Linh hoạt sử dụng phương pháp bắn pháo binh

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Đại đội 26, Tiểu đoàn 2 (Đoàn Pháo binh 75 Nam Bộ) nhận nhiệm vụ dùng hỏa lực bắn kiềm chế sân bay Biên Hòa nhằm hạn chế khả năng hoạt động, tiến tới làm tê liệt hoàn toàn sân bay địch, góp phần bảo đảm cho các đơn vị chủ lực của ta cơ động triển khai trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong điều kiện khó khăn, thời gian gấp, Đại đội 26 đã tập trung lực lượng, thực hiện tốt công tác chuẩn bị để bước vào chiến đấu thắng lợi.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm sân bay Biên Hòa. Ảnh tư liệu.

Tuy mọi mặt công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, nhưng đại đội chưa thể khai hỏa vì thông tin liên lạc giữa đài quan sát và trận địa vẫn chưa thông suốt. Mặc dù chưa bắt được liên lạc với đại đội trưởng ở đài quan sát luồn sâu, song chấp hành lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, ngày 14-4-1975, chỉ huy Đại đội 26 quyết định thay đổi phương pháp bắn từ có quan sát và sửa bắn (qua bắn thử) sang bắn không quan sát thấy (bắn hiệu lực ngay), chỉ bắn một thước tầm và hướng bắn hỏa lực tập trung. Mục tiêu bắn đầu tiên, với số đạn bắn 24 viên trên 3 khẩu, theo phương pháp gấp bắn, ngay loạt đạn đầu đã trúng mục tiêu. Sân bay Biên Hòa bị tê liệt, sau 10 phút, trực thăng vũ trang của địch trong sân bay mới cất cánh cùng với máy bay trinh sát, phản lực chiến đấu từ sân bay khác đến quần lượn, ném bom, bắn rốc két xuống khu vực xung quanh trận địa pháo của ta. Pháo binh của địch ở gần sân bay cũng bắn dồn dập nhiều giờ vào những nơi nghi ngờ ta đặt trận địa pháo. Nhờ ngụy trang kín đáo bằng các trận địa giả, khéo nghi binh, sử dụng phương pháp bắn linh hoạt, Đại đội 26 vẫn giữ được bí mật, an toàn.

Sau một ngày tạm ngừng bắn, ngày 16-4, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào 3 mục tiêu khác trong sân bay kéo dài suốt ngày, với 52 viên đạn làm cho sân bay của địch bị tê liệt trong nhiều giờ. Bị đánh phá mạnh, địch phản ứng quyết liệt. Chúng cho máy bay nhiều lần ném bom vào trận địa pháo của ta và các khu vực xung quanh. Để bảo vệ trận địa pháo, Bộ chỉ huy chiến dịch điều thêm các khẩu đội pháo phòng không và đại đội bộ binh tăng cường bảo vệ, điều một đại đội ĐKZ của Đoàn Pháo binh 75 về tham gia chế áp pháo binh địch, hỗ trợ cho Đại đội 26 hoàn thành nhiệm vụ “khóa chặt sân bay Biên Hòa”. Các ngày tiếp theo, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào các mục tiêu khác trong sân bay, làm cho sân bay Biên Hòa hoàn toàn bị tê liệt, gây thiệt hại nặng nề cho địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Xuân Vũ

qdnd.vn

Hiệp đồng chặt chẽ, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Sau hiệp định Pa-ri được ký kết ngày 27-1-1973, so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi căn bản, có lợi cho ta bất lợi cho địch. Nắm thời cơ, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta hạ quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong 2 năm 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, nhanh chóng làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường theo hướng có lợi cho ta, tích cực làm mọi công tác chuẩn bị, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt toàn bộ quân địch, từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Nếu thời cơ đến sớm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, đầu năm 1975, ta mở ba chiến dịch lớn là Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1975 đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự: Tạo ưu thế lực lượng, bảo đảm đánh địch trên thế mạnh; vận dụng sáng tạo cách đánh chiến dịch; phát huy sức mạnh các binh chủng, quân chủng trong tác chiến quy mô lớn và đặc biệt là kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhân dân. Sự kết hợp các đòn tiến công như vũ bão của các binh đoàn chủ lực với nổi dậy của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, kết hợp tiêu diệt địch với giành quyền làm chủ, tạo sức mạnh áp đảo, trong đó đòn tiến công quân sự của bộ đội chủ lực đi trước có tác dụng trực tiếp tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, quyết định thắng lợi trên chiến trường, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy. Ngược lại, sự nổi dậy của quần chúng có tác dụng căng kéo, phân tán địch, giành dân, giành đất, mở ra thế trận tiến công mới, làm cho LLVT ta tăng thêm sức mạnh, có điều kiện và thời cơ tiến lên đánh to, thắng lớn. Đó là sự vận dụng, phát triển sáng tạo việc kết hợp hai hình thức đấu tranh: Đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; hai phương thức tiến hành chiến tranh: Chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích.

Xe tăng Quân giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975.

Trong chiến dịch Tây Nguyên, phối hợp với đòn tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực, nhân dân và LLVT địa phương tiến hành các hoạt động tác chiến nghi binh, triển khai làm đường cơ động, phát động quần chúng nổi dậy diệt bắt ác ôn, truy lùng bọn tề điệp, giành chính quyền ở từng khu phố. Quần chúng nhân dân nổi dậy phá “ấp chiến lược”; vận động, làm tan rã địch, cùng Ủy ban Quân quản ổn định tình hình địa phương sau khi được giải phóng.

Chiến dịch Huế – Đà Nẵng thể hiện sự phát triển cao nghệ thuật kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, tiêu diệt và làm tan rã tập đoàn lớn quân địch, vừa giải phóng khu vực, vừa giải phóng thành phố, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Trên hướng Trị Thiên-Huế, đòn tiến công của Quân đoàn 2, trực tiếp là Sư đoàn 324 đã phá một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực Đường 14 phối hợp với nhân dân địa phương nổi dậy giành chính quyền, giải tán toàn bộ chính quyền ngụy Sài Gòn. Trên hướng Đường 12, Trung đoàn 6 và Trung đoàn 271 (Quân khu Trị Thiên) tiến qua sông Hương vào Huế; Trung đoàn 3 (Sư đoàn 324) từ phía nam phối hợp cùng với xe tăng phát triển tiến công vào nội đô, nhân dân ở quận 1, 2 nội thành Huế và quận Phú Vang nổi dậy đánh chiếm, treo cờ ở quận lỵ, tổ chức đón bộ đội, tự vệ nội thành chiếm giữ một số mục tiêu trong thành phố, du kích và nhân dân địa phương dẫn đường, truy lùng địch, giúp bộ đội qua sông, diệt tề điệp, ác ôn. Trên hướng Đà Nẵng, khi các đơn vị chủ lực Quân đoàn 2 phối hợp với LLVT Quân khu 5, nhanh chóng thọc sâu bỏ qua các mục tiêu vòng ngoài, tiến thẳng vào thành phố, đánh chiếm sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, thì LLVT địa phương và quần chúng cách mạng nổi dậy giải phóng Hội An và một số nơi khác. Trong thành phố, lực lượng du kích, tự vệ phối hợp tiến công khu nhà lao, bảo vệ các cơ sở sản xuất, kinh tế, văn hóa, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo đảm cho thành phố ổn định sinh hoạt bình thường ngay sau khi giải phóng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh có quy mô lực lượng lớn, cường độ tiến công, trình độ tác chiến hiệp đồng cao, đặc biệt là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các binh đoàn chủ lực với nhân dân và LLVT địa phương, giữa các cánh quân và các binh chủng hợp thành. Trong chiến dịch này kết hợp với các đòn tiến công áp đảo của các binh đoàn chủ lực, nhân dân thành phố dưới sự lãnh đạo của các cơ sở đảng, hỗ trợ của các đơn vị đặc công, biệt động, bộ đội địa phương thành phố, nhanh chóng nổi dậy giành chính quyền ở nhiều khu vực nội, ngoại thành, các huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức. Ở nội thành, quần chúng kết hợp với LLVT tại chỗ nổi dậy chiếm trụ sở một số khóm, phường của hầu hết các quận và 6 tòa hành chính quận, đến chiều 30-4-1975 cơ bản ta đã giành quyền làm chủ, kiểm soát tất cả các quận, huyện, phường, xã. Đòn nổi dậy của quần chúng trong chiến dịch Hồ Chí Minh với quy mô rộng lớn, hình thức phong phú đa dạng, kết hợp với tiến công quân sự, nòng cốt là các binh đoàn chủ lực, đã phản ánh quy luật của khởi nghĩa và đạt tới trình độ nghệ thuật phát triển cao của chiến tranh cách mạng.

Cuộc tiến công chiến lược năm 1975 kết thúc thắng lợi, đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của tất cả các thành phần, lực lượng của cả nước, trong đó sự kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, phát triển trở thành nét đặc sắc trong nghệ thuật toàn dân đánh giặc, giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bài học kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng trong cuộc tiến công chiến lược năm 1975 vẫn còn nguyên giá trị, đòi hỏi chúng ta tiếp tục nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với điều kiện mới, vận dụng sáng tạo vào xây dựng nền nghệ thuật quân sự hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại tá Đào Văn Đệ

qdnd.vn

Tận dụng thế, bảo đảm tốt hậu cần cho cơ động nhanh, giành thắng lợi lớn

QĐND Online – Sáng 30-4-1975, Tổng thống ngụy Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng trên Đài phát thanh Sài Gòn, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi. Để giành được thắng lợi to lớn đó, chúng ta đã huy động một lượng lớn lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật vượt trội so với kẻ thù, hạn chế các bất lợi trong điều kiện tác chiến ở chiến trường có “không gian rộng”, “thời gian ngắn”… Đóng góp vào chiến thắng lịch sử vẻ vang đó có một phần rất lớn của công tác bảo đảm hậu cần.

Thế mới trong công tác bảo đảm hậu cần

Sau chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung, ngày 25-3-1975 Bộ Chính trị chủ trương, “Tập trung nhanh nhất lực lượng (từ 12 sư đoàn trở lên), binh khí, kỹ thuật và vật chất giải quyết xong Sài Gòn – Gia Định trước mùa mưa”. Tiếp đó vào ngày 30-3 và 14-4, Bộ Chính trị đã chính thức hạ quyết tâm mở chiến dịch Hồ Chí Minh – chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn kết thúc chiến tranh.

Trong chiến dịch này ta chủ trương sử dụng lực lượng tiến công giải phóng Sài Gòn trên 5 hướng: Tây Bắc (hướng tiến công chủ yếu), hướng Bắc; hướng Đông Nam, hướng Đông, hướng Tây và Tây Nam. Lực lượng chủ lực gồm các Quân đoàn 1, 2, 3, 4; Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 8 và các đơn vị của các binh chủng, bộ đội địa phương của các tỉnh Bình Dương, Bình Phước cùng nhiều lực lượng khác được tăng cường phối thuộc hiệp đồng tác chiến. Do vậy nhu cầu bảo đảm vật chất hậu cần, kỹ thuật phục vụ chiến dịch  rất lớn, vừa phải bảo đảm cho quân ta chiến đấu tại chỗ, giữ vững các vùng giải phóng, vừa bảo đảm hành quân cơ động tác chiến trên khắp các chiến trường.

Trước tình hình đó, công tác hậu cần đã chủ động tận dụng “thế” chiến thắng của quân và dân ta; huy động tối đa nguồn nhân lực, vật lực hậu phương lớn miền Bắc, tập trung khai thác triệt để nguồn cung cấp hậu cần tại chỗ; hậu cần chiến lược và chiến dịch kết hợp chặt chẽ, thọc sâu, vươn xa, bảo đảm nhanh, đầy đủ và kịp thời để các lực lượng chủ lực tiến quân thần tốc, đập tan sào huyệt cuối cùng của chính quyền ngụy Sài Gòn.

Đoàn xe vận tải vượt Trường Sơn bảo đảm cho Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu.

“Mạng nhện” chiến lược

Để đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh, trước đó ta đã làm thêm hàng nghìn ki-lô-mét đường chiến lược, chiến dịch; kéo dài đường ống dẫn dầu vào miền Đông Nam Bộ. Mạng đường cơ động chiến lược, chiến dịch chằng chịt, đan xen được ví như mạng nhện bao vây, chia cắt quân ngụy và sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn.

Tuyến vận tải quân sự đông Trường Sơn được nhanh chóng xây dựng từ đường số 9 qua các khu vực hậu phương của Trị Thiên, Khu 5, Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ. Với nỗ lực phi thường, trong hai năm (1973 và 1974) chúng ta đã xây dựng thêm 3.480 km đường ô tô (lớn hơn tổng chiều dài đường giao thông xây dựng trong 13 năm trước đó), đưa chiều dài mạng đường vận tải chiến lược lên 16.790km, với sáu trục dọc ở cả đông và tây Trường Sơn. Để đưa bộ đội cơ động áp sát mục tiêu chiến dịch, ta đã chủ động mở thêm mạng đường chiến dịch (ước khoảng 4.000km) nối liền với đường chiến lược. Như vậy, tính đến thời điểm trước khi diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, ta đã có mạng đương cơ động chiến lược và chiến dịch trên 20.000km nối liền hậu phương với chiến trường.

Mạng đường vận tải chiến lược ngày càng hoàn chỉnh, các lực lượng vận tải đã chuyển sang hình thức vận chuyển lớn theo đội hình trung đoàn tập trung trên cung độ dài để nâng cao hiệu suất. Trước khi bắt đầu chiến dịch ta đã có khoảng 6.770 ô tô làm nhiệm vụ vận chuyển chiến lược vào chiến trường. Chỉ đơn cử, ngày 25-3-1975, Quân đoàn 1 nhận lệnh hành quân gấp từ Tam Điệp (Ninh Bình) và có mặt tại Dầu Tiếng (Tây Ninh) ngày 20-4. Ngày 5-4, Quân đoàn 2 nhận lệnh cơ động ở Đà Nẵng, vừa hành quân vừa chiến đấu đập tan tuyến phò

Đoàn 125 Hải quân chở bộ đội tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Ảnh tư liệu.

Để bảo đảm nhiên liệu cho các phương tiện tham gia chiến dịch, ta đã hoàn chỉnh một hệ thống đường ống dài 4.490km từ hậu phương miền Bắc đến các chiến trường miền Nam theo hai trục đông và tây Trường Sơn, gồm 250 trạm bơm đẩy và hút, 46 kho dự trữ với 270.000 m3 nhiên liệu. Theo thống kê, từ năm 1973 đến giữa năm 1975, bộ đội hậu cần đã vận chuyển vào các chiến trường hơn 303.000 tấn nhiên liệu (gấp 2-3 lần kết quả vận chuyển từ năm 1965 đến năm 1972), riêng mấy tháng đầu năm 1975 đã vận chuyển được 100.000 tấn xăng dầu vào chiến trường, đáp ứng kịp thời nhu cầu vận chuyển cơ động binh khí, kỹ thuật trên các hướng.

Tính đến khi bắt đầu chiến dịch Hồ Chí Minh, hậu cần chiến dịch đã tập trung lực lượng đưa vào miền Nam 115.000 quân và 90.000 tấn hàng, trong đó có 37 tấn vũ khí, 9.000 tấn xăng dầu. Riêng từ ngày 15 đến 26-4-1975, đã khai thác, vận chuyển được 24.000 tấn vũ khí, 25.000 tấn lương thực, thực phẩm, 1.000 tấn thuốc, tổ chức 5 trạm trung tu, 10 trạm sửa chữa pháo và xe tăng, phục vụ cơ động cho chiến dịch.

Tăng cường hậu cần tại chỗ

Song song với bảo đảm hậu cần chiến lược, ta chủ trương điều chỉnh bố trí các căn cứ hậu cần trong các vùng giải phóng trên các hướng chiến dịch. Quân khu Trị Thiên đã triển khai các căn cứ hậu cần trên hướng tiến công vào Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Quân khu 5 đã đã xây dựng căn cứ hậu cần phía sau của chiến trường, đồng thời triển khai các căn cứ hậu cần phía trước trên các hướng tiến công vào Quảng Nam – Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định và phát triển xuống Phú Yên và hướng lên Tây Nguyên.

Các quân khu thuộc B2 cùng các căn cứ hậu cần: Quân khu 6 trên hướng tiến công vào Phan Thiết, Hàm Tân. Quân Khu 7 trên hướng tiến quân vào ven đô và Sài Gòn, Mỹ Tho và lộ 4. Quân khu 9 trên hướng tiến quân vào đô thị, trọng điểm là Cần Thơ. Riêng ở chiến trường miền Đông Nam Bộ đã triển khai 8 căn cứ hậu cần liên hoàn (5 ở phía trước và 3 ở phía sau), hình thành thế trận hậu cần quanh Sài Gòn. Tính đến trước thời điểm diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, hậu cần đã dự trữ được khoảng 250.000 tấn hàng các loại, thành lập 15 bệnh viện dã chiến, 17 đội điều trị với trên 10.000 giường bệnh để phục vụ bộ đội chiến đấu. Hậu cần miền Nam đã huy động lực lượng vận chuyển hàng hóa, vũ khí vào các kho, trạm của chiến dịch và tập trung sửa chữa, mở đường, bắc cầu, ưu tiên cho những tuyến đường trọng yếu cho các binh đoàn chủ lực tiến công cơ động, nhanh chóng, kịp thời, tạo một thế trận hậu cần liên hoàn, rộng khắp, đáp ứng yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến dịch.

Ngày 22-4-1975, sau khi duyệt lại mọi mặt chuẩn bị, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khẳng định, thời cơ tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi và kết luận: “Ta đã hoàn thành việc tập trung lực lượng, tập trung khí tài kỹ thuật và các cơ sở vật chất khác đạt ưu thế áp đảo quân địch. Đã triển khai xong thế trận bao vây, chia cắt chiến dịch, cô lập Sài Gòn đến cao độ. Chiến dịch lịch sử này đã có những cơ sở đảm bảo chắc thắng”.

Như vậy, tính đến trước thời điểm diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, ta đã giải quyết tốt vấn đề chiến trường có “không gian rộng”, “thời gian ngắn”, “lượng vật chất lớn”. Có được kết quả ấy là do ta có “thế” mới trên nền “thế” cũ đã được chuẩn bị từ nhiều năm trước, kịp thời phát huy “lực” sẵn có, kết hợp chặt chẽ giữa tuyến hậu cần chiến dịch và hậu cần chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho quân chủ lực của ta bao vây, truy kích thần tốc, tiến tới giành thắng lợi nhanh chóng và trọn vẹn trong trận đánh cuối cùng, lập nên chiến công vĩ đại.

Mạnh Thắng

qdnd.vn

Mỗi xe thành một mũi tiến công

QĐND – Ngay sau thắng lợi trận mở màn Buôn Ma Thuột, Đại đội Xe tăng 5, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn Xe tăng 273) được giao nhiệm vụ phối thuộc với Trung đoàn Bộ binh 28 (Sư đoàn 10), bước vào chiến đấu tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 581 và trên Đường 21, đánh bại âm mưu phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột của địch ngày 15-3-1975.

Xe tăng thuộc Trung đoàn 273 đánh địch phản kích trong trận mở màn Buôn Ma Thuột. Ảnh tư liệu.

Đại đội Xe tăng 5 được biên chế 5 xe, tham gia chiến đấu trên hai hướng, quá trình chiến đấu mỗi hướng hình thành từ một đến hai mũi tiến công, mỗi mũi tiến công có một xe tăng. Trên hướng chủ yếu, đại đội sử dụng một trung đội (3 xe) cùng bộ binh tiến công điểm cao 581 từ phía tây bắc. Hướng thứ yếu sử dụng một trung đội (2 xe) tiến công địch trên Đường 21 từ khu vực ki-lô-mét số 9 đến cầu Ya Ích. Sau khi phát hiện từ ngày 11 đến ngày 14-3, địch liên tiếp dùng máy bay đổ quân xuống điểm cao 581 và các khu vực xung quanh. Đến 6 giờ 30 phút ngày 15-3, địch tiếp tục đưa thêm lực lượng đến tăng viện. Trước thủ đoạn của địch, đúng 7 giờ 30 phút, Đại đội Xe tăng 5 được lệnh xuất kích theo Đường 21, đến tuyến triển khai cách mục tiêu khoảng 500m thì dùng pháo bắn vào đội hình địch, sau đó xung phong lên đánh các mục tiêu theo nhiệm vụ.

Trên hướng chủ yếu, 3 xe tăng của trung đội hình thành hai mũi. Mũi thứ nhất gồm 2 xe tiến gần đến điểm cao thì bị địch bắn trả quyết liệt, buộc phải ra hiệu cho bộ binh xuống xe. Sau đó, một xe tăng tốc vượt lên dùng hỏa lực pháo, súng máy 12,7mm và trung liên chi viện cho bộ binh vòng sang hai bên xung phong lên chiếm điểm cao. Chiếc xe còn lại gặp chướng ngại vật phải dừng lại dùng hỏa lực chi viện. Mũi thứ 2 có một xe từ phía Bắc vòng về phía Đông đón đánh địch từ điểm cao chạy xuống và tiêu diệt địch ở các ấp 1, 2, 3. Trước sức tiến công của xe tăng và bộ binh, lực lượng địch còn lại vội rút khỏi điểm cao 581 chạy về phía Đông. Xe 983 dùng hỏa lực súng máy chi viện cho bộ binh truy kích địch. Đến 12 giờ, ta làm chủ hoàn toàn điểm cao 581. Trên hướng thứ yếu, hai xe tăng của trung đội tiến theo Đường 21, tiêu diệt chốt đầu tiên của địch ở ki-lô-mét 9, phát triển chiến đấu đến gần cầu Ya Ích thì bị địch dùng hỏa lực bắn mạnh vào đội hình làm một xe bị hư hỏng. Chiếc xe còn lại của trung đội tăng tốc vượt lên băng qua cầu, xông thẳng vào trận địa pháo và cùng bộ binh tiêu diệt toàn bộ quân địch, sau đó chốt giữ tại trận địa.

Trong trận đánh này, Đại đội Xe tăng 5 đã vận dụng sáng tạo nghệ thuật tiến công trong hành tiến, đánh đúng thời cơ, tiêu diệt địch nhanh gọn, ít tổn thất. Mỗi xe hình thành một mũi tiến công, chủ động hiệp đồng với bộ binh tiêu diệt địch trên các hướng và phối hợp chi viện cho nhau trong quá trình chiến đấu; kết hợp đột phá chính diện với tiến công bên sườn phía sau, táo bạo thọc sâu, chia cắt, cơ động hỏa lực linh hoạt; bảo đảm tốc độ chiến đấu nhanh, tiêu diệt gọn, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Vũ Xuân
qdnd.vn

Nhớ những ngày chặn địch ở Tây Nguyên

QĐND Online – Những ngày đầu tháng 3-1975, sau khi Buôn Mê Thuột thất thủ, địch cay cú hô hào tái chiếm, vì vậy, tối 13-3-1975, cánh lính chúng tôi thuộc Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66, Sư đoàn 10) nhận lệnh cắt hướng Phước An (thuộc tỉnh Đắk Lắk) đánh quân địch đổ bộ.

Chặng hành quân của chúng tôi toàn đi trên nương đồi, phía trước địch thả bom toạ độ, rồi từng chập pháo bắn rộ lên. Hai bên đường là những dải đen sẫm nên không thể nhận ra làng bản hay rừng cà phê. Một đồng đội đi sau đẩy vào lưng tôi: “Bám sát lên đi! Người đi trước lạc đường là kéo theo cả một đoàn quân đấy!”. Tang tảng sáng, đơn vị chúng tôi đến một cánh rừng thưa, cây cối lúp xúp. Có lệnh dừng lại, chúng tôi ngồi xuống mà hai mắt díp lại vì buồn ngủ. Bộ đội tản ra các ụ đá nhấp nhô tranh thủ ngủ lấy sức, còn bộ phận nuôi quân gạn nước từ các vũng lầy để nấu cơm.

Hoàng Kim Hậu (đứng thứ hai từ trái sang) chụp ảnh kỷ niệm trước khi vào chiến trường miền Nam (ảnh chụp tại Phú Bình, Thái Nguyên năm 1971)

Khoảng 19 giờ tối ngày 14-3, chúng tôi leo lên đường 14 phía bắc Buôn Mê Thuột. Đang hành quân chui luồn qua nương đồi, nay đi trên mặt đường nhựa rộng rãi, phẳng lì, ai nấy đều thấy thoải mái. Phía sau chúng tôi là Buôn Mê Thuột, ánh hoả mai và tiếng bom vẫn chưa dứt, hình như tất cả chiến tranh đang dồn vào thị xã…

Ðại đội 7 của chúng tôi dẫn đầu đội hình. Chúng tôi vừa đi, vừa nghỉ, cứ dừng lại ngồi xuống là ngủ gật. Quá nửa đêm, cơn buồn ngủ như không thể cưỡng lại. Gần nửa tháng hành quân liên miên, những ai ở trong hoàn cảnh này mới thấy sự kỳ diệu của con người: vừa đi, vừa ngủ, người sau gục vào ba lô người đi trước mà ngủ. Không hiểu chúng tôi ngủ kiểu gì, trong đầu thì mê đi mà chân vẫn bước lẹp kẹp theo đội hình. Gần sáng, có người kéo áo, tôi choàng tỉnh, chợt nhận ra anh Mão – Chính trị viên đại đội. Thì ra, đội hình Tiểu đoàn đang vượt qua một bãi lầy, bên phải đường là một khu ruộng cấy, có một con suối chảy ngang qua, bùn réo ùng ục dưới chân. Leo lên một vạt nương với những bụi chuối tối sẫm, anh Mão và tôi cố vượt lên đuổi theo đơn vị. Có tiếng hỏi của người chỉ huy:

-Này, còn Đại đội 8 đã vượt đường xong chưa?

-Báo cáo, còn hai trung đội nữa đang vượt qua bãi lầy.

-Khẩn trương dồn lên đi. Cần tổ chức cho bộ đội vượt nhanh trước khi trời sáng…

Tôi nhận ra Trung đoàn phó trực tiếp đi theo cánh quân của Tiểu đoàn chúng tôi (người mà đến nay, tôi vẫn chưa kịp nhớ tên). Khi trời sáng rõ, chợt có tiếng đại liên và súng cối nổ ngoài bãi lầy, bộ đội chen nhau vượt lên. Đại đội trưởng chạy ào đến:

– Báo cáo, trung đội 12,7mm của đại đội 8 chưa sang hết. Ðịch đang bắn vào đội hình của ta. Xin ý kiến thủ trưởng!

– Sao các anh ngốc thế – Giọng Trung đoàn phó gay gắt – Hoả lực trong tay, địch bắn vào đội hình mà không kịp làm gì à? Cho bắn 20 quả cối 82mm!

Một bức ký hoạ chiến trường của Hoàng Kim Hậu.

Một lúc sau, tiếng cối của ta đáp lại thật đanh thép, súng 12,7mm quét hàng băng dài qua bãi lầy, địch tán loạn chạy vào trong bản, cối 82mm dồn theo.

Nắng bắt đầu gắt, từ mờ sáng đến trưa, chúng tôi chưa hề gặp một con suối nào. Đất đỏ ba zan ở đây tơi xốp thật, chúng tôi hành quân trong một nương chuối và đu đủ chín rục trên cây. Thỉnh thoảng qua một vạt nương khoai lang, chỉ cần đạp nhẹ một cái là dây và củ bật ra. Quá trưa, ai nấy khát cháy cổ, các bi đông nước đã dốc ngược mà vẫn không thấy một khe suối nào để kiếm nước nấu cơm. Chúng tôi phải dùng dao găm đâm vào gốc chuối để có nước uống, một thứ nước vừa chát, vừa hôi. Không có nước nấu cơm, chúng tôi đành phải lấy chuối chín và đu đủ ăn cho lại sức để tiếp tục hành quân.

Khoảng 13 giờ ngày 15-3-1975, chúng tôi được lệnh tản ra các bụi chuối thay nhau cảnh giới và ngủ lấy sức. Bỗng có tiếng B40 nổ, tiếng đạn cực nhanh loạn xạ, các trung đội nhận lệnh chuẩn bị xuất kích. Súng nổ một chập rồi im lặng, có một toán tàn binh địch gặp đội hình thu dung của ta và xảy ra cuộc đọ súng.

Chiều ấy, chúng tôi tiếp tục hành quân, tối mịt mùng vẫn không ra khỏi khu vườn đu đủ. Vừa đói, vừa mệt, các đại đội chia nhỏ ra từng tổ, thay nhau gác và ngủ qua đêm. Mãi 9 giờ sáng hôm sau, chúng tôi mới ra khỏi vườn cây và tìm được một khe suối bên vạt rừng le lưa thưa, cả đơn vị dừng lại nấu cơm…

Sau hơn 1 tuần hành quân trong rừng, chúng tôi ra tới một sườn đồi, phía trước là một thung lũng rộng với những dông đồi thoai thoải. Con đường 21 uốn lượn bên những sườn đồi xanh mát mắt. Tiếng súng từng chập lại rộ lên, các đơn vị bạn đang chuyển quân rầm rập, xe tăng, xe thiết giáp lấp ló trong cánh rừng thưa. Bất giác, tôi chợt thấy lòng mình rạo rực…

Hoàng Kim Hậu
qdnd.vn

Những bài học chiến tranh (Kỳ cuối)

Chiến tranh ở Việt Nam đã lùi xa gần 35 năm, nhưng với những người lính Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam không thể nào quên được những gì mà họ đã gây ra cho đất nước và con người của mảnh đất hiền hòa, hiếu khách…

>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 1)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 2)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 3)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 4)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 5)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 6)

Kỳ cuối: Che đậy tội ác

Nếu như việc này xảy ra ở quê tôi hay là quê bạn thì chắc chắn nó đã bị xem là một vụ tàn sát những người vô tội. Nhưng khi nó xảy ra ở một làng quê Việt Nam thì người ta lại gọi đó là những “thiệt hại tất yếu”. Việc sử dụng cụm từ này sẽ giúp giảm thiểu được sự kinh khủng của nó, đó là việc gắn cho nó một cái tên với những từ ngữ hết sức bình thường, như một việc xảy ra thường nhật. Những từ ngữ như thế này đã làm hạn chế một cách rõ ràng nghĩa thực của sự việc.

Ngụy biện bằng ngôn ngữ

Chúng tôi cũng dùng một số cụm từ tương tự. Chẳng hạn cụm từ “Những viên đạn thân thiện” ám chỉ đạn bắn từ súng trường và súng máy, từ pháo, súng cối, hoặc đạn bắn từ máy bay, bom na pan, hoặc các loại bom từ chính lực lượng của chúng tôi nhắm vào chúng tôi. Chúng cũng nguy hiểm chẳng khác gì đạn bắn từ kẻ địch – thậm chí còn nguy hiểm hơn bởi vì nó được bắn với số lượng lớn và sức công phá mạnh. Bị chết do đồng đội bắn nhầm còn kinh khủng hơn là việc bị đối phương giết chết bởi vì những điều đó có thể tránh được. Nhưng đáng tiếc là nó vẫn thường xảy ra.

Tác giả John Merson trong một đợt hoạt động từ thiện tại tỉnh Quảng Trị. (Ảnh do tác giả cung cấp).

Tôi tình cờ có liên quan tới một lần tấn công nhầm giữa hai đại đội lính thủy đánh bộ từ phía hai bên bờ sông hẹp; cả hai đơn vị đều không biết đơn vị kia đang tiến quân trong khu vực đó, vì con sông là ranh giới giữa hai khu vực tuần tiễu. Một đơn vị khai hỏa khi thấy quân phía bên kia có động và bên kia cũng bắn trả. Ngay sau đó tất cả quân lính hai bên đều đồng loạt khai hoả, họ cho rằng họ đã bắt được một đơn vị chủ lực của quân địch ngay ban ngày. Chỉ đến khi cả hai cùng gọi pháo binh hỗ trợ thì mới phát hiện ra là bị nhầm. Các chỉ huy rất xấu hổ vì cả hai cùng bị nhầm lẫn và cả hai bên đều có người bị thương.Chúng tôi dùng cách nói “H và tôi đều bắn” để chỉ sự quấy rầy vào ban đêm mà đạn pháo phá đường giao thông do các đơn vị của chúng tôi bắn vào các vùng nông thôn bao quanh khu đồi hoặc các vị trí khác. Mục đích của việc bắn pháo này là để hạn chế việc di chuyển của địch trong đêm. Có lẽ nó đã không đạt được mục đích này bởi các đơn vị phía địch lại chính là những chuyên gia về pháo kích. Những người dân vô tội bị chết vì những đợt pháo này vì họ không biết làm thế nào để tránh nó. Một điều tương tự cũng giống như thế với cái được gọi là “khu vực bắn tự do”. Những khu vực này được lập nên để cho phép binh lính bắn vào bất kỳ một sự di chuyển nào trong. Vì dân làng có thể không biết sự tồn tại của những khu vực bắn tự do này nên họ lại chính là thành phần bị thương vong khi binh lính nhắm vào các mục tiêu di chuyển trong đêm và lập tức khai hỏa hoặc tấn công bằng lựu đạn. Những từ như bắn tự do có vẻ như một sự gợi ý cho các hành động tấn công mà không cần quan tâm đến hậu quả, như là cái cụm từ “bắn tự do” hoặc “Việc tấn công này sẽ không làm anh tổn thất gì cả”.

Chúng tôi thể hiện kiến thức và kinh nghiệm của mình bằng cách sử dụng càng nhiều cụm từ như thế càng tốt. Nó giống như là một bài thi SAT trong quân đội để phân hạng những người tham gia chiến tranh chỉ trong thời gian ngắn. Mỗi cụm từ mới mà chúng tôi có thể tìm ra và sử dụng một cách chính xác đưa đến cho chúng tôi một cảm giác là mình có thể làm chủ được thế giới xung quanh. Chúng tôi thu nhặt và sử dụng chúng một cách rất hồ hởi. Nhưng mỗi cụm từ mới chỉ là cách chúng tôi muốn tự tránh xa những gì đang xảy ra. Nói cho cùng, chúng tôi chỉ tự đánh lừa mình. Ngôn ngữ mà chúng tôi dùng có thể giúp chúng tôi che giấu ảnh hưởng từ những việc chúng tôi đang gây nên đối với chính bản thân mình.

Chôn lấp ký ức đau thương

Những người chưa từng đi lính sẽ không thể hiểu được sự khó khăn trong việc tìm ra lý do để giải thích về những sai lầm trong chiến tranh, và những người hiểu được việc này thì chỉ còn biết cách chôn vùi hình ảnh đau thương trong lòng họ.

Theo kinh nghiệm của riêng tôi, việc cố gắng chôn lấp những ký ức đau thương chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy nhược và dễ cáu giận. Những người may mắn thì sẽ nhận được hỗ trợ từ các liệu pháp chữa trị; những người không may mắn thì sẽ phải tự mình chiến đấu với dạng bệnh tật này. Tôi tự thấy mình may mắn vì đã nhận ra suy nghĩ về những sai lầm mà tôi cố gắng kìm giữ trong lòng vì thế tôi quyết định không thể tiếp tục chôn vùi những cảm giác đó được.

Tôi thấy mình đặc biệt may mắn vì tìm được người mà tôi tin là có thể giúp mình thoát khỏi những cảm giác đó. Nhà tâm lý học này dành cho tôi mỗi tuần một tiếng đồng hồ và việc này kéo dài trong vòng 5 năm; thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau tại văn phòng ông ấy, hoặc nói chuyện qua điện thoại khi tôi phải đi công tác xa. Ngay từ đầu ông ấy nói rằng tôi có thể nói bất cứ điều gì mà tôi suy nghĩ, và chúng tôi sẽ cùng bàn bạc về bất cứ điều gì mà tôi có thể nói ra. Mặc dù lúc đầu tôi không tin ông ấy nhưng dần dần tôi nhận ra rằng việc nói lên những suy nghĩ của mình làm cho tôi bớt sợ những suy nghĩ đó. Khi nhận ra điều này, tôi đã tìm được một công cụ có sức mạnh giúp tôi có thể cởi mở những trải nghiệm của riêng mình. Trong suốt thời gian sử dụng liệu pháp đó, tôi thấy mình thay đổi, từ một người lạnh lùng và thường không biểu lộ cảm xúc, một con người với những cơn thịnh nộ bất ngờ, trở thành một người biết biểu lộ nhiều hơn và ít nổi giận hơn. Tôi đi từ cảm giác giống như một quả lựu đạn – chỉ an toàn khi đã được chốt kíp nô – trở thành cảm giác như một quả bưởi: rất khó bóc, đắng hơn, nhưng cái ngọt ngào được giấu đi dưới những lớp vỏ dày.

Là một bệnh nhân điều trị bằng liệu pháp tâm lý, tôi phát hiện ra rằng phần còn lại của cuộc chiến chỉ đơn thuần là những lớp gần với mặt nổi của cuộc đời tôi nhất. Khi tôi đã biết cách khám phá được những cảm giác của mình một cách rộng mở hơn, tôi nhận thấy càng khó đấu tranh để chiến thắng những lớp suy nghĩ sâu hơn trong lòng.

John Merson

Những bài học chiến tranh (Kỳ 6)

Chiến tranh ở Việt Nam đã lùi xa gần 35 năm, nhưng với những người lính Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam không thể nào quên được những gì mà họ đã gây ra cho đất nước và con người của mảnh đất hiền hòa, hiếu khách…

>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 1)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 2)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 3)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 4)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 5)

Kỳ 6: Tìm kiếm sự tha thứ

Buổi sáng sau vụ thảm sát, chúng tôi được biết là trưởng làng đã tổ chức một cuộc biểu tình phản đối các chỉ huy quân đội Mỹ và yêu cầu binh lính của chúng tôi phải bị trừng phạt vì tội ác đó.

Tuy nhiên, chẳng có gì xảy ra sau đó cả. Đối với quân đội, những việc như thế này chỉ đơn thuần là sự thiệt hại đương nhiên.

Hậu quả của việc làm theo mệnh lệnh

Nhưng đối với tôi, đó là tất cả những trải nghiệm về chiến tranh. Tôi thấy may mắn vì bạn bè tôi không ai bị chết; nhưng cảm thấy thật khổ sở khi họ hết sức đau khổ về tội ác mà chúng tôi đã gây nên. Tôi cố suy luận rằng tôi chẳng liên quan tới cuộc thảm sát đó vì tôi chỉ nhìn từ phía trên đồi xuống, và có thể như vậy là không có tội. Tuy nhiên, tôi nhận thấy tôi cũng có trách nhiệm đối với tội ác đó, tôi cũng có trách nhiệm như những người đã trực tiếp bắn và ném lựu đạn. Tôi cũng có tội như những người khác, và tôi sẽ phải sống với lỗi lầm trong suốt quãng đời còn lại cho đến khi tôi có thể nhận thức một cách đầy đủ về nỗi đau mà tôi cảm thấy lúc đó.

Việc đốt nhà, đốt thùng chứa gạo và làng mạc của quân đội Mỹ một cách vô cớ đã làm John Merson và đồng đội thức tỉnh về mục đích của cuộc chiến tranh phi nghĩa do Mỹ, ngụy tạo ra. Ảnh: T.L.

Vụ thảm sát ở Đại Lộc là hậu quả của việc chỉ biết làm theo mệnh lệnh. Đó là một chuyện có thể đoán trước. Quy tắc chiến đấu của chúng tôi yêu cầu chúng tôi bắn bất cứ ai ra khỏi nhà vào ban đêm. Trên đường mòn, trên đường lớn, trên ruộng lúa, hay đơn giản chỉ là đi từ nhà này sang nhà khác trong làng – bất cứ ai ra khỏi nhà vào ban đêm đều bị xem là quân địch. Thế mới biết mạng sống của các nạn nhân bị xem nhẹ như thế nào? Bị xem nhẹ đến nỗi không cần phải điều tra xem thế nào. Nếu mạng sống của họ bị xem nhẹ như thế thì tôi có mặt trên mảnh đất này để làm gì? Nếu những mạng sống này không có ý nghĩa gì cả thì tôi đóng vai trò gì ở đây? Làm sao tôi hiểu được điều này? Mỗi ngày tuần tiễu và mỗi đêm phục kích trong những năm qua là từng bước nhỏ trên con đường tất yếu dẫn tới cuộc thảm sát này. Những hình ảnh về người bị thương, bị chết và các thây người chết nằm chất đống lên nhau đã vò nát suy nghĩ chúng tôi. Việc đốt nhà, đốt thùng chứa gạo và làng mạc đã dần dần đốt cháy suy nghĩ của chúng tôi về những người mà chúng tôi cần bảo vệ. Liệu tôi có thể làm gì để đền bù cho cuộc thảm sát này?

Nhằm tìm kiếm sự tha thứ, tôi quyết định sẽ cố gắng không tham gia vào việc giết người này thêm một lần nào nữa. Tôi bắt đầu thực hiện chương trình gìn giữ hòa bình của riêng tôi. Mỗi ngày tôi cùng một đội bốn người tình nguyện đi tuần tiễu về y tế. Chúng tôi đưa y tá của trung đội tới một ngôi làng gần đó để chữa bệnh cho người làng, phân phát thuốc men và thức ăn mà chúng tôi có thêm. Mỗi lần đi chúng tôi đều xin phép trưởng làng được quay về ngay trong đêm. Khi chúng tôi nhận được chỉ thị phải thiết lập một điểm phục kích ban đêm, tôi sẽ đưa đội của tôi trú luôn tại những ngôi nhà trong làng. Không ai trong đội chúng tôi nói với người khác về những gì chúng tôi đang làm. Theo như tôi biết, những gì chúng tôi làm là những việc hoàn toàn bí mật. Tôi đã trải qua những tháng ngày còn lại trong chiến tranh bằng cách như thế. Một tháng sau đó, tôi lên máy bay trở về nhà. Nhưng sự kinh hoàng về cuộc thảm sát vẫn còn ám ảnh trong tôi. Tại sao tôi lại ở đó? Những gì đã dẫn tôi đến một kết cục như thế? Tất cả những gì tôi muốn chỉ là để trở thành một người anh hùng.

“Tôi đã hiểu chiến tranh là như thế nào”

Ở trường ĐH, chúng tôi bàn luận về chiến tranh bằng những thuật ngữ về khoa học chính trị hơn là dùng những thuật ngữ về con người. Chúng tôi băn khoăn một việc là những chính sách được rút ra như thế nào. Những tiền lệ lịch sử của nó là gì? Chúng tôi đã học được giá trị của việc sử dụng tài liệu gốc như thư, nhật ký và những bài báo, trước đó chúng tôi hiếm khi suy nghĩ về những phần thuộc về con người của chiến tranh, bởi đó chỉ là phạm vi của thơ ca mà thôi. Tổng thống Kennedy đến thăm trường chúng tôi trong dịp khánh thành Thư viện Robert Frost chỉ một tháng trước khi ông bị ám sát. Chủ đề trong bài phát biểu của ông là mối quan hệ giữa thơ ca và quyền lực, vai trò của nghệ sĩ trong kiềm chế thực hiện quyền lực. Tuy nhiên, ông lại quá nhấn mạnh vào nghĩa vụ của những người có điều kiện học hành và phải trả lại bằng hình thức thực hiện các nghĩa vụ cho xã hội. Những ngôn từ trong bài Diễn văn Khánh thành của ông vẫn còn văng vẳng đâu đó trong tôi:

“Ngọn đuốc đã được trao cho một thế hệ mới, thắp lên bởi chiến tranh. . .”

“Chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào . . . để bảo vệ sự tồn tại và thắng lợi của tự do”.

“Sự thành công hay thất bại cuối cùng của sự nghiệp này nằm trong các bạn chứ không phải tôi”.

“Tiếng kèn lại vang lên kết nối chúng ta lại với nhau . . . một lời kêu gọi nhằm giải quyết một gánh nặng quốc gia”.

“Đừng hỏi tổ quốc sẽ làm gì cho ta. Hãy hỏi rằng ta có thể làm gì cho tổ quốc”.

 (Nguồn: Kênh truyền hình NBC, 21/1/1961)

Theo sau cuộc thảm sát ở Đại Lộc, chiến tranh không còn là một chuỗi ý tưởng nữa mà trở thành một thây ma trôi trên sông, thành lớp da chết bị bong tróc trong giày của tôi, của những người bạn đã chết, hay là cái chết đang hàng ngày rình rập chúng tôi. Làm thế nào tôi có thể hiểu được những ngôn từ ngợi ca chiến tranh và ý tưởng về những cái chết như thế này?

Cuộc thảm sát ở Đại Lộc đã dạy cho tôi biết một điều là tôi cần phải dựa vào suy nghĩ của chính mình về đúng sai chứ không nên chỉ dựa vào suy nghĩ của chính quyền của một đất nước, của một đơn vị, hoặc thậm chí là của tổng thống. Ở Đại Lộc tôi thấy rằng theo tiếng gọi của tổ quốc nhiều khi cũng có thể dẫn tôi tới việc gây ra những tội ác kinh khủng mà tôi không bao giờ dám làm. Việc đi tìm những phẩm chất anh hùng đã trở thành một vũ khí có khả năng phá hủy mọi thứ mà nó tượng trưng. Tôi trở nên nghi ngờ những tuyên bố đầy ý tưởng, đối với tội ác mà tôi có thể phạm phải. Tôi nghĩ thậm chí sẽ rõ ràng hơn nếu nói rằng chúng tôi sẵn sàng phá hủy những ngôi làng này, giết những người dân vô tội này, ngăn chặn việc thu hoạch mùa màng này, tất cả chỉ để chúng tôi đạt được những mục tiêu về quân sự. Điều này sẽ bóp chặt ảo ảnh về những gì mà tôi đang làm. Ở Đại Lộc, tôi đã hiểu được chiến tranh là như thế nào.

Kỳ cuối: Che đậy tội ác

John Merson

Những bài học chiến tranh (Kỳ 5)

Tính đến tháng 4 năm 1967, tôi đã chiến đấu trong trung đội bộ binh tại Việt Nam tròn một năm. Suốt ngày, chúng tôi tuần tiễu các vùng xung quanh Đại Lộc, một làng nhỏ nằm ở phía tây Đà Nẵng.

>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 1)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 2)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 3)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 4)

Kỳ 5: Thảm sát ở Đại Lộc

Ở Đại Lộc, chúng tôi tập trung ở một vị trí và biết khá rõ về làng mạc, địa hình đường sá trong làng. Chúng tôi lục soát tất cả các nhà để tìm vũ khí, thuốc nổ và nguồn cung cấp của quân địch. Thường thì chúng tôi đốt hết nhà cửa và giết hết súc vật trong quá trình lục soát các làng mạc. Chúng tôi cho phá tung những ngôi nhà mái lá và cho nổ hết các thùng chứa gạo để tìm bằng chứng về việc chủ nhà có thể đang giúp đỡ lính du kích của Việt Cộng. Buổi đêm, chúng tôi lập các điểm phục kích trên đường mòn dẫn vào Đại Lộc và dọc con sông chảy qua khu vực công sự boongke của chúng tôi phía trên đồi. Vài tuần một lần trực thăng đưa chúng tôi đi càn và triển khai các chiến dịch quy mô lớn ở phía tây và phía bắc.

“Gậy ông đập lưng ông”

Trong những chiến dịch lớn này, chúng tôi phải đi nhiều ngày qua những khu rừng núi giá lạnh và tối tăm hoặc phải vượt qua những cánh đồng lúa rộng mênh mông. Ở khu vực không quen thuộc lắm, chúng tôi thường bị phục kích. Khi chúng tôi vừa ngồi xuống để đổ nước ra khỏi giày và kéo đỉa ra khỏi chân thì bị lính bắn tỉa của Việt Cộng hay các nhóm du kích tấn công. Nhiều đồng đội của chúng tôi bị giết hoặc bị thương vì dẫm phải mìn chôn dưới đất, những quả mìn này thậm chí được làm từ đạn pháo chưa nổ của Mỹ nối với dây kích nổ. Chúng tôi bị sốc bởi những kiểu thương vong như thế và điều này làm chúng tôi cảm thấy mệt mỏi mất phương hướng. Quan sát những người lính có kinh nghiệm hơn xử lý công việc của họ, dần dần chúng tôi biết được là không nên nhìn vào cảnh tượng khủng khiếp của những người bị chết hoặc bị thương mà nên cố gắng nhìn về phía chân trời, về phía con sông, cây cối, và những đường hào để cố tìm ra dấu hiệu về những nguy hiểm đang rình rập mình.

Phụ nữ, trẻ em Việt Nam không có vũ khí trong tay vẫn bị lính Mỹ giết hại, đánh đập dã man. Ảnh: T.L.

Trong suốt một tuần lễ mùa mưa, chúng tôi phải trèo lên những ngọn núi phía bắc Đại Lộc. Càng lên cao thì sương mù càng dày. Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi thiết lập các vị trí phòng thủ trên những con dốc, đó là một vòng hố công sự không sâu lắm, chạy hướng lên phía trên, phía dưới và bao quanh sườn núi. Hai hoặc ba người một hố, chúng tôi thay nhau căng mắt nhìn ra bóng đêm để tìm kiếm những dấu hiệu của vật thể chuyển động. Sau hai ngày đêm đi trong mưa và sương mù, chúng tôi phải đến nơi tiếp cận nguồn lương thực và thuốc men cho những người bị thương, hầu hết trong số họ bị đau chân đến nỗi không thể đi được. Khi chúng tôi xuống núi, ánh mặt trời làm tan màn sương để lộ ruộng lúa rộng lớn. Mang súng cao qua đầu, chúng tôi lội qua một ruộng lúa cao khoảng nửa mét. Khi đã qua được bên kia đồng lúa, chúng tôi tới được một ngôi làng nhỏ nằm trên một vùng đất sét khô vững chắc, đây là vùng đất khô ráo đầu tiên chúng tôi gặp được trong vòng hai ngày qua. Ngôi làng không một bóng người; chúng tôi thả vũ khí và đồ đạc xuống đất, cởi giày bị ướt, rồi chờ máy bay tới tiếp tế lương thực và thuốc men.Bất chợt một tiếng nổ lớn vang lên kéo theo loạt đạn súng trường và súng máy tấn công chúng tôi từ hai hướng. Hai đồng đội của chúng tôi đã bị bắt phía ngoài khu đồng trống; họ đứng chờ ở đó để chỉ hướng cho trực thăng tới tiếp tế. Phần còn lại chúng tôi cố bò tới chỗ dựng vũ khí và bắn trả. Cox có một khẩu súng máy nhưng lại không có đồng đội nào gần đó để giúp anh bắn. Tôi và anh ta đặt súng ở rìa làng và bắn đủ mạnh để bảo vệ đồng đội ở những khu vực trống trải. Chúng tôi trông thấy kẻ địch đang tiến tới từ một chiến hào ngay phía ngoài làng. Trong năm phút, chúng tôi đã bắn trả để đẩy lùi cuộc tấn công và giúp những đồng đội ở vùng đồng ruộng trống trải có thể lùi vào trong làng. Không lâu sau đó, tiếng đạn tấn công từ phía địch phải ngừng lại.

Sai lầm

Cho đến lúc trời tối, chúng tôi đã sơ tán được những người bị thương và đã nhận được súng đạn lương thực tiếp tế. Cuộc sống trở lại bình thường. Một ngày như thế này có thể xem là sự tóm tắt cả một năm của tôi trên chiến trường: đó là trải qua nhiều ngày đi đến vùng đất lạ, bị ngạc nhiên, bị tấn công khi không phòng bị, được cứu bởi hỏa lực mạnh và trực thăng và lại tiếp tục chiến đấu. Chúng tôi có lợi thế về sức mạnh quân sự nhưng đôi lúc tôi cảm thấy điều này cũng không giúp được nhiều.

Sau đó nhiều ngày, trở lại trên đồi Đại Lộc, chúng tôi nhận được mật cáo là Việt Cộng đang di chuyển dọc theo con sông về hướng chúng tôi. Khi lục soát dọc bờ sông, tôi tìm kiếm lối mòn dưới mặt nước. Vừa bơi vừa phải mang một khẩu súng trên tay, tôi dẫm vào một cái hố nằm dưới bờ sông, ở ngay dưới mặt nước, dẫn tới một khoảng trống dưới mặt đất. Khi bóng tối đổ xuống, chúng tôi quyết định lập một điểm phục kích ngay trên bờ sông và chờ lính của địch vượt sông vào ban đêm. Một nửa trung đội chúng tôi trở lại đỉnh đồi, và khoảng 15 người ở lại để canh chừng lối vào của một cái động đá nằm cạnh con sông.

Ngay sau nửa đêm, đồng đội của chúng tôi trên bờ sông phát hiện thấy có thuyền đang đi về phía lối vào động đá. Chờ những con thuyền này đến gần, họ đồng loạt tấn công bằng súng trường tự động, súng máy và lựu đạn. Từ khu đồi hướng ra điểm phục kích, chúng tôi cũng hỗ trợ tấn công bằng pháo, đạn lửa và bộc phá. Sau khi ngừng bắn, các đội trưởng ra lệnh bắn pháo sáng và lục soát dọc con sông. Khu vực dưới bờ sông bây giờ trở thành là một không gian chết chóc, không có người nào trên thuyền còn sống sót.

Những người mà chúng tôi đã bắn chết đều là những phụ nữ, trẻ em và người già không hề có vũ khí, có lẽ khoảng 20 người. Khi đồng đội của chúng tôi trở về khu đồi đóng quân, sự đau đớn và buồn rầu hiện rõ trên khuôn mặt họ. Những đôi mắt vô hồn thờ thẫn, cố gắng hiểu xem chuyện gì đã xảy ra. Chẳng ai muốn nói gì về những gì đã xảy ra. Mọi người đều rất buồn vì những người trên thuyền đều là những người hoàn toàn không có vũ khí. Một số còn cảm thấy tội lỗi và hầu hết chúng tôi đều nhận thấy như vậy. Những lời ăn năn của họ có vẻ không liên hệ gì với nhiệm vụ mà chúng tôi được giao. Như thể chúng tôi không có quyền suy nghĩ về những nạn nhân của mình. Bàn luận về những cảm giác này là đi ngược lại với những gì chúng tôi đang tiến hành: không suy nghĩ gì cả, hãy cứ làm. Khi tôi nhìn những khuôn mặt với đôi mắt sâu hoắm của họ, tôi cố gắng không suy nghĩ tới bất cứ thứ gì.

Kỳ 6: Tìm kiếm sự tha thứ

John Merson

Những bài học chiến tranh (Kỳ 4)

Chiến tranh ở Việt Nam đã lùi xa gần 35 năm, nhưng với những người lính Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam không thể nào quên được những gì mà họ đã gây ra cho đất nước và con người của mảnh đất hiền hòa, hiếu khách…

>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 1)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 2)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 3)

Kỳ 4: Người lính trở nên điên dại

Đến với một đất nước xa lạ, những người lính Mỹ luôn sống trong tâm trạng sợ hãi. Họ bị đè nén đến mức như chất nổ C-4 trong hộp (một loạt chất mà người lính Mỹ phải mang theo khi hành quân), chỉ cần gặp chuyện gì đó có tính kích thích là sẽ bị nổ tung lên.

Mỗi người lính phải mang theo từ 2 cho đến 5kg chất nổ C-4. Trong cơn mưa giông, chúng tôi phải mất rất lâu để hơ nóng nồi và chầm chậm nấu ăn bằng chất nổ C-4… Một khối C-4 được gắn kíp nổ có thể làm nổ tung boongke hoặc thùng chứa gạo.

Mất kiểm soát

Vào đêm hôm sau khi bị nả súng cối, một trong những đội trưởng của chúng tôi yêu cầu mọi thành viên trong đội mang cho anh ta tất cả chất nổ C-4 còn sót lại. Anh ta cho tất cả vào một quả bóng lớn rồi đốt. Các vị trí của trung đội sáng quắc như quảng trường Thời Đại ở thành phố New York trong đêm giao thừa. Tôi có thể thấy được các hố công sự cách đó 50 thước và những người khác cũng thế. Chúng tôi phân công người canh chừng viên đội trưởng đó cho đến khi chúng tôi có thể đưa anh ta lên chuyến máy bay tới.

Tại sao những người trên chiến trường lại trở nên điên dại như vậy? Tại sao họ lại mất kiểm soát bản thân? Tình trạng sẽ ra sao khi ai đó kiệt sức? Đó có thể là việc đốt một đống chất nổ C-4 như người đội trưởng đó, hoặc bắn người vô tội, đốt nhà cửa, đánh đập tù binh. Mất kiểm soát là điều kinh khủng trong cuộc đời: nó sẽ đưa chúng ta tới một trạng thái có thể làm những điều mà chúng ta biết là sai trái.

Đập phá, đốt nhà dân là hành động thường thấy của lính Mỹ trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam. Ảnh: TL

Tôi không thể đoán được sắp tới ai sẽ bị rơi vào tình trạng đó. Một đội trưởng giỏi đã ở đây hơn 6 tháng rồi mà vẫn bị mất kiểm soát như thế. Cách mà chúng tôi nói về anh ta có thể cung cấp một số nguyên nhân về việc này: chúng tôi xem anh ta là người luôn sắp xếp công việc một cách ổn thoả và anh ta là người rất cứng rắn. Nhưng tất cả những điều này còn thể hiện anh ta giống như chất nổ C-4 bị đè nén trong cái hộp nhỏ rồi phát nổ. Và chỉ cần gặp chuyện gì đó có tính kích thích là sẽ bị nổ tung lên: đó có thể là một ngày mưa giống hay một đêm bị tấn công bằng súng cối như vừa qua. Tôi nghĩ còn có một câu hỏi khó trả lời hơn nữa đó là tại sao người ta không rơi vào tình trạng đó sớm hơn? Tại sao chưa có thêm người bị mất kiểm soát? Tại sao tôi vẫn chưa bị nổ tung lên?

Tôi đã có một bước ngoặt khi đang trên đường tới thành phố Quảng Ngãi vào tháng 1 năm 1967, tám tháng kể từ khi tôi tới Việt Nam. Chúng tôi dừng một ngày ở gần ngôi làng nhỏ trong khi chẳng biết gì về khu vực này. Tôi và một đồng đội được phân công lên phía trước quả đồi một trăm thước để lập chốt quan sát ngay trên con đường dẫn vào làng. Đó là một vị trí trống trải không hề có bất kì rào chắn thiên nhiên nào. Suốt đêm, một con chó trong làng đánh hơi thấy chúng tôi và bắt đầu sủa. Mặc dù tôi biết con chó đó chỉ làm công việc muôn thuở của nó mà thôi nhưng chúng tôi lo sợ và không thể di chuyển. Chúng tôi thức suốt đêm vì sợ lính bắn tỉa hoặc một đội súng cối của địch có thể phát hiện ra chúng tôi. Khi trời vừa hửng sáng, tôi trườn ra đường và bắn chết con chó.

Ngược đãi tù nhân và thường dân

Một số chúng tôi bị điên dại ngay trong suy nghĩ; một số người khác lại biểu hiện ra ngoài. Tôi cho rằng một thành viên của trung đội tôi đã bị điên ngay trong ngày anh ta tới Việt Nam; đối với tôi, đầu óc anh ta chưa bao giờ bình thường cả. Sẽ rất nguy hiểm nếu để anh ta một mình ở gần một nông dân hoặc một tù nhân. Chúng tôi biết được điều đó khi thấy anh ta tra tấn một thanh niên bị chúng tôi bắt giữ bằng cách dùng lưỡi lê cứa vào người đó. Một người khác đã phải tìm cách ngăn anh ta lại trước khi tù nhân kia bị thương nặng, nhưng sự thực là tù nhân đó đã bị thương rất nặng rồi.

Điều tương tự xảy ra lúc chỉ có anh ta với dân làng; ý nghĩ về việc anh ta cần phải làm bị thương ai đó khiến anh ta trở nên nguy hiểm. Đội trưởng của anh ta nói với tôi rằng trên đường tuần tiễn, anh ta đã bắn chết một nông dân khi người này cố gắng chạy trốn anh ta. Những câu chuyện mà tôi nghe được về người lính này khiến tôi e sợ anh ta; tôi sợ những gì anh ta sẽ làm đối với người khác và tôi sợ những gì anh ta có thể làm với tôi nếu tôi cố ngăn cản sự điên cuồng của anh ta.

Trong một lần tuần tiễu gần sông Trà Bồn, tôi chứng kiến một người lính trong trung đội đánh một ông già lúc chúng tôi đi qua một ngôi làng. Lúc đó, chúng tôi đang đi dọc một con đê ngăn giữa hai cánh đồng. Người lính đó đã ở Việt Nam nhiều tháng, thậm chí còn nhiều hơn tôi. Anh ta chặn một người đang đứng dưới ruộng lúa và hét vào mặt người đó. Nhỏ nhắn, lom khom và gầy gò, người đàn ông đó ngước nhìn người lính mà không biểu hiện thái độ gì. Chúng tôi cũng chẳng biết anh ta giận dữ hay bối rối nữa. Đối với người lính đó, việc không phản ứng cũng bị xem như là kháng cự. Gã lính trẻ quay báng súng của khẩu M-14 to nặng và đánh vào vai người đàn ông, làm ông ta ngã ra đất. Không thèm liếc trở lại xem nạn nhân của mình thế nào, gã lính bỏ đi.

Lúc mới đến đất nước này, tôi bị sốc và sợ hãi chẳng nói nên lời. Tôi nghĩ có lẽ đây là một phản ứng bình thường, ai cũng hiểu được điều đó. Tôi sợ phải nói, sợ cho sự an toàn của tôi và sợ bị tẩy chay. Nhưng tôi biết đó là sai lầm và tôi nhận ra điều này rất nguy hiểm bởi vì nó khiến chúng tôi ngược đãi những người mà chúng tôi muốn bảo vệ. Cứ thử hình dung nếu như một đội lính Việt Nam có vũ trang hạng nặng tràn qua ngôi làng mà tôi sống thì tôi biết mình sẽ tức giận như thế nào.

Lần kế tiếp thấy cảnh tượng ngược đãi, tôi lên tiếng ngay: “Này, hãy để anh ta yên.” Mặc dù, tôi chỉ là tân binh quèn, nhưng dẫu sao tôi cũng là người điều hành điện đàm cho trung uý. Từ đó, việc ngược đãi chấm dứt – ít ra là những lúc tôi có mặt. Cũng có một số người khác trong trung đội của tôi hành động giống như tôi, cũng ngăn cản việc ngược đãi tù nhân và người làng. Tôi tin vào họ để có thể lên tiếng, bởi vì theo bản năng họ biết rằng làm một người lính không có nghĩa là phải “thoát ly” khỏi cuộc đời; họ sẽ phải sống với những gì mà họ hành động với tư cách là những người lính.

Kỳ 5: Thảm sát ở Đại Lộc

John Merson

Những bài học chiến tranh (Kỳ 3)

LTS. Chiến tranh ở Việt Nam đã lùi xa gần 35 năm, nhưng với những người lính Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam không thể nào quên được những gì mà họ đã gây ra cho đất nước và con người của mảnh đất hiền hòa, hiếu khách…

>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 1)
>> Những bài học chiến tranh (Kỳ 2)

Kỳ 3: “Hãy cứu lấy tôi”

Tháng 7 năm 1966 là một tháng may mắn. Billy rời chiến trường và làm việc ở bộ phận hậu cần đúng như anh ta dự định. Trung đội tôi có trung đội trưởng mới, một trung uý trẻ vừa kết thúc khóa huấn luyện. Anh ta chọn tôi là người điều khiển điện đàm và điều này đồng nghĩa với việc tôi rời khỏi chốt báo động.

Lúc Trung úy Wylie Mosey Vickery rời quê nhà để đến Việt Nam, anh ta đã không ngừng hát một trong những bài hay nhất của Fontella Bass  trên sóng ra-đi-ô với tựa đề “Rescue me” (Hãy cứu lấy tôi). Mặc dù giọng Vick hơi ồ ồ nhưng có cái gì đó trong giọng hát của anh ta làm mọi người cảm động: “Hãy ôm tôi trong vòng tay, bởi tôi cô đơn và tôi rất buồn, hãy cứu lấy tôi”. Điều này khiến anh ta trông có vẻ nhân văn hơn và làm anh ta bớt giống với cái dáng vẻ của anh lính đi dán áp phích về việc tuyển quân. Vick trưởng thành ở Florida Panhandle – anh ta là một anh chàng nông thôn đích thực. Vick đối xử hòa mục với tất cả những ai chiến đấu sát cánh với anh ta và cũng bỏ qua những người cố tình thờ ơ với nhiệm vụ. Anh ta tốt nghiệp ĐH Austin Peay theo một suất học bổng về bóng đá. Lúc tới Việt Nam, anh ta hạ quyết tâm phải giành chiến thắng trong cuộc chiến này.

Tác giả John Merson (hàng đứng) trong lần thăm một gia đình ở Quảng Trị.

Thay đổi cách suy nghĩ về cuộc chiếnNhiệm vụ đầu tiên của Vick trên cương vị trung đội trưởng diễn ra không mấy thuận lợi. Đó là một đêm tuần tiễu bắt đầu từ lúc nhá nhem tối và theo kế hoạch thì khoảng nửa đêm sẽ trở về. Tôi cùng những người còn lại trong trung đội chờ ở trên đồi. Đã đến nửa đêm nhưng anh ta vẫn bị lạc đường trong vô vọng; chúng tôi phải bắn pháo sáng dẫn đường cho anh ta trở về phòng tuyến. Quá xấu hổ vì điều đó, anh ta hạ quyết tâm sẽ trở thành người đọc bản đồ giỏi nhất của tiểu đoàn.

Kể từ đó, đi đâu anh ta cũng dùng bản đồ và la bàn để vẽ đường đi, tìm vị trí của chúng tôi và xem xét những con đường bao quanh đồi. Dù chúng tôi đang ở trên xe tải hộ tống hay ngồi trên máy bay lên thẳng, Vick cũng nghiên cứu bản đồ và chỉ đạo. Chỉ trong vòng một tháng, anh ta đã là người đọc bản đồ giỏi nhất của tiểu đoàn. Và anh ta vẫn hát: “Hãy cứu lấy tôi.”

Chiến dịch tiếp theo của chúng tôi là tiến hành tuần tiễu dọc vùng đệm giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Một trong những quy tắc quan trọng đó là không được phép bước qua vùng đệm ấy và tiến vào khu vực của miền Bắc. Tôi bước bên cạnh viên trung uý với bộ điện đàm trên vai. Trung đội chúng tôi là đơn vị cuối cùng vượt qua một con suối nhỏ. Viên trung úy nghiên cứu bản đồ và những mốc giới dễ nhận thấy nhất xung quanh chúng tôi. Cầm điện đàm, anh ta gọi cho đại đội trưởng.

“Thưa sếp, sếp có biết là sếp đang ở đâu không?”, Vick gào lên.

Viên đại đội trưởng lầm bầm một cách khó hiểu phía đầu dây bên kia.

“Ồ, tôi biết chứ”, Vick tiếp tục nói. “Sếp đang ở đất của Bắc Việt đấy, sếp nên quay trở lại đi”.

Khi Vick đã trở thành một trung đội trưởng dày dạn kinh nghiệm, anh ta cũng thay đổi cách suy nghĩ về thành công. Anh ta không còn nói đến việc phải chiến thắng trong cuộc chiến này nữa, thay vào đó, anh ta chỉ tập trung vào việc làm thế nào để bảo vệ mọi người trong trung đội. Ưu tiên của anh ta bây giờ là số lượng thương vong vì vấp phải mìn ít hơn, ít người bị bắn tỉa hơn hoặc những trường hợp bị cụt tay què chân ít hơn.

Vick trải qua đủ trạng thái của sự đau khổ: hoài nghi, tức giận và cuối cùng là chấp nhận trong buồn bã. Khẩu súng là tình yêu thời chiến tranh của anh ta. Anh ta không bao giờ thay khẩu súng khác. Và anh ta vẫn cứ hát: “Tôi cô đơn và tôi rất buồn. Hãy cứu lấy tôi.”

Những  cơn ác mộng

Sở chỉ huy của trung đội tôi chỉ có ba người: Vick, tôi và một y tá quân y. Michael Patrick Tobin có chuyên môn giỏi, đã lập gia đình, rất yêu vợ và là người dễ gần nhất trong trung đội tôi. Có lẽ bản tính trầm trầm của anh ta xuất phát từ việc anh ta là con út trong một gia đình có đến 9 người con.

Với Mike, cuộc đời không bao giờ là một trò chơi “được ăn cả, ngã về không”. Anh ta không cần phải chứng tỏ mình cứng rắn như thế nào. Với hầu hết mọi người trong trung đội, thuyết phục mọi người rằng mình cứng rắn như thế nào là vấn đề mang tính sống còn. Rốt cuộc, nếu mọi người nghĩ bạn là người mạnh mẽ thì bạn sẽ tin mình là người như thế. Và nếu bạn tin là mình mạnh mẽ thì bạn cũng có thể tin rằng bạn có thể tồn tại. Đối với Mike, việc thể hiện mình là người mạnh mẽ là một việc làm không cần thiết.

Trong một chiến dịch bắt đầu vào mùa mưa, chúng tôi phải đi cả ngày trong cơn mưa tầm tã. Cả ngày chúng tôi bị ướt; cả đêm chúng tôi bị lạnh cóng, quần áo thì chẳng lúc nào khô. Tôi bỏ tất ra và không mặc quần áo lót nữa. Càng ít lớp vải ướt trên mình, tôi càng cảm thấy đỡ bị lạnh và ướt hơn. Cuối cùng mặt trời cũng ló ra vài giờ, nhờ thế quần áo của tôi mau khô hơn.

Mỗi ngày chúng tôi lại mất vài đồng đội vì bị bắn tỉa, vấp mìn hoặc dẫm phải bẫy. Để chống chọi với cơn ác mộng này, viên trung uý, Mike và tôi cột những chiếc áo choàng lại với nhau để tạo thành một cái lều. Chúng tôi cởi quần áo và bò vào trong lều, nằm ngủ sát nhau để giữ thân nhiệt, cởi áo ra để ngủ nhưng vẫn mang giày.

Vào một đêm, súng cối bắt đầu nã vào khu vực xung quanh chúng tôi. Chúng tôi ra khỏi lều và bò về phía công sự giờ đây đã ngập đầy nước. Mike và tôi đội mũ vào; nhưng Vick không tìm được mũ của anh ta.

“Merson”, anh ta gào lên: “Mũ của tôi đâu rồi?”.

Tôi chẳng có cách nào để ra khỏi công sự cả bởi đạn súng cối đang nổ xung quanh chúng tôi. Tôi nhìn quanh hố công sự, tìm xem có cái mũ nào khác không. Ngay phía rìa hố có chiếc hộp bánh bằng nhôm sáng bóng. Tôi đưa cho Vick cái hộp bánh; chẳng cần nghĩ ngợi, anh ta đội nó lên đầu. Chúng tôi trông giống như ba đứa trẻ nằm trong một cái bồn tắm, đang chờ mẹ tới để lau khô người.

Sau đó vài phút, một quả đạn cối nổ gần chỗ chúng tôi, rơi đúng vào công sự bên cạnh. Sau tiếng nổ là sự yên lặng đáng sợ. Thậm chí chẳng có tiếng kêu cứu “Y tá, y tá!” nào cả. Cả hai người trong công sự đó chết ngay tức thì. Công sự của họ hứng trọn vụ nổ, nhờ vậy giúp chúng tôi không bị thương vì những mảnh đạn văng ra. Vài phút sau, các đơn vị súng cối của chúng tôi bắt đầu nhắm và bắn vào khu vực vừa bắn những quả đạn cối vừa rồi. Chúng tôi nằm chờ cho đêm qua đi.

Sáng hôm sau, trời trong và đầy nắng. Trong thời gian nghỉ ngơi vào mùa mưa, chúng tôi gọi một chiếc máy bay lên thẳng tới để mang đi những người chết và những người bị thương ở chân quá nặng không thể đi được. Mọi người đều đã kiệt sức.

Kỳ 4: Người lính trở nên điên dại 

John Merson