cả nước, kiên quyết giải phóng hoàn toàn miền Nam.

11 giờ 30 phút trưa 30-4-1975, lá cờ cách mạng phấp phới tung bay trên cột cờ cao nhất dinh Độc Lập, báo hiệu Chiến dịch lịch sử mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu toàn thắng, sự nghiệp giải phóng miền Nam toàn thắng! Một lần nữa, sức mạnh Việt Nam – sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc lại đã ngời sáng khi một Sài Gòn được tiếp quản hầu như nguyên vẹn, không hề diễn ra một biểu hiện trả thù hay một cuộc “tắm máu” nào như kẻ thù vẫn thường rêu rao. Sài Gòn trưa 30-4 ngập tràn sắc đỏ của rừng cờ, rừng hoa mừng ngày vui đại thắng.

30 năm đã đi qua, kể từ mốc vàng chói lọi 30-4 năm 1975! Mỗi lần nhớ lại, càng thấm thía hơn và biết mấy tự hào về những tháng năm toàn dân tộc đoàn kết một lòng, dốc sức đánh giặc vì độc lập dân tộc, thống nhất non sông. Đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh to lớn và tiềm tàng của khối đại đoàn kết đó là truyền thống tốt đẹp, là nhân tố to lớn góp phần làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945, làm nên Chiến thắng 30-4 vĩ đại. Bài học phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc một thời trận mạc vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hôm nay.

Theo Thái Khánh 
Báo Nhân dân cuối tuần, ngày 17/4/2005

Báo điện tử ĐCSVN

Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

1. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhân tố quyết định hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Đảng ta nhận rõ sứ mạng, trọng trách lịch sử của mình trước giai cấp, trước dân tộc và phong trào cách mạng thế giới, đã ra sức xây dựng mình vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, theo đúng nguyên lý xây dựng đảng mácxít-lêninnít. Do vậy, đã đáp ứng ngày càng đầy đủ những yêu cầu rất khắt khe về sức mạnh tiền phong chiến đấu của một đảng giữ vai trò quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc ta. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nhhĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kịp thời đưa ra đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đồng thời kiên quyết chỉ đạo thực hiện bằng được mục tiêu, con đường, nhiệm vụ cách mạng đặt ra.

Đảng ta đã đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, hiểu rõ những thuận lợi cơ bản cùng những khó khăn của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến vĩ đại để định rõ bước đi, đánh bại kẻ thù rất mạnh và vô cùng xảo quyệt. Trong cuộc đọ sức với đế quốc Mỹ, Đảng ta là Bộ tham mưu của giai cấp, của dân tộc, lãnh đạo toàn dân và toàn quân tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh trên mọi trận tuyến.

Đảng ta coi trọng nguyên tắc “Tập trung dân chủ” và vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên tắc đó trong điều kiện chiến tranh. Trong quá trình cuộc kháng chiến đầy biến động, toàn Đảng từ Trung ương đến chi bộ, dù ở miền Nam hay miền Bắc, là một khối thống nhất vững chắc, toàn Đảng một ý chí, một quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. BCHTW Đảng, Bộ Chính trị đã đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời, đúng thời cơ, tạo nên những chuyển biến căn bản, đưa cuộc kháng chiến giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi hoàn toàn.

2. Nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, một lòng đi theo Đảng, đi theo Bác Hồ, chiến đấu dũng cảm ngoan cường, bền bỉ, lao động quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì quyền sống của con người.

Đó là thắng lợi của cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, ngoan cường, bền bỉ và anh dũng; thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ của nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân ta trong cả nước, của hàng chục triệu đồng bào yêu nước trên tuyến đầu Tổ quốc đã nêu cao tấm gương kiên cường, bất khuất. Người trước ngã, người sau tiến lên đạp bằng mọi chông gai thử thách, quyết tìm Mỹ mà đánh, tìm nguỵ mà diệt. Đồng bào, chiến sĩ miền Bắc luôn hướng về miền Nam ruột thịt, động viên con em lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, lao động quên mình, tạo ra cơ sở vật chất xây dựng CNXH, thực sự là hậu phương lớn chi viện toàn diện, liên tục cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Đồng thời trực tiếp đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của địch, bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN.

Các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã phát huy truyền thống quyết chiến, quyết thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã không ngại gian khổ, không sợ hy sinh, mưu trí sáng tạo, dũng cảm chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

3. Cả nước đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, trên dưới một lòng, triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đứng trước những khó khăn thử thách, truyền thống quý báu đó càng được phát huy cao độ. Trong Đảng, đoàn kết thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng đã tạo nên sức mạnh lãnh đạo cách mạng nâng cao lòng tin của toàn dân với Đảng và trở thành động lực xây dựng khối đoàn kết toàn dân. Nhân dân ta đoàn kết trong chiến đấu, lao động sản xuất, khắc phục khó khăn, thiếu thốn, thống nhất về chính trị, về nhận thức và hành động, trên cơ sở tình cảm giai cấp, tình đồng chí, nghĩa đồng bào.

Điểm nổi bật về sự đoàn kết thống nhất là tình đoàn kết Bắc – Nam. Mỹ – nguỵ tìm trăm phương ngàn kế chia rẽ Bắc – Nam hòng cô lập cách mạng miền Nam, nhưng Bắc – Nam luôn là một nhà, là anh em ruột thịt. Cả miền Bắc ngày đêm hướng về miền Nam, dốc hết sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Cả miền Nam hướng về miền Bắc và Thủ đô Hà Nội với niềm tin lớn lao, chỗ dựa vững chắc cả về vật chất và tinh thần. Sự đoàn kết thống nhất giữa nhân dân với quân đội được tăng cường. Nhân dân sẵn sàng giúp đỡ bộ đội. Bộ đội chiến đấu quên mình vì dân tạo nên sự gắn bó máu thịt với nhân dân.

Sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã trở thành nhân tố quan trọng, sức mạnh to lớn, góp phần đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

4. Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh Mỹ và thắng Mỹ

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta ra sức tăng cường đoàn kết quốc tế, coi đó là một bộ phận hợp thành của đường lối chống Mỹ, cứu nước và đặt hoạt động đối ngoại, đấu tranh ngoại giao thành một mặt trận có tầm quan trọng chiến lược, góp phần tạo nên sự vượt trội về thế và lực của nhân dân ta; tạo nên một mặt trận rộng lớn của nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Trong đó, các nước XHCN và phong trào cộng sản quốc tế là nòng cốt, đặc biệt sự giúp đỡ to lớn có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc, tạo ra một tập hợp lực lượng mạnh mẽ bao vây cô lập và tiến công đế quốc Mỹ từ mọi phía.

5. Đoàn kết, liên minh chiến đấu với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia

Phát huy truyền thống láng giềng anh em gắn bó với nhau từ xa xưa, Đảng và nhân dân ta đã chủ động đoàn kết, liên minh chiến đấu với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia. Sự đoàn kết liên minh đó được thể hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, lợi ích của mỗi nước, cùng nhau đoàn kết chống kẻ thù chung, bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia cho cả ba dân tộc; thể hiện sự hiệp đồng chiến đấu của quân đội ta với quân đội Lào, Campuchia, cho nên đã tạo ra thế chiến lược tiến công chung cho cả 3 nước, đánh bại từng kế hoạch, từng biện pháp chiến lược lớn của địch trên toàn Đông Dương, giải phóng ba nước trong cùng một thời gian tương đối gần nhau (Campuchia: 17/4/1975; Việt Nam: 30/4/1975; Lào: 2/12/1975), mở đường cho từng nước bước vào giai đoạn lịch sử mới.

(Trích Đề cương tuyên truyền của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương)

Đại thắng mùa xuân 1975, ý nghĩa đối với công tác giáo dục chính trị tư tưởng hiện nay

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng mùa Xuân 1975. Thắng lợi đó đã đi vào lịch sử dân tộc, làm ngời sáng hơn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; minh chứng sống động khí phách, trí tuệ, bản lĩnh và sức mạnh Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong Đại thắng mùa Xuân 1975, trước hết biểu hiện ở đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo, kết tinh, tổng hợp và phát triển lên một trình độ mới những truyền thống cách mạng và sáng tạo của Đảng, của dân tộc, là biểu hiện ý chí độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, của sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng.

Dân tộc ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, chống ngoại xâm kiên cường, dũng cảm. Mỗi khi đất nước gặp hoa ngoại xâm, truyền thống đó được phát huy mạnh mẽ, mà điển hình là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là sức mạnh to lớn của quân dân hai miền Nam-Bắc, cả tiền tuyến và hậu phương, của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thể hiện trong Đại thắng mùa Xuân 1975 là sự phát triển cao của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, có giá trị thực tiễn và ý nghĩa sâu sắc trong công tác giáo dục chính trị hiện nay.

Hơn bao giờ hết, tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cho cán bộ, chiến sĩ, sẽ góp phần củng cố trận địa tư tưởng, tạo ra động lực chính trị – tinh thần bên trong – yếu tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân đội.

Trước hết, phải coi trọng giáo dục chủ nghĩa yêu nước, truyền thống cách mạng, khơi dậy lòng tự hào, niềm tin vào tương lai và tiền đồ của dân tộc cho cán bộ, chiến sĩ. Bởi lẽ, ý thức về cội nguồn, quá khứ hào hùng của dân tộc luôn là một bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi con người Việt Nam. Giáo dục truyền thống, truyền thụ kinh nghiệm góp phần tô thắm nhân lên những trang sử hào hùng của dân tộc, chiến công to lớn của quân và dân cả nước, qua đó nâng cao nhận thức, khơi dậy niềm tự hào là công dân đất Việt, xây dựng niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy tinh thần yêu nước, tự lực, tự cường, nâng cao trách nhiệm trong xây dựng quân đội, củng cố nền quốc phòng toàn dân. Trong giáo dục phải sáng tạo về phương pháp, trên cơ sở những truyền thống, sự kiện lịch sử cần đi sâu nghiên cứu, giải quyết những vấn đề thực tiễn của đơn vị, của quân đội, tạo cho cán bộ, chiến sĩ ý thức tự lực, tự cường, chủ động, nhanh nhạy trước những diễn biến mới của tình hình, vận dụng sáng tạo quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Kiên quyết phê phán thái độ thờ ơ với vận mệnh của đất nước, chống lại những quan điểm thù địch, sai trái nhằm bôi đen, bóp méo lịch sử, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, ý nghĩa chiến thắng của dân tộc, chiến công của quân đội ta.

Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay đang đặt ra nhiều vấn đề mới trong công tác giáo dục, tuyên truyền nhằm bảo tồn và phát huy mạnh mẽ những giá trị của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Để làm tốt điều đó, chúng ta cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng, làm cơ sở cho việc xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu để giữ gìn và phát huy chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc kế thừa và phát huy chủ nghĩa yêu nước trong thời kỳ mới. Chủ nghĩa yêu nước chân chính chứa đựng trong nó những giá trị sâu sắc về lịch sử đất nước, con người Việt Nam, về truyền thống vẻ vang của dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước, chi phối mạnh mẽ hành vi ứng xử của mỗi người, tạo nên sự hòa quyện giữa ý chí và tình cảm trong mỗi cán bộ, chiến sĩ.

Thứ hai, không ngừng giáo dục nâng cao nhận thức, củng cố lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội cho cán bộ, chiến sĩ. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi của chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng phải làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc rằng, những thành quả chúng ta có được hôm nay, Đảng, nhân dân và quân đội ta đã phải đổi bằng biết bao xương máu mới giành được; độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, từ đó mà nâng cao ý thức trách nhiệm cho mọi người quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân.

Thứ ba, công tác giáo dục chính trị tư tưởng hiện nay phải làm cho nhân dân, quân đội nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Trong giai đoạn mới của cách mạng, chúng ta cần phải quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc” phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo thành sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải gắn với giáo dục chủ nghĩa quốc tế vô sản, phát huy bản chất tốt đẹp của giai cấp công nhân, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Tiếp tục phát huy chủ nghĩa yêu nước lên đỉnh cao mới trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vươn lên làm giàu chính đáng và đánh thắng kẻ thù xâm lược với tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi chủ thể, góp phần làm cho đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Phát huy ưu thế tuyệt đối về nhân tố chính trị tinh thần của chế độ mới để chủ động trong công tác giáo dục, tuyên truyền cổ động, từng bước xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Vận dụng nhiều hình thức giáo dục đa dạng, phương pháp chuyển tải các nội dung, giá trị chủ nghĩa yêu nước đến mọi đối tượng. Kết hợp trang bị nhận thức với phát triển tư duy lý luận, năng lực thực hành của cán bộ, chiến sĩ. Giáo dục kết hợp với tuyên truyền, cổ động tạo sự chuyển biến sâu sắc trong đời sống tinh thần của nhân dân và cán bộ, chiến sĩ, góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, xây dựng nếp sống văn hóa ngày càng lành mạnh như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ Đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược và nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (1).

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” (2). Đó là thắng lợi của chính nghĩa, của chủ nghĩa yêu nước chân chính, của văn hóa Việt Nam, và con người Việt Nam, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng hiện nay.

Thiếu tướng Mai Hồng Bỉnh

Báo điện tử ĐCSVN

Những bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

1. Kiên định quyết tâm quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược 

Quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược là quyết tâm lớn của Đảng, cũng là quyết tâm của toàn quân, toàn dân, của cả nước Việt nam. Đó là một quyết tâm vĩ đại được khẳng định từ đầu và luôn luôn kiên định trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Quyết tâm ấy được bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, ý thức làm chủ vận mệnh đất nước của người Việt Nam, được hun đúc từ ngàn đời nay. Mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy, dân tộc ta triệu người như một, sẵn sàng đứng lên chống giặc, cứu nước.

2. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ
Đại hội lần thứ IV của Đảng đã khẳng định: “Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống

Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta” ( *). Đường lối đó được thể hiện trong một loạt chủ trương mang tính hệ thống, kết hợp những vấn đề về nguyên tắc, chiến lược với những vấn đề về sách lược và phương pháp, hình thành một giải pháp tối ưu đưa cách mạng và kháng chiến tiến lên một cách vững chắc, từ giai đoạn mở đầu đến giai đoạn kết thúc. Nó tạo nên sức chiến đấu to lớn của cả nước, của toàn dân tộc, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ sâu rộng và mạnh mẽ nhất của thế giới trong điều kiện quốc tế rất phức tạp, bảo đảm cho quân và dân ta đánh thắng từng bước, tiến lên đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của chiến lược giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng XHCN ở miền Bắc, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ đó với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung: Hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên XHCN.

Đường lối đó chỉ ra phương hướng giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa chống đế quốc và phong kiến, giữa nhiệm vụ giải phóng đất nước với xây dựng đất nước, giữa cách mạng nước ta với cách mạng thế giới, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế.

Khi hạ quyết tâm chống Mỹ, giải phóng miền Nam, Đảng ta xác định dứt khoát, cách mạng XHCN ở miền Bắc đóng vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ tiến trình cách mạng nước ta; cách mạng miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tuy là hai nhưng trên thực tế đã quyện với nhau làm một, do một Đảng lãnh đạo, một nhân dân, một dân tộc, một quân đội tiến hành, tạo thành sức mạnh chung của cả nước, trong đó sức mạnh lớn nhất là ở miền Bắc, ở hậu phương.

Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của con đường cách mạng bạo lực được thực hiện bằng hai lực lượng cơ bản, lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; bằng hai hình thức đấu tranh cơ bản: Đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự kết hợp chặt chẽ với nhau. Trên cơ sở nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, biết đánh thắng từng bước, đẩy lùi địch từng bước, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

3. Nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân sáng tạo

Nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã được phát triển lên một trình độ cao, sáng tạo với những nội dung và hình thức đấu tranh cực kỳ phong phú, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh.

Đó là nghệ thuật động viên, tổ chức toàn dân, cả nước tiến hành chiến tranh với hai lực lượng quân sự và chính trị, hai hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa của quần chúng, tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trong đó đòn tiến công quân sự có ý nghĩa quyết định, làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ.

Đó là xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, một thế trận rất hiểm hóc, ngày càng hoàn chỉnh và vững chắc. Thế trận đó được xây dựng bằng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân trên ba vùng chiến lược ( đồng bằng, rừng núi và đô thị), kết hợp chặt chẽ để tiến công địch, tạo nên thế trận liên hoàn trên toàn miền Nam, nối liền với miền Bắc, cùng với hai nước anh em Lào và Campuchia dựng lên thế trận liên hoàn giữa 3 nước.

Đó là nghệ thuật tiến công kiên quyết, tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, kết hợp chặt chẽ ba mặt trận: đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao với hình thức phong phú đa dạng. Kết hợp chiến đấu với sản xuất và không ngừng ổn định đời sống nhân dân trong chiến tranh.

Nghệ thuật chiến tranh của ta đã biết mở đầu đúng, biết đánh lâu dài, giành thắng lợi từng bước, tạo những bước chuyển biến lớn của chiến tranh.

Điểm nổi bật là nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân phát triển đến mức cao ở cả hai miền, đồng thời hình thành và phát triển khá hoàn thiện một nghệ thuật đấu tranh chính trị đặc sắc, làm cho chính trị vừa là nền tảng cơ bản của cuộc chiến tranh nhân dân vừa là một phương thức tiến công địch trực diện có hiệu lực chiến lược cao trên chiến trường.

Nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân của ta là nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu địch mạnh, lấy ít đánh nhiều, lấy trang bị kỹ thuật ít hơn và kém hiện đại đánh thắng quân địch có trang bị kỹ thuật dồi dào và hiện đại hơn. Nó biểu thị một tư duy quân sự rất sáng tạo, tiêu biểu cho học thuyết chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

4. Tổ chức lực lượng cả nước đánh giặc

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác tổ chức đã được triển khai với quy mô rộng lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh nước ta. Đó là công tác xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, đó còn là hình thức và phương thức xây dựng các tổ chức Đảng, chính quyền, quần chúng ở cả hai miền Nam, Bắc; tổ chức hậu phương lớn, tổ chức các căn cứ kháng chiến tại chỗ ở miền Nam; tổ chức chiến trường…

Một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đường lối và nghệ thuật tổ chức xây dựng lực lượng là phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị để Đảng có đủ sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, xứng đáng là đội ngũ tiêu biểu cho trí tuệ cách mạng và khoa học của dân tộc và của thời đại, thực sự là lực lượng tiên phong của dân tộc, dìu dắt toàn dân trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ.

Đường lối và nghệ thuật tổ chức của Đảng đã tạo nên lực lượng cả nước đánh giặc lớn nhất trong lịch sử dân tộc ta. Chính lực lượng cả nước đánh giặc là cơ sở vững chắc của thế chiến lược tiến công ngày càng phát triển vững mạnh và sắc bén của chiến tranh nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp đủ sức đánh thắng lực lượng và bộ máy chiến tranh đồ sộ và hiện đại của đế quốc Mỹ.

5. Xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương kháng chiến vững chắc, phát huy vai trò của hậu phương lớn và hậu phương tại chỗ

Đảng ta sớm xác định miền Bắc là nền tảng cho lực lượng cách mạng cả nước, sớm định hướng xây dựng miền Bắc theo con đường XHCN. Đây là quyết định đúng đắn, là cơ sở đầu tiên cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng hậu phương lớn vững chắc của kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Xây dựng miền Bắc vững mạnh nhằm xây dựng thực lực cách mạng cho cả nước, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, tạo điều kiện để có thể chi viện lực lượng ngày càng lớn cho miền Nam và cùng miền Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Xây dựng miền Bắc tiến lên CNXH là xây dựng căn cứ địa cách mạng cho cả nước.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước miền Bắc vừa là căn cứ địa cách mạng của cả nước, vừa là hậu phương lớn của cuộc kháng chiến, vừa là tiền tuyến trực tiếp chiến đấu quyết liệt với không quân và hải quân Mỹ. Miền Bắc còn là nơi đặt các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy của Đảng và của Bộ Tổng tư lệnh, lãnh đạo toàn bộ cuộc cách mạng Việt Nam và điều hành chỉ huy chiến tranh trên cả hai miền Nam – Bắc.

Đảng ta còn chăm lo xây dựng và mở rộng những vùng căn cứ, vùng giải phóng ngay tại chiến trường làm hậu phương tại chỗ. Các vùng giải phóng, căn cứ hậu phương tại chỗ có thế liên hoàn trên cả 3 vùng chiến lược, nối liền với hậu phương lớn miền Bắc, cùng với căn cứ hậu phương của hai nước Lào, Campuchia dựa lưng vào nhau thành thế mạnh của chiến trường Đông Dương. Những căn cứ hậu phương tại chỗ là nơi đứng chân vững chắc của lực lượng chủ lực cơ động, nơi xuất phát để thực hiện những đòn đánh lớn trận quyết chiến, chiến lược.

Chú trọng xây dựng tuyến đường giao thông, vận chuyển chiến lược thông suốt, chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam cũng như đường vận chuyển chiến lược giữa Việt Nam, Lào, Campuchia. Tuyến vận tải 559 – đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh là biểu tượng ý chí và nghị lực lớn lao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

6. Phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia để cùng nhau đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

Phát huy truyền thống láng giềng anh em gắn bó về lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội, quốc phòng và cùng kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhân dân Việt Nam đã chủ động đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia chiến đấu, chiến thắng kẻ thù chung là đế quốc Mỹ.

Một mặt ta phải kiên trì, nhất quán quan điểm, nguyên tắc, đoàn kết với nhân dân hai nước, nhưng mặt khác phải biết lựa chọn những hình thức, nội dung phù hợp theo từng giai đoạn đối với từng lực lượng của từng nước khác nhau, phòng chống tư tưởng chủ quan, nóng vội, làm thay, áp đặt và tư tưởng nước lớn. Trên cơ sở đó, tạo ra thế chiến lược tiến công chung cho cả ba nước, đánh bại từng kế hoạch, từng biện pháp chiến lược lớn của địch trên toàn Đông Dương.

Đoàn kết, liên minh chiến đấu với Lào, Campuchia đã góp phần đem lại thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù chung của ba nước Đông Dương để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

7. Đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh của thời đại gắn với sức mạnh dân tộc

Đảng ta ra sức tăng cường đoàn kết quốc tế, phát huy tối đa sức mạnh của thời đại, coi đó là một bộ phận hợp thành của đường lối chống Mỹ, cứu nước và đặt hoạt động đối ngoại, đấu tranh ngoại giao thành một mặt trận có tầm quan trọng chiến lược góp phần tạo nên sự vượt trội về thế và lực của nhân dân ta để đánh thắng kẻ thù.
Dưới tác động của hoạt động đối ngoại và của chính cuộc kháng chiến của nhân dân ta, một mặt trận rộng lớn của nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược đã hình thành và phát triển. Đó là Liên Xô, Trung Quốc, hệ thống các nước XHCN, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân, phong trào cách mạng, lực lượng hoà bình, dân chủ, tiến bộ trên toàn thế giới, kể cả đông đảo nhân dân Mỹ yêu chuộng hoà bình và công lý.

8. Bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xét cho cùng, là thắng lợi của nhân tố con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phát triển ở một tầm cao mới. Bản sắc, văn hoá con người Việt Nam được tạo thành từ tố chất mới hoà quyện dân tộc và giai cấp, truyền thống và hiện đại, thừa kế gia sản vĩ đại của một dân tộc anh hùng, tiếp tục làm vẻ vang dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam lên ngang tầm của thời đại mới.

Đảng ta đặt trọng tâm trước hết vào việc xây dựng nhân tố chính trị tinh thần cho con người; xác định lập trường kiên quyết kháng chiến, quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Từ đó, động viên được ý chí chiến đấu, năng lực sáng tạo và nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân làm nên chiến thắng.

(Trích Đề cương tuyên truyền của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương)