Mũi tiến công hiểm hóc, bất ngờ

QĐND – Sau chiến thắng Phước Long, để chuẩn bị cho thời cơ chiến lược mới, Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập Binh đoàn 232, gồm các Sư đoàn chủ lực 3, 5, 9 và một số đơn vị binh chủng tác chiến tập trung trên chiến trường các tỉnh Tây Ninh, Kiến Tường, Long An, Mỹ Tho; tạo bàn đạp vững chắc phía Tây và Tây Nam Sài Gòn… Đây cũng là mũi tiến công sắc nhọn, hiểm hóc, hoàn toàn bất ngờ với hệ thống phòng thủ của địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh, nhanh chóng, thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong nội đô Sài Gòn.

Bộ đội Sư đoàn 5 đánh chiếm Tiểu khu Hậu Nghĩa. Ảnh tư liệu.

Trong hệ thống phòng ngự của địch ở Sài Gòn khi đó, hướng Tây-Nam có vị trí hiểm yếu, nhưng lại tương đối yếu. Hiểm yếu vì nơi đây sát nách Sài Gòn, nối Sài Gòn, Long An với Mỹ Tho là căn cứ Vùng IV chiến thuật của quân ngụy theo Đường số 1. Ở hướng này nếu khắc phục được sình lầy và vượt được sông sẽ là thời cơ lớn cho chiến dịch binh chủng hợp thành cơ động tiếp cận và triển khai đột phá thẳng vào Sài Gòn, tạo thế áp đảo, phá vỡ thế trận địch, nhanh chóng giành được thắng lợi triệt để. Đây cũng là chiến trường quen thuộc, phù hợp với khả năng tác chiến của các Sư đoàn 3, 5, 9. Chọn hướng này, ta đã chọn điểm đúng “huyệt” hiểm, để ra đòn quyết định.

Địch bố trí lực lượng hướng Tây-Nam Sài Gòn mỏng là vì cho rằng, ta khó có thể tổ chức một mũi tiến công mạnh có xe tăng và pháo binh, xe cơ giới vượt sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây đánh vào Sài Gòn. Song để khắc phục địa hình bất lợi, Bộ tư lệnh Binh đoàn phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với Tỉnh ủy Long An, Mỹ Tho, Kiến Tường với nòng cốt là lực lượng công binh kết hợp với bộ đội địa phương, du kích và nhân dân huy động mọi phương tiện, vật liệu tại chỗ tạo đường dẫn vượt sình lầy và cầu, phà dã chiến cấp tốc đưa phương tiện, xe tăng, pháo cơ giới vượt sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây tiến công Hậu Nghĩa, Tân An, Bến Lức. Nhờ có binh khí kỹ thuật tập kết đúng thời gian quy định, các đơn vị của Binh đoàn 232 triển khai tiến công địch rất thuận lợi, phối hợp với bộ đội chủ lực và các lực lượng bộ đội địa phương, du kích giải phóng toàn bộ các huyện dọc sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, đưa lực lượng thọc sâu vào thành phố Mỹ Tho, cắt đứt Đường số 4, cô lập Sài Gòn với vùng IV chiến thuật; phá sản âm mưu ứng cứu Sài Gòn hoặc rút chạy về Đồng bằng sông Cửu Long cố thủ của quân ngụy.

Trần Văn Toản
qdnd.vn

Advertisements

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ 1)

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định cần phải phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ. Người nói: “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”.Dưới sự tổ chức và rèn luyện trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chỉ 15 năm sau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân – phong kiến, thành lập nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở đầu quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bàng hoàng và hoảng sợ trước ngọn đuốc giải phóng dân tộc trong thời đại mới đã được thắp sáng tại Việt Nam, thực dân Pháp và các thế lực phản động quốc tế phiêu lưu xâm lược Đông Dương một lần nữa. Sau nhiều cố gắng thương lượng bất thành, từ tháng 12 năm 1946, lãnh tụ Hồ Chí Minh một lần nữa lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam tiến hành trường kỳ kháng chiến và 9 năm sau kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Tiếp nối Điện Biên Phủ – Việt Nam là hàng chuỗi phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở không gian Á, Phi và Mỹ La tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Sau thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thế chân, nhảy vào miền Nam, âm mưu chiếm đóng, chia cắt lâu dài đất nước nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: hoàn thiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngay trong hoàn cảnh đặc biệt ấy, chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn ngày càng được củng cố, miền Bắc hoàn thành nghĩa vụ cao cả là hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ. Quân và dân miền Nam đã lần lượt làm thất bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tiến tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Lá cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân giương cao, biến Việt Nam thành lương tâm và khí phách của cả thờì đại. Chiến thắng năm 1975 của Việt Nam là chiến thắng của thời đại Hồ Chí Minh, chiến thắng của dân tộc chống đế quốc, của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản, của văn minh chống lại bạo tàn, góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về sự kiên định, trung thành với mục tiêu lý tưởng cộng sản; đồng thời, đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện Việt Nam, góp phần xứng đáng vào tăng cường sức sống cho hệ tư tưởng cộng sản trong thời đại mới. Chính vì vậy, Người không chỉ được kính trọng, ngưỡng mộ, mà còn là một tấm gương cần noi theo, một sự chỉ dẫn không thể thiếu đối với nhân dân Việt Nam và đông đảo lực lượng cách mạng, tiến bộ toàn thế giới trước kia, hiện tại và tương lai.
Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa cộng sản, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người trong một sự nghiệp cách mạng. Lập trường cộng sản của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở của một nhận thức đúng đắn, một ý chí sắt son với quốc gia dân tộc, một trình độ giác ngộ giai cấp sâu sắc qua thực tiễn hoạt động chính trị – xã hội phong phú của bản thân Người. Bởi vậy, ngay trong hoàn cảnh hoạt động bí mật hiểm nghèo, trong chốn lao tù khắc nghiệt, hay trong những thời điểm bị chính các đồng chí cộng sản hiểu lầm, đánh giá sai…, Người vẫn luôn luôn tự tin, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cộng sản.

Điều hết sức đặc sắc ở Hồ Chí Minh là Người đã duy trì sự kiên định, trung thành bằng cách vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận cộng sản chủ nghĩa một cách kịp thời, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như với bối cảnh mới của thời đại. Những luận điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi; về vai trò, vị trí của cách mạng vô sản ở thuộc địa đối với cách mạng thế giới nói chung và cách mạng vô sản ở chính quốc nói riêng; về khả năng, tiềm năng cách mạng của các lực lượng dân tộc chủ nghĩa ở Đông Dương; về giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; về quy luật ra đời của đảng cộng sản ở Việt Nam; về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa – phong kiến; về xây dựng nền văn hóa và con người mới xã hội chủ nghĩa; về khối đại đoàn kết toàn dân tộc như động lực của toàn bộ sự nghiệp cách mạng; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân với sức mạnh tổng hợp, chiến tranh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân; về xây dựng Nhà nước, xây dựng Đảng như tổ chức của những công bộc, những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; về nền đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, hợp tác và hội nhập quốc tế… là những cống hiến vô giá đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới.

Hệ thống lý luận do Mác, Ăngghen và Lênin xây dựng cách đây hàng thế kỷ vẫn có ý nghĩa thời đại sâu sắc một phần rất lớn là nhờ được nhiều lãnh tụ cách mạng, trong đó có Hồ Chí Minh của Việt Nam, bổ sung, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn sinh động của quốc gia và thế giới đương thời. Đối với những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn có giá trị soi sáng con đường cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội trước kia và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 25 năm đổi mới vừa qua cũng như những đóng góp của đổi mới đối với quá trình phục hồi, phát triển của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trên ý nghĩa hiện thực của nó, cũng chính là thành công và đóng góp của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là một chiến sĩ trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, có đóng góp to lớn cho tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân tất cả các nước, giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa vô sản và các dân tộc bị áp bức và giữa các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới với nhau. Chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh có nội dung phong phú: Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột; đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”; đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội; đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Từ năm 1912 đến năm l917, Người đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động. Thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ, sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa. Tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ I, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân như đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa. Người tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các diễn đàn này, Người kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh là một nhân cách cộng sản mẫu mực, suốt đời phấn đấu, hy sinh cho độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; sống cuộc đời giản dị, khiêm tốn, ham học hỏi, nói đi đôi với làm; thực hành nghiêm túc các nguyên tắc sinh hoạt của Đảng; gắn bó máu thịt với nhân dân, thường xuyên nhấn mạnh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Trọn đời, Người chỉ có một mục đích duy nhất là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Người “…chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t4, tr.161).

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, trong đó chứa đựng tinh hoa của đạo đức nhân loại, đạo đức dân tộc và đạo đức cộng sản mà Mác, Ăngghen, Lênin đã đặt nền móng. Nội dung hàng đầu của đạo đức Hồ Chí Minh là trung với nước, hiếu với dân, là tình yêu thương con người. Chữ “trung”, chữ “hiếu” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển lên tầm cao cộng sản, đó là trung thành với lợi ích quốc gia, với độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nghĩa cả, nghiệp lớn. Chính vì vậy, đạo đức Hồ Chí Minh là biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn cao cả nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người chỉ rõ: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t5, tr.252). Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, dốc trọn tâm can, nhiệt huyết cho dân, cho nước, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, không tơ hào lợi lộc, vinh hoa phú quý là nội dung rất quan trọng trong đạo đức Hồ Chí Minh, được vị lãnh tụ đề cập ngay từ đầu trong tác phẩm Đường cách mạng và nhấn mạnh trong Di chúc để lại cho đồng bào, đồng chí trước lúc đi xa.

Trong mọi hoàn cảnh, dù ở thủ đô hay trong rừng núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giản dị, thanh cao. Hình ảnh vị lãnh tụ với cháo bẹ, rau măng, lán rạ… trong núi rừng kháng chiến; hay đôi dép cao su, bộ ka ki khiêm tốn, ngôi nhà sàn bé nhỏ, đơn sơ… trên cương vị nguyên thủ quốc gia, mà khi đi vào cõi vĩnh hằng không để lại một chút tài sản riêng tư, đã tạc dấu ấn của một nhân cách cộng sản đích thực vào tinh thần thời đại ngày nay.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh còn tỏa sáng một cách mẫu mực từ việc làm, cách ứng xử và cuộc sống hàng ngày của Người. Khi kêu gọi toàn dân xây dựng hũ gạo kháng chiến, vị Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cũng mỗi bữa bớt lại một nắm gạo và 10 ngày nhịn ăn một bữa. Khi kêu gọi toàn dân rèn luyện thân thể, Người cũng “tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”. Để thực hiện nghiêm túc chủ trương tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn mang theo cơm nắm, muối vừng trong mỗi chuyến công tác,v.v… Suốt đời, Người thực hiện nói ít, làm nhiều, nói đi đôi với làm, cán bộ làm gương cho quần chúng noi theo, xây đi đôi với chống, lấy xây làm chính và thực hành tu dưỡng đạo đức thường xuyên như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh cũng tỏa sáng một cách độc đáo từ quan niệm Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Ngay sau khi thành lập nước, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, kiên trì đấu tranh phòng chống các căn bệnh, nguy cơ quan liêu, xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng nhân dân, đặc quyền đặc lợi, chủ nghĩa cá nhân… Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội chưa hẳn là đời sống vật chất cao, mà trước hết ở các giá trị nhân văn, đạo đức của nó, được thể hiện trong từng cán bộ cách mạng và đảng viên. Người nhấn mạnh: “Phong trào cộng sản quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh loài người chẳng những là do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành sức mạnh vô địch” (Hồ Chí Minh: Lênin và Cách mạng tháng Mười. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.160).
Thế giới ngày nay có biết bao đổi thay sâu rộng, khó lường. Sự nghiệp của những người cộng sản đã phải nếm trải không ít đổ vỡ, mất mát nhưng loài người không bao giờ quên, không bao giờ phủ nhận những đóng góp lịch sử vĩ đại của cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trong suốt thế kỷ XX. Loài người cũng mãi mãi tự hào về những chiến sĩ lỗi lạc, những lãnh tụ kiệt xuất đã từng xuất hiện và trưởng thành từ phong trào cộng sản, phong trào cách mạng sôi động ấy, trong đó có Hồ Chí Minh (Việt Nam).

Ở những thập niên đầu thế kỷ XXI hiện nay, nhân dân lao động toàn thế giới đang nỗ lực và sáng tạo đấu tranh vì một thế giới tốt đẹp hơn: một thế giới của hòa bình, độc lập dân tộc; một thế giới khác với thế giới tư bản chủ nghĩa, không còn áp bức, bóc lột, bất công. Tuy nội dung, hình thức đấu tranh có nhiều điểm khác trước, nhưng mục tiêu đấu tranh vẫn thống nhất với thời kỳ của các thế hệ tiền bối cách mạng. Bởi vậy, lá cờ của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và tấm gương của các chiến sĩ cộng sản lỗi lạc như Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị dẫn đường./.

Ngày về chiến thắng

Với những đóng góp và thành tích nổi bật trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1976, Cụm Tình báo A20 – H67 được tuyên dương Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân

Chiều 22-8-1968, đang ở nội đô để phục vụ đợt 3 tổng công kích, Cụm trưởng Lê Văn Vĩnh (Bảy Vĩnh) nhận được tin báo căn cứ A20 bị tập kích bằng B52, hy sinh 7 đồng chí. Nước mắt khóc đồng đội chực trào, Bảy Vĩnh dù trong người đang mang bệnh nặng song kiên quyết trở về cụm vì: “Những ngày này, đơn vị rất cần tôi có mặt”.

Đau thương mà anh dũng

A20 không bị xóa sổ trong đợt không kích dữ dội bằng B52 ngày 20-8-1968, dù tổn thất là khá lớn. Bảy Vĩnh thuật lại câu chuyện trong hồi ký rằng khi ông về đến căn cứ, những người còn sống sót đang bới tìm thi thể đồng đội và thu dọn chiến trường. Hồi ký viết: “Ai nấy đều ngậm ngùi. Nhà hầm đồng chí Năm Thanh hứng một quả bom giữa nhà, thi thể của Năm Thanh và chiến sĩ Nước hốt được vỏn vẹn mỗi người một gói ni lông.

Đồng chí Nhân mất xác (…) Hầm nhà tôi bị sập, chôn mất đồng chí Lợi trong hầm pháo. Hai đồng chí Kim Biên, Ân ngồi chết, trong lòng ôm 2 máy vô tuyến điện. Hầm nhà khách sụp đổ một góc, may mắn anh Ba Đình, Năm Hùng và đồng chí bảo vệ thoát chết. Đồng chí Tuyến nói ở nhà được thư anh hẹn về ngày 20-8, nếu anh về đúng ngày đó thì coi như lần này khó sống. Đồng chí Lợi chết thay cho anh, ngủ dưới nhà của anh…”.

Điệp viên Ba Lễ, bí danh H3 (thứ 2 từ phải qua) và một số đồng nghiệp ngành tình báo, quân đội tại Dinh Độc Lập trong ngày 30-4-1975.
Ảnh tư liệu của Lê Phong Lan

Từ cuối tháng 9-1968, toàn Cụm A20 sinh hoạt trong các nhà hầm tại trụ sở căn cứ mới ở Bời Lời, hạn chế tối đa việc đi lại trên mặt đất vào ban ngày. Bom Mỹ liên tục dội xuống Bời Lời ngày càng ác liệt. Từ sau đòn Mậu Thân 1968, phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn chủ trương mở những trận phản kích quy mô lớn, tập trung vào khu vực phía Bắc Sài Gòn. Sang năm 1969, tình hình khốc liệt hơn khi Lữ đoàn 195 tăng thiết giáp Mỹ được điều đến các khu vực này, được sự yểm trợ của không lực Mỹ, đã liên tục san ủi, đánh bom hủy diệt, biến những khu rừng rậm xanh tốt thành những “vùng trắng”. Hầu như các cửa ngõ ra vào căn cứ đều bị bịt kín, nhiều chuyến liên lạc bị gián đoạn.

Đến tháng 7-1969, chỉ còn lại A20 tiếp tục bám trụ căn cứ Bời Lời chống càn. Lực lượng của cụm hy sinh hơn một nửa so với năm 1968. Số giao thông viên và chiến sĩ của cụm bị giặc bắt ngày một nhiều. Trước tình hình đó, giữa tháng 11-1969, A20 được lệnh phải rút toàn bộ đơn vị về Phòng Tình báo miền (J22), chuẩn bị cho giai đoạn chiến đấu mới khi tình hình chiến trường đã có nhiều thay đổi.

Từ A20 đến H67

Từ đêm Noel đến Tết dương lịch năm 1969, toàn Cụm A20 bắt đầu kế hoạch rút quân từ Bời Lời về căn cứ J22 trên đất Campuchia. Đến ngày 31-12, toàn cụm về đích an toàn. Tháng 2-1970, J22 kết thúc đợt chỉnh huấn cán bộ. Bảy Vĩnh được giao nhiệm vụ tổ chức, biên chế lại Cụm A20 với tên gọi mới là H67, xây dựng căn cứ tại Bến Tre để tiếp tục hoạt động, duy trì các lưới tình báo ở nội thành Sài Gòn.

Sau một thời gian đóng quân tại nhà dân, khảo sát địa bàn xây dựng căn cứ, sáng 30-4-1970, toàn đơn vị H67 chính thức chuyển về căn cứ mới, thuộc ấp Ba, xã An Phước, huyện Châu Thành – Bến Tre. Phát huy truyền thống chống càn từ thời còn ở mật khu Bời Lời, toàn đơn vị H67 tiếp tục những đợt chống càn oanh liệt trên quê hương Đồng Khởi, trở thành “cái gai nhức nhối” nhất của địch tại vùng An Phước suốt những năm 1970 – 1975. Đơn vị đã tiên phong mở những đợt chống càn hiệu quả, làm nức lòng người dân xứ dừa. Trên mặt trận giao thông liên lạc, vận chuyển tin tức tình báo, H67 cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo đảm các nguồn tin tình báo từ nội đô an toàn và nhanh chóng được chuyển về J22 kịp thời.

Tập thể, cá nhân anh hùng

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử có một đơn vị chiến đấu khá đặc biệt, đó là Lữ đoàn Đặc công Biệt động 316 gồm lực lượng từ J22 và từ các đơn vị biệt động đặc công dày dạn kinh nghiệm chiến đấu nhiều năm trong lòng Sài Gòn. Theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu miền (B2), tháng 10-1973, J22 phải rút các cán bộ, chiến sĩ thuộc nhiều lưới tình báo khác nhau làm lực lượng nòng cốt để thành lập lữ đoàn đặc biệt này, chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn khi thời cơ đến.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Phòng J22, được chỉ định làm lữ đoàn trưởng. Riêng Bảy Vĩnh trở thành người chỉ huy Z28 thuộc Lữ đoàn 316 – đơn vị phụ trách đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn lúc 9 giờ 30 phút sáng 30-4-1975. Còn thủ trưởng J22 Sáu Trí (nguyên cụm trưởng A20) và điệp viên Ba Lễ (H3) đã trở thành những nhân chứng đặc biệt của ngày 30-4, những người đầu tiên của phía cách mạng chứng kiến giờ phút đầu hàng của chính quyền Dương Văn Minh ngay tại Dinh Độc Lập.

Tại căn cứ Bến Tre, H67 đã cùng Huyện ủy Châu Thành sát cánh với các đơn vị vũ trang địa phương, du kích, đồng bào tham gia vây đồn, diệt bốt, giải phóng xứ dừa trong mùa Xuân đại thắng. Lúc chuyện trò với những hàng binh chi khu Trúc Giang, cán bộ H67 mới biết cho đến tận giờ phút đó, phía chính quyền Sài Gòn vẫn không thể gọi tên đơn vị đã khiến họ nhiều lần điêu đứng, thiệt hại nặng trong các trận càn mà chỉ phỏng đoán đó là một bộ phận đặc công của tỉnh. Ngày 6-5-1975, H67 được lệnh của J22 rút về Sài Gòn, kết thúc 5 năm đứng chân tại địa bàn Bến Tre.

Với những đóng góp và thành tích nổi bật trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1976, Cụm A20 – H67 được tuyên dương Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, cùng đợt với xã anh hùng An Phước. Cựu điệp viên Lê Văn Vĩnh về sau cũng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

Một lòng vì Tổ quốc

Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí), nguyên Trưởng Phòng J22, đánh giá: “Trước năm 1975, có rất nhiều lưới tình báo, trong đó nhiều lưới hoạt động rất hiệu quả và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ như H63, H67… Có một số lưới bị bể, cán bộ hy sinh nhiều nhưng đặc biệt không ai trong số họ nghĩ đến cá nhân mình, không có người nào phản bội khi bị bắt và tra tấn dã man. Họ là những chiến sĩ trung kiên, khi được tổ chức giao nhiệm vụ thì không bao giờ nề hà và hầu hết đều hoàn thành xuất sắc, ngay cả khi biết trước là mình sẽ hy sinh. Có những cán bộ bị hiểu lầm, trong quá trình điều tra bị dị nghị… nhưng họ không hề phản biện cho đến khi được làm sáng tỏ. Bởi vì họ tin rằng tổ chức sẽ đánh giá công bằng những đóng góp của họ cho cách mạng”.

Đạo diễn Lê Phong Lan

nld.com.vn

Nam bộ những ngày hào hùng – Kỳ 5

Phương án Dương Văn Minh

TT – Kissinger, một trong những người tích cực trong việc vận động “không được bỏ rơi Sài Gòn” hoặc ít nhất cũng phải tạo “một khoảng cách nhất định” để không bị mang tiếng bỏ rơi đồng minh, đã phải “hạ giọng”: “Sự phát triển về chính trị ở miền Nam phụ thuộc vào bản thân người Việt Nam, Mỹ sẵn sàng chấp nhận bất kỳ một giải pháp nào do họ thông qua”.

Quân giải phóng cắm cờ tại bộ tư lệnh Sài Gòn ở thị xã Phước Long (năm 1975) – Ảnh từ sách

Lá bài cuối

Vào những ngày cuối tháng 4-1975, thời điểm “đêm trước” chiến dịch Hồ Chí Minh, trận quyết chiến chiến lược là thần tốc, tiến công kiên quyết, dứt khoát, giải quyết triệt để chế độ do Mỹ dựng lên đã tồn tại hơn 20 năm, không được phép ngập ngừng, không còn chỗ dừng lại để gọi là thương lượng.

Nhiệm vụ của các lực lượng tại chỗ lúc này là góp sức tạo mọi điều kiện thuận lợi về chính trị, quân sự nhằm tránh, giảm thương vong trong lực lượng vũ trang cũng như trong dân thường, ngăn chặn mọi hoạt động của đối phương phá hoại vật chất, gieo rắc hoang mang trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến.

Tình thế đặt ra yêu cầu cụ thể là phải gạt bỏ “chính phủ Thiệu không có Thiệu” đang ngoan cố hô hào “tử thủ”, lập ra một chính phủ chấp nhận không chống cự, hòa giải, hòa hợp dân tộc… Định hướng này đã được Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố trước đó, đến giờ phút này trở thành mục tiêu vận động trước mắt của cách mạng và các nhóm, cá nhân yêu nước.

Các cán bộ tình báo, binh vận, trí vận của Mặt trận Dân tộc giải phóng qua bao năm tháng mai phục trong lòng “thủ đô” chế độ Sài Gòn đã tạo được sự gần gũi ở nhiều mức độ khác nhau trong giới nhân sĩ, trí thức, lực lượng thứ ba, dân biểu đối lập (với chính quyền Sài Gòn…) và cả nhiều sĩ quan Sài Gòn.

Họ khác nhau về xu hướng chính trị, nhưng có cùng một chí hướng hòa bình độc lập, đòi chấm dứt chiến tranh, Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam. Trong giờ phút quyết định này, một đối tượng được nhắm chọn đứng ra lập chính phủ cho chế độ Sài Gòn là tướng Dương Văn Minh.

Trong thành phần cao cấp chính quyền Sài Gòn có tổng trưởng quốc phòng Trần Văn Đôn chấp nhận “phương án Dương Văn Minh”; xu hướng này lôi kéo được tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, có sự đồng tình của phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo…

Đại sứ Pháp Mérillon nghĩ rằng Paris có thể nhân cơ hội này đóng vai trò trung gian với Hà Nội, nếu được tướng Dương Văn Minh nhận làm tổng thống; lập ra một “chính phủ ba thành phần” và Pháp có thể “chi phối” được.

Chính quyền Mỹ vẫn còn nuôi ảo tưởng sử dụng “giải pháp thương lượng” để duy trì ảnh hưởng của Mỹ. Tòa đại sứ Mỹ và CIA lúc này chỉ còn hi vọng ở “con bài” Dương Văn Minh.

Bản tuyên cáo in ronéo

Các cán bộ tình báo, điệp báo, binh vận, trí vận như kỹ sư Tô Văn Cang, thẩm phán Triệu Quốc Mạnh, nhà báo Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt), Nguyễn Văn Cước…, những người gần gũi cách mạng hoặc cơ sở của Ban Mặt trận – trí vận Thành ủy Sài Gòn – Gia Định (T4) như luật sư Trần Ngọc Liễng, chuẩn tướng Sài Gòn Nguyễn Hữu Hạnh (cơ sở binh vận), cùng với nhiều nhân vật như giáo sư Lý Chánh Trung, nữ luật sư Ngô Bá Thành, nguyên phó chủ tịch hạ viện Sài Gòn Hồ Văn Minh (cố vấn của Dương Văn Minh) những dân biểu đối lập… đều nhất trí ủng hộ phương án Dương Văn Minh nhận làm tổng thống để chấm dứt chiến tranh.

Vào đầu tháng 4-1975, tại nhà riêng của Dương Văn Minh diễn ra cuộc họp của nhóm những người gần gũi nhiều năm, bàn việc Dương Văn Minh lên thay Nguyễn Văn Thiệu nhằm thực hiện một trong nhiều phương án (hoặc thương lượng, hoặc bàn giao, hoặc đầu hàng…), góp phần kết thúc chiến tranh, hạn chế, ngăn chặn đổ máu, tàn phá. Vốn có sẵn tâm tư và nguyện vọng trên, Dương Văn Minh chấp nhận ý kiến đề xuất của nhóm thân hữu này.

Văn phòng báo chí cạnh tướng Dương Văn Minh đã phát đi “tuyên cáo” in ronéo của đại tướng Dương Văn Minh chống “chính phủ Thiệu không có Thiệu” (bằng ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp). Bản tuyên cáo được gửi đến nhiều hãng thông tấn, báo chí trong nước và nước ngoài, được đông đảo nhân dân Sài Gòn hưởng ứng và gây xôn xao dư luận ở ngoài nước, tạo thanh thế cho đại tướng Dương Văn Minh. Nội dung tuyên cáo yêu cầu loại trừ “chính phủ Thiệu không có Thiệu” cũng được Đài phát thanh Hà Nội, Đài phát thanh Giải phóng lên tiếng tán thành.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, từng làm việc nhiều năm với tướng Dương Văn Minh, cho biết có ba lý do để Dương Văn Minh nhận làm tổng thống: chống chính phủ chiến tranh của Nguyễn Văn Thiệu; chống chính phủ “tử thủ” của Trần Văn Hương; muốn hòa hợp, hòa giải dân tộc.

Đại tá Mỹ Dave Richard Palmer, một người đã tham gia chiến tranh Việt Nam, nhận xét về tình hình lúc đó: “Một liên minh đảng phái muốn cứu vãn tình hình và chống đỡ phần nào sự sụp đổ đã đưa tướng Dương Văn Minh – từ lâu đã rút khỏi chính trường – trở lại để cố dàn xếp một cuộc đầu hàng thông qua thương lượng”.

Trần Văn Hương định lợi dụng phiên họp “lưỡng viện” của quốc hội Sài Gòn ở trụ sở thượng viện ngày 26-4-1975 để yêu cầu quốc hội “cho ông ta quyền chỉ định một chính phủ đứng ra thương thuyết (tức không giao chức cho tổng thống Dương Văn Minh) hoặc đánh đến cùng, “dẫu Sài Gòn có biến thành biển máu…”. Nhưng mọi việc bị đảo ngược. Phái đối lập ủng hộ Dương Văn Minh tán phát 48 bản tuyên cáo chống Trần Văn Hương và cướp diễn đàn. Giới thông tấn báo chí tung ra tin: tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã chạy trốn.

Phiên họp biểu quyết Trần Văn Hương phải trao quyền cho đại tướng Dương Văn Minh.

Dương Văn Minh được ta vận động từ năm 1962, ngoài binh vận, các cánh tình báo và trí vận Sài Gòn cũng có người quan hệ. Cục Địch vận – Tổng cục Chính trị đào tạo người em ruột của Dương Văn Minh là ông Dương Thanh Nhựt (Mười Ty).

Ông Nhựt được Thường vụ Trung ương Cục, trực tiếp là Bí thư Trung ương Cục Nguyễn Văn Linh và Thường vụ Trung ương Cục Trần Nam Trung (bí danh Hai Hậu, Năm Nga) chỉ đạo tiếp cận Dương Văn Minh nhiều lần ở Sài Gòn và ở nước ngoài. Lúc đó Dương Văn Minh tỏ ra có cảm tình với cách mạng (tuy chưa hoàn toàn nhất trí với ta). Thời kỳ chuẩn bị đảo chính Diệm – Nhu ngày 1-11-1963, Dương Văn Minh đã nói với ông Nhựt nếu không thành công thì hoặc là tạm lánh ra nước ngoài, hoặc chạy ra vùng giải phóng.

Sau đảo chính Diệm – Nhu, khi nắm quyền quốc trưởng, Dương Văn Minh ngỏ ý muốn thương lượng theo lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc giải phóng để đi đến tuyển cử tự do, thành lập một chính phủ trung lập ở miền Nam Việt Nam. Vì vậy, Dương Văn Minh đã bị Mỹ gạt bỏ. Trước tình hình đó, Trung ương Cục nhận định Dương Văn Minh đối với Mỹ vẫn là “con bài cuối cùng” mà Mỹ sẽ phải cần đến, chỉ đạo tiếp tục giữ mối liên lạc vận động Dương Văn Minh.

Trích sách Lịch sử Nam bộ kháng chiến

(*) Tít chính và tít nhỏ trong bài do tòa soạn đặt

Kỳ tới: Ván bài hòa bình

tuoitre.vn

Ký ức hào hùng

LTS: Nhà báo Minh Điền là một trong những nhiếp ảnh gia quân đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những hồi ức một thời trận mạc lại bồi hồi thức dậy trong ông, nên ông quyết định công bố kho tư liệu ảnh về những kỷ niệm chiến trường hào hùng năm xưa. Qua phóng sự ảnh này, ông rất mong có thể gặp lại những người là nhân vật xuất hiện trong các bức ảnh năm xưa, đó sẽ là “hạnh phúc vô bờ” – Nhà báo Minh Điền cho biết.

Nụ cười của người chiến sĩ khi đã làm chủ Sân bay Tân Sơn Nhất.

Một điểm tập kết của quân giải phóng trước khi vào trận đánh cuối cùng, tại rừng cao su Lộc Ninh.

Công binh khai thác đá trên sông Thu Bồn để làm đường cho xe tăng ta vào trận.

Nữ dân công hỏa tuyến tải đạn, chuẩn bị vượt sông Ba Lòng.

Phút dừng chân bên suối của người nữ thanh niên xung phong.

Những đàn voi vận chuyển vũ khí và lương thực phục vụ chiến dịch trên đường 14 (Tây Nguyên).

Trên đường Trường Sơn, những vườn rau di động được ngụy trang che mắt quân thù.

sggp.org.vn

Thơ ngày Chiến thắng

QĐND Online – Ngày toàn thắng 30-4-1975 trở thành một dấu mốc quan trọng trong lịch sử hào hùng của dân tộc. Miền Nam yêu dấu được giải phóng, đất nước Việt Nam thống nhất “từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”. Mở ra một trang sử mới tươi đẹp và thiêng liêng của dân tộc. Trong không khí hân hoan của giờ phút lịch sử ấy, nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại những xúc cảm không thể nào quên:

Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến, xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa.

Cho chúng con giữa Vui này được khóc
Hôn mỗi đứa em, ôm mỗi mẹ già
Như lòng Bác, mỗi khi Bác đọc
Đồng bào miền Nam, mắt kính bỗng nhoà.
(Toàn thắng về ta)

Nếu như những thước phim tư liệu, những tác phẩm nhiếp ảnh, báo chí… ghi lại từng khoảnh khắc chân thực của ngày chiến thắng thì thơ ca lại gợi cho người đọc niềm cảm xúc hân hoan như thể ta đang được đi dưới màu cờ hoa rực rỡ của ngày 30-4 ấy. Chính cảm xúc đã giúp cho những hình ảnh kia luôn có sức sống, tạo ra một sự chuyển động như thể đang diễn ra trước mắt, xoá nhoà khoảng ngăn cách của thời gian.

Xe tăng húc đổ cổng rào và tiến thẳng vào Dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu/internet.

Hình ảnh đoàn quân chiến thắng tiến vào thành phố Sài Gòn được nhà thơ tái hiện như một cuộc gặp gỡ của một gia đình ấm cúng. Những “em”, những “mẹ” trong vòng tay của những người con miền Bắc đã nói lên tất cả: Ngày đoàn tụ thiêng liêng nhất của dân tộc là đây. Thời khắc mà vị Cha già kính yêu đã từng mong mỏi, đã từng nhoà nước mắt khi nhắc đến “Đồng bào miền Nam” ruột thịt thân thương.

Cũng với niềm cảm xúc ấy, nhà thơ Bằng Việt, với đôi chân của người phóng viên chiến trường đã theo sát những bước tiến của cuộc Tổng tiến công mùa xuân lịch sử. Dường như không kìm nén được những xúc cảm anh đã thốt lên những câu thơ mộc mạc mà sâu lắng trong đêm 30-4 năm ấy:

Đi giữa phố, khóc cười như trẻ nhỏ…
Cái giây phút một đời người mới có
Thật đây rồi, vẫn cứ nghĩ như mơ.

Niềm vui của người phóng viên trẻ khi được kết tinh trong một câu thơ đầy hứng khởi: “Cái giây phút một đời người mới có”. Giây phút ấy quý giá vô ngần, bỗng dưng lại được trở về hồn nhiên như trẻ nhỏ, bỗng dưng không tin nổi những gì đang chứng kiến bởi chiến thắng ấy kì vĩ như một huyền thoại, lung linh như một giấc mơ.

Nhưng bên cạnh gam màu vui tươi, thơ viết trong ngày toàn thắng còn mang một gam màu trầm lắng, suy tư của thế hệ những người lính luôn ý thức được sứ mệnh của lịch sử:

Ta vào Sài Gòn… theo lời Di chúc
Vào nội ô sáng rực tên Người
Sài Gòn nhìn ta bằng đôi mắt
Ba mươi năm trông ngóng Sài Gòn ơi!
(Nguyễn Bá)

Nhà thơ nhìn thành phố Sài Gòn hoa lệ bằng cái nhìn xuyên thấm của chiều sâu nội cảm. Nhìn thấy đôi mắt của Sài Gòn mỏi mòn trông ngóng từ độ Mậu Thân, đôi mắt chờ mong của nhưng người dân yêu nước và yêu chuộng hoà bình. Ba mươi năm đồng bào ta đã phải chịu bao nhiêu hi sinh vất vả. Giờ đây tất cả đã bừng sáng với tên gọi thiêng liêng: Thành phố Hồ Chí Minh yêu dấu.

Nhắc đến thắng lợi ấy, còn phải nhớ về những gian lao, vất vả, những hi sinh trên chặng đường tiến vào giải phóng Sài Gòn . Nhà thơ Ngô Thế Oanh nhớ đến những đồng đội đã anh dũng ngã xuống không được chứng kiến ngày toàn thắng:

Quân phục đẫm mồ hôi bụi đất
Chiếc bi-đông chuyền tay cứu khát
Những vòm sao cao vút trên đầu
Cụm mây trắng tinh di động về đâu.
Đồng đội của tôi, đồng đội của tôi
Nói gì được nữa đây trong buổi mai toàn thắng.
(Khoảng lặng yên tháng tư)

Người con của miền Bắc hân hoan được gặp những “mẹ”, những “em” của miền Nam ruột thịt bởi niềm vui đất nước được toàn vẹn, niềm vui được nhân lên. Trong khí ấy, những người con miền Nam nghẹn ngào cảm xúc khi được trở về mảnh đất quê hương sau bao ngày xa cách:

Chúng con đi mờ khuất dãy Trường Sơn.
Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương
Như hôn người yêu sau ngày xa cách
Tôi không khóc nhưng bỗng trào nước mắt
(Con đã về với mẹ quê hương)

Hình ảnh nước mắt trào lên đôi mắt người chiến sĩ miền Nam thật cảm động và giàu sức gợi. Đó là những gì đã kìm nét suốt ba mươi năm lịch sử để mong ngày đoàn tụ. Là một tinh thần bi tráng được thể hiện trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của dân tộc. Đã bao lần giặc tàn phá quê hương miền Nam, nhưng người chiến sĩ đã biết kìm nén đau thương để biến nó thành một sức mạnh quật khởi. Và cũng chính sức mạnh ấy đã làm nên một chiến thắng vĩ đại như thế.

Hơn ba mươi năm đã trôi qua. Đọc lại những vần thơ chiến thắng trong ngày 30-4 này chúng ta như được sống lại với cảm xúc và không khí của thời khắc ấy. Những vần thơ đã được khắc ghi trong lòng bạn đọc và sẽ mãi còn được ngân vang như một khúc khải hoàn dưới màu cờ hoa rực rỡ.

Bùi Việt Phương

qdnd.vn

Yêu nước

“Tình yêu nước ban đầu là tình yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu dãy phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu…”, câu văn ấy từng đọng lại trong tâm hồn một thế hệ học sinh kháng chiến những năm 50, để rồi vì tình yêu ấy mà họ “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”. Vì tình yêu nước, nhiều thế hệ trẻ VN đã hiến dâng đời mình cho Tổ quốc, có vậy mới có ngày 30 tháng 4 lịch sử hôm nay.

Đương nhiên, không một dân tộc nào sống trên quả đất này mà lại không yêu đất nước của mình. Nhưng tùy theo sự hình thành quốc gia, dân tộc trên những vùng lãnh thổ khác nhau, trong những điều kiện không giống nhau, tính thường trực và nhạy cảm của lòng yêu nước cũng sẽ không có những biểu hiện như nhau.  Arnold Toynbee, nhà sử học lớn nhất của thế kỷ XX, qua nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới từng đưa ra nhận định: “thành công của con người thường là kết quả sự chống trả đối với thách thức”.  Điều kiện hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc ta trong một vị thế địa-chính trị “trứng nằm dưới đá”, triền miên phải đối diện với các thế lực xâm lược luôn lớn hơn mình gấp bội, “sự chống trả đối với thách thức” ấy quả là khốc liệt. Nhưng cũng chính vì thế, lòng yêu nước trở thành một đặc điểm nổi bật trong tính cách VN. Chạm vào điểm nhạy cảm bậc nhất này trong nỗi niềm VN sẽ rung lên những cung bậc hết sức mãnh liệt và đa dạng trong bản giao hưởng tình cảm và hành động VN, đặc biệt là trong thế hệ trẻ, nguồn sinh lực sung sức nhất của dân tộc.  Với ngày 30.4.1975, lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc như trỗi dậy, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc trường chinh cứu nước gần một phần ba thế kỷ của mấy thế hệ VN, non sông đã quy về một mối. Rồi hơn một phần ba thế kỷ nữa trôi qua, cao trào của bản giao hưởng nỗi niềm dân tộc, sự sục sôi của tình cảm yêu nước trong mọi trái tim VN ở mọi cung bậc khác nhau ấy của đủ mọi tầng lớp xã hội vẫn là nét đẹp nhất của đời sống tinh thần VN.

Từ đỉnh cao chiến thắng, mấy ai lường hết được những gì rồi sẽ xảy ra. Điều ấy là thường tình. Những khó khăn dồn dập, thế nước có lúc chung chiêng bên bờ vực của cuộc khủng hoảng kéo dài, nhưng rồi sức sống VN trỗi dậy, tạo ra bước ngoặt quyết định của Đổi Mới, đưa đất nước bứt lên. Và chính trong bối cảnh ấy, là đồng tác giả của Đổi Mới, các tầng lớp nhân dân đã biểu thị lòng yêu nước của mình trong vô vàn những trạng huống cực kỳ phong phú.

Khi có độ lùi về thời gian để tỉnh táo suy tư về dòng chảy của những sự kiện mới thấy hết ý nghĩa lạ lùng của nó. Chẳng hạn như, sức quật khởi cứu nước dạo nào vào lúc cam go trước Đổi Mới lại biểu hiện ra trong sự “phá rào” để “khoán chui” của người nông dân vừa buông tay súng để nắm lại tay cày, tháo gỡ thế bế tắc, đẩy cuộc sống đi tới. Chính sức năng động tự thân của cuộc sống, một dạng biểu hiện thầm lặng của truyền thống yêu nước, đã “cứu một bàn thua trông thấy” trong nông nghiệp nông thôn để rồi tác động đến công nghiệp và đô thị, khởi động sự nghiệp Đổi Mới do Đảng lãnh đạo, mà nếu không có nó, thì không có được những thành tựu như đã có.

Tuổi trẻ hôm nay đang được thử thách trong một nhiệm vụ mà xem ra cũng gian nan không kém so với cha anh. Họ phải đưa đất nước bứt lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu để bước vào quỹ đạo của phát triển mà do một thời “bút nghiên phải xếp lại” đã bị lạc hậu, không những thế, có lĩnh vực đã lạc điệu trong quỹ đạo đó. Người ta ngày càng nhận ra rằng, “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn to đẹp hơn” khó khăn không kém, thậm chí trên nhiều khía cạnh còn nghiệt ngã hơn nhiều, so với đấu tranh giành lại nước từ tay quân thù.

Khi “sơn hà nguy biến” trước giặc ngoại xâm thì phải bằng súng gươm để hóa giải, nhưng khi đất nước đối diện với nghèo nàn và lạc hậu, với tham nhũng và thoái hóa của một bộ phận không nhỏ cán bộ có chức quyền, thì phải bằng bản lĩnh và trí tuệ của tuổi trẻ để giúp nước. Cuộc chiến đấu này không có gươm súng, không dàn thành trận tuyến nhưng “là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra cái mới mẻ tốt tươi” như Bác Hồ đã chỉ ra. Bác gọi đây là “cuộc chiến đấu khổng lồ” mà muốn giành thắng lợi thì phải “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

Trong “lực lượng vĩ đại” đó, tuổi trẻ phải là lực lượng xung kích. Chính vì không dàn thành trận tuyến nên bản lĩnh cá nhân trên từng chỗ đứng của mình có ý nghĩa quyết định sự thành bại.

Biết đánh thức sức mạnh của tình yêu nước trong bầu nhiệt huyết của thanh niên, điểm nhạy cảm nhất trong tâm thức VN, đánh thức tiềm lực trong những trái tim thế hệ trẻ, mới tạo ra được những biến chuyển mang tính đột phá, đưa đất nước bứt lên trong nhịp phát triển của thời đại.

Tương Lai

thanhnien.com.vn

Mặt trận nam Đà nẵng 1975

So sánh lực lượng

Thế bố trí của địch năm 1975, nếu bị đánh mạnh trên toàn miền Nam thì rõ ràng địch không có khả năng tăng viện cho nhau. Với lực lượng tại chỗ tại đồng bằng khu 5, khả năng cao nhất của địch tập trung vào một khu vực nóng là 4-5 trung đoàn bộ binh và 1-2 chi đoàn xe tăng, thiết giáp.

Trong trường hợp buộc phải rút quân dù chi viện cho nơi khác thì khả năng đó còn thấp hơn. Đó là chưa kể yếu tố tâm lý khi “vắng” quân dù, quân đồn trú sẽ rất lo ngại.

Về ta, sau khi sư đoàn 3 vào đánh cắt đường số 19 phối hợp với chiến dịch Tây Nguyên, quân khu 5 đã giao nhiệm vụ đánh địch ở từng chiến trường, chủ lực còn lại gồm 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 1 trung đoàn và phần lớn binh khí kỹ thuật đều tập trung vào khu trọng điểm chiến dịch (tây Tam Kỳ). Như vậy so sánh lực lượng bộ binh khi bước vào chiến dịch, trên hướng trọng điểm sẽ là ta 1/ địch 1.

Lực lượng quân Ngụy Sài Gòn năm 1975 ở đồng bằng ven biển miền Trung có 4 sư đoàn, 3 liên đoàn biệt động quân, 4 thiết đoàn xe tăng thiết giáp, 16 tiểu đoàn và 5 đại đội pháo (không kể không quân). So sánh lực lượng địch-ta thì về bộ binh, địch 1,9/ta 1; về pháo và xe tăng thiết giáp, địch từ 3-5/ta 1. Nếu tính riêng chiến trường trọng điểm Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi thì về bộ binh, địch 2,2/ta 1. Vấn đề đặt ra làm thế nào để có ưu thế chiến dịch, nhất là phải có ưu thế lực lượng hơn hẳn địch trong các trận đánh then chốt để giành thắng lợi nhanh và gọn.

Hai biện pháp lớn

Để tạo ra ưu thế hơn hẳn địch ở hướng trọng điểm chiến dịch, quân khu đã cho thực hiện hai biện pháp lớn:

Một là, do bị uy hiếp mạnh bởi thế trận của ta tạo ra sau hè – thu 1974, lực lượng chủ lực địch ở ba tỉnh nam quân khu 1 địch buộc phải giãn ra đối phó với ta ở Thượng Đức (Quảng Đà), tây Quế Sơn (Quảng Nam), Nghĩa Hành – Minh Long (Quảng Nghãi) và trên vành đai bảo vệ Đà Nẵng. Quân khu đã chủ động mở trước các chiến dịch tiến công tổng hợp của chiến tranh nhân dân địa phương để nghi binh, kiềm giữ, buộc chủ lực địch phải đối phó với các lực lượng địa phương ta ngay tại khu vực đang đứng chân, tạo điều kiện cho chủ lực ta tập trung trên hướng chủ yếu và bất ngờ tiến công địch.

Hai là, sử dụng các trung đoàn tập trung của Quảng Ngãi tổ chức khu chiến đánh cắt giao thông trên đoạn Đốc Sỏi (giữa Chu Lai và Quảng Ngãi) với nhiệm vụ lức đầu giữ chặt không cho sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra ứng cứu cho Tam Kỳ, sau đó theo mệnh lệnh của quân khu mở cửa cho từng trung đoàn địch đi vào khu chiến theo ý định của chiến dịch.

Dùng các tiểu đoàn tập trung của Quảng Nam thọc xuống vùng đông Thăng Bình diệt địch, giành quyền làm chủ, kéo trung đoàn 2 của sư đoàn 3 ngụy xuống và treo chân địch lại ở đó.

Trung đoàn tập trung của Quảng Đà mở khu chiến ở Gò Nổi và đường số 100 diệt địch, tiếp tục kiềm chân sư đoàn 3 (thiếu) của địch tại địa phương.

Tình hình đã diễn ra đúng như ý định chiến dịch của ta: Từ đầu tháng 3 năm 1975, chiến dịch tiến công tổng hợp của các địa phương bắt đầu. Chủ lực địch bị kiềm giữ tại chỗ, ta triển khai lực lượng chiến dịch trên hướng chủ yếu hoàn toàn bí mật bất ngờ.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, trong khi ở nam Tây Nguyên ta tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, thì chủ lực của quân khu 5 với ưu thế lực lượng hơn hẳn địch đã tiến công tiêu diệt và phá vỡ hoàn toàn cụm phòng ngự, cơ bản Tiên Phước – Phương Lâm, lá chắn trực tiếp bảo vệ cho thị xã Tam Kỳ; chiếm giữ và khống chế toàn bộ các điểm cao phía tây Tam Kỳ, hình thành thế trận sẵn sàng đánh tiêu diệt từng trung đoàn chủ lực ngụy vào ứng cứu.

Quân địch hốt hoảng vội vã điều lực lượng về ứng cứu. Nhưng theo đúng kế hoạch, sau khi “thả” cho trung đoàn 5 đi qua, lực lượng địa phương Quảng Ngãi đã khoá chặt lực lượng còn lại của sư đoàn 2 ngụy tại chỗ. Ở Quảng Nam, trung đoàn 2, sư đoàn 3 ngụy vừa rục rịch cơ động cũng bị lực lượng ta kéo xuống vùng đông và giam chân tại đó. Trong lúc đó sư đoàn 3 (thiếu) cũng bị lực lượng Quảng Đà giữ chân lại.

Ngoài trung đoàn 5, sư đoàn 2, quân địch chỉ đưa thêm được đến tây Tam Kỳ liên đoàn 12 biệt động quân. Giờ đây, so sánh lực lượng tại khu trọng điểm chiến dịch trong thời điểm này, về bộ binh, ta 2,5/địch 1. Ta khống chế được địa hình có lợi và dựa vào ưu thế binh lực hơn hẳn địch, ta chủ trương tập trung lực lượng đánh tiêu diệt hoặc đánh thiệt hại nặng làm mất sức chiến đấu từng trung đoàn chủ

lực, tiêu diệt và đánh cạn lực lượng chủ lực cơ động ngụy đi ứng cứu, tạo ra thời cơ trực tiếp giải phóng Tam Kỳ – Quảng Ngãi, thực hiện chia cắt địch về chiến lược đồng bằng ven biển.

Tiến công áp đảo

Ngày 21 tháng 3 năm 1975, sau hơn 6 giờ tiến công áp đảo, ta đã đánh thiệt hại nặng cả trung đoàn 5 và liên đoàn 12 biệt động quân ngụy. Quân địch lại phải vét lực lượng

tăng cường phòng thủ Tam Kỳ nhưng chúng cũng chỉ có thêm được một trung đoàn, vì “cánh cửa” bắc Quảng Ngãi của ta đã khoá chặt sau khi cho trung đoàn 4 ngụy đi qua, trong lúc các đơn vị khác vẫn bị giam chân tại chỗ.
Lúc này tình hình tác chiến chung đang phát triển như vũ bão và rất thuận lợi cho ta. Toàn bộ lực lượng ở Tây Nguyên đã bị tiêu diệt, chủ lực ta từ phía tây đang tràn xuống các tỉnh phía nam quân khu. Ở phía bắc, ta đã giải phóng Quảng Trị và đang từ ba mặt bao vây tiến công địch ở Thừa Thiên Huế.

Tuy chủ trương đánh tiêu diệt lực lượng cơ động ngụy mà chủ yếu là sư đoàn 2 ngụy, mới được thực hiện một phần, nhưng thời cơ đã xuất hiện, việc giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi đã trở thành một khả năng thực tế và cấp bách. Toàn bộ lực lượng dự trữ của quân khu được tung vào chiến đấu.
Ngày 24 tháng 3, ở phía bắc sư đoàn 2 của ta đột phá vào Tam Kỳ, trung đoàn 36 đánh chiếm quận lỵ, Lý Tín, chia cắt giữa Tam Kỳ và Chu Lai. Hai tiểu đoàn tập trung của Quảng Nam từ đông Thăng Bình vòng về phía nam, hình thành mũi vu hồi lợi hại từ phía đông đánh lên. Ở phía nam, trong lúc lữ đoàn 52 (thiếu) cùng 3 tiểu đoàn đặc công và một bộ phận pháo binh, thiết giáp của quân khu phối hợp với hai tiểu đoàn tập trung tỉnh tiến công vào thị xã Quảng Ngãi thì trung đoàn địa phương 94 bao vây tiêu diệt các đơn vị cơ động còn lại của quân ngụy đang tìm đường tháo chạy về Chu Lai. Quần chúng khắp nơi nổi dậy giành quyền làm chủ và kêu gọi địch bỏ vũ khí về với nhân dân.

Thực hiện chia cắt

Trên thế áp đảo, đến 11 giờ ngày 24 tháng 3 ta đã hoàn toàn làm chủ thị xã Tam Kỳ và 23 giờ 30 cùng ngày giải phóng thị xã Quảng Ngãi, tiêu diệt sư đoàn 2, 2 liên

đoàn biệt động, 2 thiết đoàn của ngụy.Như vậy là với một lực lượng chủ lực ít hơn địch, nhưng do khéo tổ chức và kết hợp các lực lượng, các khu chiến của chủ lực và địa phương, ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, tạo được ưu thế lực lượng hơn hẳn địch trong các trận then chốt. Kết quả đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động của quân khu 1 ngụy, thực hiện chia cắt quân địch về chiến lược trên chiến trường đồng bằng, cô lập Đà Nẵng về phía nam, góp phần tạo ra thời cơ tiêu diệt lực lượng còn lại của quân khu 1 địch.

Chuyển hướng tiến công ra Đà Nẵng
Kiên quyết bỏ qua các mục tiêu thứ yếu, tiến thẳng đến mục tiêu chủ yếu.

Chiến dịch tiến công của quân khu 5 trên hướng Tam Kỳ – Quảng Ngãi lúc đầu mang tính chất địa phương, nhằm phối hợp chiến trường chung và giành một thắng lợi quân sự cục bộ, tạo lực tạo thế, tạo thời cơ cho các chiến dịch tiếp theo. Dựa vào thế tiến công chung trên toàn chiến trường miền Nam, chiến dịch đã phát triển thuận lợi, giành thắng lợi lớn trong thời gian ngắn, và cùng với thắng lợi chung, tạo ra thế bao vây chia cắt, cô lập căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng từ ba hướng bắc, tây, nam. Đà Nẵng trở thành mục tiêu phát triển tất yếu của chiến dịch giải phóng Thừa Thiên Huế ở phía bắc và chiến dịch giải phóng Tam Kỳ – Quảng Ngãi ở phía nam; chiến dịch tiến công của quân khu trên hướng Tam Kỳ – Quảng Ngãi mặc nhiên trở thành một bộ phận của chiến dịch lịch sử Huế – Đà Nẵng.

Đà Nẵng là căn cứ quân sự liên hợp lớn thứ hai của Mỹ ngụy ở miền Nam. Đến ngày 25 tháng 3, do tăng thêm đám tàn quân từ Trị – Thiên dồn vào, tổng quân số địch ở Đà Nẵng lên đến 10 vạn tên, trong đó có 15 tiểu đoàn quân chủ lực và 15 tiêu đoàn bảo an. Tuy nhiên trong quân ngụy tư tưởng thất bại tràn lan, phần lớn bọn sĩ quan chỉ lo cứu bản thân và gia đình, hàng ngũ địch bắt đầu hỗn loạn.

Tranh thủ và tận dung thời cơ, phát triển tiến công trong hành tiến với tốc độ cao là thành công lớn của quân khu trong nghệ thuật chỉ huy ở cánh phía nam của chiến dịch này.

Chiếu 24 tháng 3, khi trận tiến công giải phóng Tam Kỳ còn chưa kết thúc, quân khu đã ra mệnh lệnh sơ bộ cho các đơn vị phát triển về hướng Đà Nẵng, và ngay đêm đó hạ quyết tâm giải phóng Đà Nẵng, theo cách đánh tiến công phát triển nhanh để phối hợp với hai cánh quân phía bắc và phía tây của Quân đoàn 2. Bỏ qua các mục tiêu thứ yếu, tập trung lực lượng đánh thẳng vào Đà Nẵng, quyết tâm đó hoàn toàn phù hợp với ý định của trên. Ngày 25 tháng 3, quân khu nhận được điện của Bộ Tổng tham mưu: “Tiến công nhanh Đà Nẵng bằng lực lượng tại chỗ có thể huy động được, không chờ lực lượng trên tăng cường. Vấn đề mấu chốt là diệt quân đoàn 1 ngụy và sư đoàn lính thủy đánh bộ, không cho chúng rút lui co cụm về Sài Gòn”.

Mờ sáng ngày 28 tháng 3, cùng với hai mũi tiến công của quân đoàn 2, từ phía bắc vào và phía tây xuống, toàn bộ lực lượng chủ lực của quân khu ở hướng trọng điểm (sư đoàn 2, trung đoàn 36, lữ đoàn 52) và 2 trung đoàn tập trung tỉnh Quảng Đà hình thành một mũi tiến công mạnh, từ hướng nam theo trục đường 1 đánh ra Đà Nẵng.

Hòng làm chậm bước tiến của ta để quân của chúng có thêm thời gian tháo chạy, bọn chỉ huy quân ngụy vội vã cho máy bay đánh sập cầu Bà Rén và cầu Lâu, đồng thời hình thành nhiều chốt chặn dọc đường 1. Nhân dân ở hai bờ sông Thu Bồn đã huy động ngay hàng trăm thuyền chở bộ đội vượt sông nhanh chóng, an toàn. Nhân dân ở dọc đường số 1, kể cả nhân dân thành phố Đà Nẵng, đã huy động hàng trăm xe đủ loại để chở bộ đội tiến công. Các đơn vị được nhân dân giúp đỡ đã vượt qua bọn chốt chặn, thọc thẳng vào Đà Nẵng.

Tốc độ tiến công nhanh, sức mạnh tiến công áp đảo, hành động thọc sâu kiến quyết táo bạo của lực lượng chủ lực quân khu, hiệp đồng chặt chẽ với hai cánh quân của binh đoàn cơ động của Bộ và hành động nổi dậy giành quyền làm chủ của nhân dân, đã làm cho quân địch không kịp đối phó và tan vỡ rất nhanh. Chỉ đến 12 giờ trưa ngày 29 tháng 3, ta đã đánh chiếm xong các mục tiêu then chốt: sân bay, sở chỉ huy quân đoàn 1, toà thị chánh, quân vụ thị trấn, đài phát thanh; đến 15 giờ chiếm xong quân cảng và các mục tiêu trên đỉnh Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng.

Từ thắng lợi chia cắt, tiêu diệt địch, lực lương ta ở hướng nam Đà Nẵng đã góp phần vào chiến thắng vẻ vang của chiến dịch thứ hai. Mở ra thời cơ chiến lược cho toàn chiến trường miềnNam.

TRẦN DANH BẢNG (Tổng hợp)

qdnd.vn

Địch bỏ chạy khỏi Pleiku

Sáng 15-3, địch điều Liên đoàn 3 Biệt động quân, Thiết đoàn 19 về giữ Cheo Reo. Liên đoàn 6 Biệt động quân có công binh đi trước mở đường, bắc cầu từ Đông Cheo Reo về Củng Sơn, Tuy Hòa.

Địch tháo chạy khỏi Pleiku.

Cùng buổi sáng này, Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy và ban tham mưu đã rút chạy về Nha Trang với lý do thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột (?!). Như vậy là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa trước đó. Mặc dù kế hoạch rút chạy được thực hiện hoàn toàn bí mật nhưng binh sĩ và người dân vẫn nhận ra ý định bỏ Pleiku của ngụy.

Họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay di tản. Những ai không đi được bằng đường không thì dùng đủ loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắt nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, đánh nhau ầm ĩ trên đường. Cảnh đã rối loạn càng rối loạn hơn. Liên đoàn Biệt động quân 22 cũng rút chạy khỏi Kon Tum. Giao thông trong thị xã Phú Bổn ùn tắc, trong khi đó lượng người đổ về ngày càng đông.

Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trong một phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch phải rút chạy bỏ một địa bàn chiến lược quan trọng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên là một sai lầm lớn về mặt chiến lược, đã tạo thời cơ cho ta tiêu diệt nhiều quân địch và giải phóng Tây Nguyên.

Đêm 15-3, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý của địch ở Trị – Thiên: Liên đoàn Biệt động quân 14 chuyển ra Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển vào Đà Nẵng. Qua cuộc đọ sức lớn tại Buôn Ma Thuột và các diễn biến tiếp theo, có thể thấy rõ địch yếu hơn so với sự đánh giá của ta trước khi chiến dịch mở ra.

Địch không hy vọng giữ được Trị – Thiên, nên tập trung về giữ Đà Nẵng, nơi tập trung nhiều vị trí chiến lược xung yếu. Điều này càng khẳng định kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm của ta có thể được hoàn thành sớm hơn. Trước mắt, đã có thể mở cuộc tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn bộ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch chuẩn bị tháo chạy khỏi Tây Nguyên

Đại tướng Văn Tiến Dũng (thứ hai từ trái sang) tại Sở chỉ huy Mặt trận Giải phóng Tây Nguyên.

Ngày 14-3-1975, Sở chỉ huy mặt trận Tây Nguyên gửi điện báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về kết quả những ngày đầu của chiến dịch.

Sở chỉ huy hứa sẽ thực hiện tốt yêu cầu của trên là rút ngắn thời gian giành thắng lợi vượt mức kế hoạch đề ra. Việc giải phóng Tây Nguyên dự kiến trong năm 1976 nay chỉ còn trong vòng vài ba tháng của năm 1975.

Vào thời điểm này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng bộ sậu là Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang đã đến Cam Ranh bàn luận với Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 về số phận của Tây Nguyên.

Trước sự tấn công bất ngờ và quá mạnh của ta, bộ phận đầu não của địch quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân thật nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về giữ miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, điều này đã đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cách đó vài ngày.

Kế hoạch rút lui được địch triển khai bí mật cả với các lực lượng địa phương, không thông báo cho các tỉnh trưởng để họ “tử thủ” tiếp tục chống giữ. Một kế hoạch rút lui đã được Quân đoàn 2 chuẩn bị khá kỹ càng và gấp rút. Kế hoạch này bắt đầu từ ngày 15-3-1975.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn