Ký ức hào hùng

LTS: Nhà báo Minh Điền là một trong những nhiếp ảnh gia quân đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những hồi ức một thời trận mạc lại bồi hồi thức dậy trong ông, nên ông quyết định công bố kho tư liệu ảnh về những kỷ niệm chiến trường hào hùng năm xưa. Qua phóng sự ảnh này, ông rất mong có thể gặp lại những người là nhân vật xuất hiện trong các bức ảnh năm xưa, đó sẽ là “hạnh phúc vô bờ” – Nhà báo Minh Điền cho biết.

Nụ cười của người chiến sĩ khi đã làm chủ Sân bay Tân Sơn Nhất.

Một điểm tập kết của quân giải phóng trước khi vào trận đánh cuối cùng, tại rừng cao su Lộc Ninh.

Công binh khai thác đá trên sông Thu Bồn để làm đường cho xe tăng ta vào trận.

Nữ dân công hỏa tuyến tải đạn, chuẩn bị vượt sông Ba Lòng.

Phút dừng chân bên suối của người nữ thanh niên xung phong.

Những đàn voi vận chuyển vũ khí và lương thực phục vụ chiến dịch trên đường 14 (Tây Nguyên).

Trên đường Trường Sơn, những vườn rau di động được ngụy trang che mắt quân thù.

sggp.org.vn

Advertisements

Thắng lợi của chính nghĩa và giá trị nhân văn

Tái hiện niềm vui ngày thống nhất đất nước 30/4/1975

(baodautu.vn) Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, đỉnh cao là thắng lợi lịch sử 30/4/1975 đã mở ra kỷ nguyên mới – hoàn toàn độc lập, thống nhất, hòa bình, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngày 30/4 hàng năm đã trở thành ngày Quốc lễ – ngày hội thống nhất non sông – ngày hội hòa bình. Nhân Quốc lễ năm nay, Thiếu tướng, PGS.TS Vũ Quang Đạo, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam dành cho Báo Đầu tư cuộc trao đổi xung quanh trận đánh cuối cùng – trận đánh đem lại ngày hội hòa bình cho dân tộc.

Thưa Thiếu tướng, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được ghi nhận là một trong những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Vậy những điểm mang tính chất quyết định và những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự Việt Nam thể hiện trong chiến dịch này như thế nào?

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh không chỉ đứng ngang hàng với những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa… vĩ đại trong lịch sử, mà do tính chất của thời đại, chiến dịch còn có tiếng vang và sức lan tỏa lớn đối với lực lượng cách mạng và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Tính quyết định của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử trước hết do vị trí, vai trò của nó trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là trận quyết chiến cuối cùng, đem lại thắng lợi cuối cùng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ sắc bén, sự nỗ lực tuyệt vời của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Chiến dịch hội tụ đầy đủ những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự Việt Nam trong Thời đại Hồ Chí Minh. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sử dụng sức mạnh chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương với các đòn chủ lực ở các hướng trọng yếu; đúng đắn, sáng tạo trong nắm bắt và tận dụng thời cơ; táo bạo và cơ động trong sử dụng lực lượng…

Nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam còn thể hiện trong ý đồ chiến lược, chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật tổ chức chiến dịch, thể hiện trong việc xác định đúng mục tiêu chiến lược trong toàn bộ cuộc Tổng tiến công và mục tiêu của từng giai đoạn. Chúng ta đã thực hiện đúng tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh: trước hết là “đánh cho Mỹ cút”, ghi dấu bằng Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, tiến lên “đánh cho Ngụy nhào” – mà thực chất là quá trình “Mỹ cút” hoàn toàn – không thể can thiệp vào tình hình Việt Nam, với mốc son ngày 30/4/1975.

Thưa ông, chiến dịch cuối cùng giải phóng Sài Gòn – Gia Định được Bộ Chính trị quyết định lấy tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh” vào ngày 14/4. Việc chọn đặt tên như vậy có ý nghĩa như thế nào?

Chúng ta biết, chiều 14/4, ngay sau phiên họp của Bộ Chính trị, đồng chí Lê Duẩn gửi bức điện số 37/TK tới Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định với nội dung: Bộ Chính trị đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Quyết định của Bộ thống soái tối cao thể theo đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch, nhưng đồng thời, nó đáp ứng được ý nguyện thiết tha, thiêng liêng của đồng bào, chiến sĩ cả nước. Trận quyết chiến chiến lược kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng 30 năm được vinh dự mang tên lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Điều đó có ý nghĩa rất lớn, chẳng những thể hiện quyết tâm chiến lược giành thắng lợi cuối cùng, mà còn có tác dụng khích lệ, động viên khí thế của quân và dân ta tiến lên hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Là nơi chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước – nơi kết thúc hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do, vẹn toàn non sông gấm vóc Việt Nam, Sài Gòn – Gia Định đã trở thành TP.HCM trong kỷ nguyên hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo toàn quân vào trận cuối với tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam”. Đầu tháng 4/1975, Trung ương Cục miền Nam cũng ra chỉ thị cho quân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ hãy “táo bạo đánh các điểm then chốt khi có thời cơ”. Thưa ông, vì sao trong bối cảnh đó, chúng ta đặt vấn đề và nhấn mạnh phải “táo bạo”? Thực tế thì chúng ta đã thể hiện sự “táo bạo” đó như thế nào và đạt những kết quả cụ thể ra sao?

Phải thấy rằng, ý nghĩa chủ yếu của “táo bạo” chính là việc chớp “thời cơ”, tận dụng thời cơ. Thời cơ được tạo nên từ nhiều nhân tố và chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, bởi vậy phải hành động rất “táo bạo”. Đó là, táo bạo để địch bị bất ngờ, không kịp co cụm, phòng thủ; táo bạo để các thế lực khác không thể can thiệp vào cuộc chiến; táo bạo trong điều động, sử dụng lực lượng, mở đòn thọc sâu vào sào huyệt của đối phương.

Cần nói thêm rằng, vào thời điểm đó, táo bạo thể hiện tinh thần kiên quyết tiến công địch, trên cơ sở tính toán đầy đủ mọi khả năng để giành thắng lợi cuối cùng. Một trong những minh chứng sinh động cho sự “táo bạo” đó là trường hợp Quân đoàn 2 – Binh đoàn Hương Giang. Các đơn vị của Quân đoàn đã thực hiện “đánh địch trong hành tiến”, vượt qua 6 con sông lớn trong lúc nhiều cầu đã bị phá hủy, đập tan phòng tuyến Phan Rang, tập kết lực lượng đúng thời điểm quy định để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.

Như vậy, có thể nói, khi “thời gian là lực lượng”, thì phương châm hành động phải là “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” và nhịp độ của cuộc tiến công được tính “một ngày bằng hai mươi năm”.

Khi thời cơ đã nối tiếp thời cơ, chiến dịch mở ra chiến dịch, ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị xác định, “từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân, dân ta đã bắt đầu”. Theo dư luận nước ngoài, vào thời điểm đó, người ta thấy có những toan tính về kết cục của cuộc chiến tranh thông qua thương lượng. Thực chất của những “động thái” ấy là muốn làm chậm bước tiến của quân ta, ngăn trở thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp cách mạng mà nhân dân ta đã đổ bao máu xương mới giành được. Nói cách khác, họ muốn giữ cho chế độ Việt Nam cộng hòa không sụp đổ. Từ góc độ của một nhà nghiên cứu, ông có thể cung cấp thêm những thông tin, đánh giá khách quan của những người phía bên kia chiến tuyến, cũng như của dư luận thế giới về cục diện cuộc chiến khi đó?

Đúng là đã có sự can dự của các thế lực bên ngoài nhằm cứu vãn sự sụp đổ của chế độ Ngụy quyền Sài Gòn. Họ muốn đưa những quan chức cũ của Sài Gòn lên nắm quyền hòng tìm kiếm một giải pháp chính trị có lợi cho họ thông qua thương lượng. Tuy nhiên, khi mà nước Mỹ đã tỏ ra bất lực, quốc hội Mỹ vào giữa tháng 4/1975 chỉ thông qua khoản ngân sách 300 triệu USD theo họ là vào những mục đích nhân đạo, cùng với việc cho phép quân đội tham gia việc di tản người Mỹ; ngày 17/4, Kissinger (ngoại trưởng Mỹ) bình luận: “Cuộc tranh luận về chiến tranh Việt Nam đã xong” và mấy ngày sau đó, Tổng thống Mỹ G.Ford tuyên bố một điều đã trở nên rõ ràng: “Cuộc chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ”, thì dường như, mọi toan tính nhằm ngăn trở bước đường giành thắng lợi cuối cùng của nhân dân ta đều trở nên vô nghĩa.

Chúng ta đã có những nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng, khách quan về nguyên nhân thành công của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nói riêng, cũng như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung. Vậy giá trị cốt lõi để làm nên chiến thắng oanh liệt đó của dân tộc ta là gì, thưa Thiếu tướng?

Mấy thập niên qua, chúng ta đã có nhiều nghiên cứu, đánh giá, nhiều góc độ tiếp cận về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nói riêng, về cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung. Có thể thấy rằng, thắng lợi đó xuất phát từ nhiều yếu tố, trước hết là đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, từ khi lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đến cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược, và đến cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Mỹ; đó là kết quả của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam; đó là kết quả của tinh thần đại đoàn kết dân tộc…

Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trước hết là thắng lợi của chính nghĩa, của những giá trị nhân văn, cội rễ văn hóa của dân tộc.

Trong lịch sử, Nguyễn Trãi từng nêu “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Thời đại mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói, “lấy chính nghĩa để thắng phi nghĩa”.

Chúng ta đã chủ trương “táo bạo”, “thần tốc”, rút ngắn thời gian, giành thắng lợi theo cách tránh tối đa sự hao tổn xương máu. Mục tiêu đầu tiên là chúng ta giành thắng lợi để cứu rất nhiều con người – không chỉ của dân tộc Việt Nam mà cả các dân tộc khác – khỏi ách đô hộ đế quốc, thực dân. Do đó, chính cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đã làm nên nét đẹp cho “văn hóa giữ nước” của dân tộc Việt Nam, tô điểm thêm hình tượng của quân đội nhân dân, của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Nhiều kẻ vì động cơ cá nhân, mục tiêu tư lợi đã lên tiếng phê phán cuộc chiến là “nồi da, xáo thịt”, rêu rao sẽ có cuộc “tắm máu” khi cuộc chiến kết thúc… Thực tế lịch sử đã minh chứng, sau thắng lợi Xuân 1975 không có chia cắt, chỉ có thống nhất; không có “tắm máu”, chỉ có hòa hợp dân tộc, thống nhất và hòa bình cho đất nước. Và điều đó càng chứng tỏ giá trị nhân văn nằm trong cội rễ văn hóa Việt Nam, là mục tiêu và là động lực để cuộc kháng chiến thần thánh của chúng ta đi đến thắng lợi vĩ đại cuối cùng.

Huy Hào thực hiện

baodautu.vn

Lòng yêu nước và khát vọng hoà bình

(baodautu.vn) Cho đến bây giờ, sau hơn 35 năm im tiếng súng, tôi vẫn chưa hiểu tại sao sức chịu đựng của con người Việt Nam lại có thể bền dai phi thường đến thế.

Thành cổ Quảng Trị- nơi từng diễn ra những trận chiến ác liệt

Ba mươi năm chiến tranh ái quốc là ba mươi năm mất mát đến kinh hoàng, là ba mươi năm vượt ra ngoài khuôn khổ sức chịu đựng của con người, là ba mươi năm mà nếu không có lòng yêu nước, ý chí tự cường, lòng tự trọng của dân tộc, thì chúng ta sẽ không bao giờ bước qua được những dấu mốc lịch sử khốc liệt như vậy.

Lòng yêu nước sản sinh ra sự lãng mạn, sự lãng mạn hun đúc nên khát vọng chiến thắng. Thử hỏi, những năm cam go mù mịt ấy mà con người chỉ biết vùi đầu vào bom đạn, chết chóc mà không biết thỉnh thoảng ngước nhìn bầu trời cao xanh vời vợi của quê hương, không biết nhìn sâu vào đôi mắt trẻ thơ, em gái, không mộng mơ cồn cào có một ngày được trở về với mẹ già, với người yêu, với bản làng ngõ phố, với nồi bánh chưng lửa bập bùng linh diệu trong đêm trừ tịch…, thì người lính làm sao có thể chịu nổi áp lực nặng oằn của cuộc chiến sống còn.

Và cả điều này nữa, người lính làm sao có thể vượt qua được sự trống trải, tan hoang trong tâm hồn khi ba lần khăn gói lên đường làm cuộc tổng tiến công, nhưng hai lần ngậm ngùi trở lại. Bởi, cuộc sống dẫu có gian truân đến mấy, nhưng nếu nó liền mạch, nó cứ truội đi thì còn đỡ, thành quen, thành bản chất rồi, bỗng một ngày tưởng toàn thắng đến nơi, tưởng không còn phải trở về với rừng xanh bưng biền nữa, sống rồi, nhưng vẫn phải trở về, cảm giác đó rất dễ khiến sức chịu đựng bị đứt lìa, gẫy ngang. Nhưng rồi lạ kỳ thay, vẫn chịu được, coi như tất cả làm lại từ đầu.

Để rồi cái đêm cuối cùng, mấy thằng lính đặc công nằm bên mố cầu với nhiệm vụ chiếm lĩnh trong đêm để sáng mai đón đại quân kéo về vẫn tưởng như mơ, tưởng như trò đùa, lòng dạ chẳng mấy tin vào câu chuyện chỉ có nằm trong cổ tích ấy. Ôi, cái màn đêm cuối cùng của cuộc chiến dài dặc, bạn bè mất mát gần hết ấy mới phập phồng làm sao! Toàn thân bôi đen, bôi đỏ nằm dưới chân mấy người lính gác phía bên kia chờ giờ nổ súng, gió sông Sài gòn mang hương vị bèo lục bình thổi về rượi mát, tiếng bìm bịp kêu lành hiền trong lòng nước, con tắc kè nào khàn khàn gọi tuổi trên chạc cây, giây phút ấy sao cứ thấy đầu óc tan loãng ra, dịu nhẹ, dịu nhẹ đến nỗi chỉ muốn đội cỏ đứng dậy vỗ vào vai người lính mặc sắc phục lạ mà rằng, thôi cậu ơi, đánh nhau thế đủ rồi, đêm nay đẹp quá, tôi với cậu bỏ súng sang một bên vào quán làm một tô hủ tiếu cho ấm bụng! Nhưng rồi chiến tranh vẫn là chiến tranh, giờ G vẫn là giờ định mệnh cho cuộc đấu sinh tử, thay vì tô hủ tiếu và cái vỗ vai chân tình, người lính ướt đẫm sương đêm buộc phải đưa tay vào khoen tạc đạn…

Đêm ấy, chả biết người lính kia có sao không, giải phóng rồi, mấy lần chúng tôi trở về có ý hỏi thăm nhưng chịu, chả một ai biết. Bỗng thấy nao buồn. Thì ra, không ai dễ bỏ qua chuyện cũ hơn những thằng lính đã từng nện vào mặt nhau, nện chí tử nhưng nay thái bình rồi, gặp lại là hào phóng bắt tay, nhậu lai rai vài xị đế, chả ai muốn nhắc lại chuyện cũ, chuyện đã qua, thực chất là một chuyện buồn, chuyện để hiểu nhau và thương nhau hơn, cùng một nòi giống máu đỏ, da vàng gặp lúc loạn ly thì phải vậy thôi.

Dẫu rằng, vết thương chiến tranh để lại sao mãi mới lên được chút da non. Dễ hiểu thôi, đơn vị tôi nằm cách Sài Gòn 15 cây số, nhưng phải 10 năm trời mới hành quân đến được nơi cần đến. Như vậy, mỗi năm chỉ nhích được một cây số rưỡi, chỉ có điều mỗi cây số rưỡi ấy phải để lại hàng trăm xác đồng đội. Thực chất, đây là cuộc hành binh trên những nấm mồ để ca khúc khải hoàn tức tưởi giữa thành đô.

Chiến thắng 30/4! Niềm vinh quang được phát tụ bởi lòng yêu nước mênh mông sâu thẳm này không của riêng ai, và nỗi đau này cũng không chỉ nằm riêng một phía. Hơn 35 năm đã trôi qua, tôi đã có dịp trở về nhiều vùng chiến địa lúc này đây đã không còn một dấu tích ngoài những khu công nghiệp, những trung tâm dịch vụ sáng choang mà bỗng ngộ ra một điều: Chiến tranh có thể là trò đùa, nhưng nỗi đau là có thật. Nỗi đau hiện lên trong bạt ngàn nghĩa trang liệt sĩ, trên các ban thờ nghi ngút khói hương và trong đáy mắt mang nỗi đau vô bờ của những người mẹ, người chị, người vợ ở cả hai bên.

Tôi cũng đã đến thành cổ Quảng Trị, nằm một đêm với đồng đội không còn nữa tại nghĩa trang nghe gió thì thầm những câu chuyện ngày xưa và vẳng đâu đây câu thơ thấm đẫm hồn chiến sĩ của Lê Bá Dương: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/Đáy sông còn đó bạn tôi nằm…”. Để có câu thơ dứt ruột này, chàng thi sĩ lính chiến có hiểu không, khi nơi đáy sông đó không chỉ có linh hồn, thân xác của biết bao chiến sĩ cách mạng, mà còn có rất nhiều những thân xác, linh hồn của người lính phía bên kia, nhiều lắm…

Vâng, có thể người làm thơ không biết, nhưng lịch sử không nên quên. Lịch sử những ngày tháng đau thương và hào hùng này phải ghi lại tất cả, chân tình, sòng phẳng.

Cũng như tôi đã nhìn thấy một bà mẹ từ ngoài Bắc xa xôi vào nghĩa trang đặt vòng hoa lên mồ đứa con duy nhất, sau đó bà lặng lẽ đi vào trong thôn thắp một nén nhang cho đứa con thuộc liên đoàn biệt động Sài Gòn hồi ấy của bà mẹ cũng đang ngồi như hóa đá bên mộ con kia. Hai bà mẹ, hai nỗi niềm, hai mặc cảm giây phút ấy bỗng không còn ngăn cách.

Nhìn đáy mắt hai bà mẹ như cháy khẽ lên một điều lâu nay còn mơ hồ, nhưng nay đã thành hình, thành nét: Trái tim Lạc Hồng, lòng yêu nước mãnh liệt đã tạo nên một non sông liền cõi, một sắc trời tự do khoáng đạt hôm nay, nhưng lòng yêu nước bao giờ cũng hàm chứa sự bao dung đến tận cùng, vì thế sự hòa hợp để cùng nhau vì ấm no dân tộc, xét đến cùng cũng chính là lòng yêu nước.

Chu Lai

baodautu.vn

Thơ ngày Chiến thắng

QĐND Online – Ngày toàn thắng 30-4-1975 trở thành một dấu mốc quan trọng trong lịch sử hào hùng của dân tộc. Miền Nam yêu dấu được giải phóng, đất nước Việt Nam thống nhất “từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”. Mở ra một trang sử mới tươi đẹp và thiêng liêng của dân tộc. Trong không khí hân hoan của giờ phút lịch sử ấy, nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại những xúc cảm không thể nào quên:

Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến, xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa.

Cho chúng con giữa Vui này được khóc
Hôn mỗi đứa em, ôm mỗi mẹ già
Như lòng Bác, mỗi khi Bác đọc
Đồng bào miền Nam, mắt kính bỗng nhoà.
(Toàn thắng về ta)

Nếu như những thước phim tư liệu, những tác phẩm nhiếp ảnh, báo chí… ghi lại từng khoảnh khắc chân thực của ngày chiến thắng thì thơ ca lại gợi cho người đọc niềm cảm xúc hân hoan như thể ta đang được đi dưới màu cờ hoa rực rỡ của ngày 30-4 ấy. Chính cảm xúc đã giúp cho những hình ảnh kia luôn có sức sống, tạo ra một sự chuyển động như thể đang diễn ra trước mắt, xoá nhoà khoảng ngăn cách của thời gian.

Xe tăng húc đổ cổng rào và tiến thẳng vào Dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu/internet.

Hình ảnh đoàn quân chiến thắng tiến vào thành phố Sài Gòn được nhà thơ tái hiện như một cuộc gặp gỡ của một gia đình ấm cúng. Những “em”, những “mẹ” trong vòng tay của những người con miền Bắc đã nói lên tất cả: Ngày đoàn tụ thiêng liêng nhất của dân tộc là đây. Thời khắc mà vị Cha già kính yêu đã từng mong mỏi, đã từng nhoà nước mắt khi nhắc đến “Đồng bào miền Nam” ruột thịt thân thương.

Cũng với niềm cảm xúc ấy, nhà thơ Bằng Việt, với đôi chân của người phóng viên chiến trường đã theo sát những bước tiến của cuộc Tổng tiến công mùa xuân lịch sử. Dường như không kìm nén được những xúc cảm anh đã thốt lên những câu thơ mộc mạc mà sâu lắng trong đêm 30-4 năm ấy:

Đi giữa phố, khóc cười như trẻ nhỏ…
Cái giây phút một đời người mới có
Thật đây rồi, vẫn cứ nghĩ như mơ.

Niềm vui của người phóng viên trẻ khi được kết tinh trong một câu thơ đầy hứng khởi: “Cái giây phút một đời người mới có”. Giây phút ấy quý giá vô ngần, bỗng dưng lại được trở về hồn nhiên như trẻ nhỏ, bỗng dưng không tin nổi những gì đang chứng kiến bởi chiến thắng ấy kì vĩ như một huyền thoại, lung linh như một giấc mơ.

Nhưng bên cạnh gam màu vui tươi, thơ viết trong ngày toàn thắng còn mang một gam màu trầm lắng, suy tư của thế hệ những người lính luôn ý thức được sứ mệnh của lịch sử:

Ta vào Sài Gòn… theo lời Di chúc
Vào nội ô sáng rực tên Người
Sài Gòn nhìn ta bằng đôi mắt
Ba mươi năm trông ngóng Sài Gòn ơi!
(Nguyễn Bá)

Nhà thơ nhìn thành phố Sài Gòn hoa lệ bằng cái nhìn xuyên thấm của chiều sâu nội cảm. Nhìn thấy đôi mắt của Sài Gòn mỏi mòn trông ngóng từ độ Mậu Thân, đôi mắt chờ mong của nhưng người dân yêu nước và yêu chuộng hoà bình. Ba mươi năm đồng bào ta đã phải chịu bao nhiêu hi sinh vất vả. Giờ đây tất cả đã bừng sáng với tên gọi thiêng liêng: Thành phố Hồ Chí Minh yêu dấu.

Nhắc đến thắng lợi ấy, còn phải nhớ về những gian lao, vất vả, những hi sinh trên chặng đường tiến vào giải phóng Sài Gòn . Nhà thơ Ngô Thế Oanh nhớ đến những đồng đội đã anh dũng ngã xuống không được chứng kiến ngày toàn thắng:

Quân phục đẫm mồ hôi bụi đất
Chiếc bi-đông chuyền tay cứu khát
Những vòm sao cao vút trên đầu
Cụm mây trắng tinh di động về đâu.
Đồng đội của tôi, đồng đội của tôi
Nói gì được nữa đây trong buổi mai toàn thắng.
(Khoảng lặng yên tháng tư)

Người con của miền Bắc hân hoan được gặp những “mẹ”, những “em” của miền Nam ruột thịt bởi niềm vui đất nước được toàn vẹn, niềm vui được nhân lên. Trong khí ấy, những người con miền Nam nghẹn ngào cảm xúc khi được trở về mảnh đất quê hương sau bao ngày xa cách:

Chúng con đi mờ khuất dãy Trường Sơn.
Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương
Như hôn người yêu sau ngày xa cách
Tôi không khóc nhưng bỗng trào nước mắt
(Con đã về với mẹ quê hương)

Hình ảnh nước mắt trào lên đôi mắt người chiến sĩ miền Nam thật cảm động và giàu sức gợi. Đó là những gì đã kìm nét suốt ba mươi năm lịch sử để mong ngày đoàn tụ. Là một tinh thần bi tráng được thể hiện trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của dân tộc. Đã bao lần giặc tàn phá quê hương miền Nam, nhưng người chiến sĩ đã biết kìm nén đau thương để biến nó thành một sức mạnh quật khởi. Và cũng chính sức mạnh ấy đã làm nên một chiến thắng vĩ đại như thế.

Hơn ba mươi năm đã trôi qua. Đọc lại những vần thơ chiến thắng trong ngày 30-4 này chúng ta như được sống lại với cảm xúc và không khí của thời khắc ấy. Những vần thơ đã được khắc ghi trong lòng bạn đọc và sẽ mãi còn được ngân vang như một khúc khải hoàn dưới màu cờ hoa rực rỡ.

Bùi Việt Phương

qdnd.vn

Yêu nước

“Tình yêu nước ban đầu là tình yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu dãy phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu…”, câu văn ấy từng đọng lại trong tâm hồn một thế hệ học sinh kháng chiến những năm 50, để rồi vì tình yêu ấy mà họ “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”. Vì tình yêu nước, nhiều thế hệ trẻ VN đã hiến dâng đời mình cho Tổ quốc, có vậy mới có ngày 30 tháng 4 lịch sử hôm nay.

Đương nhiên, không một dân tộc nào sống trên quả đất này mà lại không yêu đất nước của mình. Nhưng tùy theo sự hình thành quốc gia, dân tộc trên những vùng lãnh thổ khác nhau, trong những điều kiện không giống nhau, tính thường trực và nhạy cảm của lòng yêu nước cũng sẽ không có những biểu hiện như nhau.  Arnold Toynbee, nhà sử học lớn nhất của thế kỷ XX, qua nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới từng đưa ra nhận định: “thành công của con người thường là kết quả sự chống trả đối với thách thức”.  Điều kiện hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc ta trong một vị thế địa-chính trị “trứng nằm dưới đá”, triền miên phải đối diện với các thế lực xâm lược luôn lớn hơn mình gấp bội, “sự chống trả đối với thách thức” ấy quả là khốc liệt. Nhưng cũng chính vì thế, lòng yêu nước trở thành một đặc điểm nổi bật trong tính cách VN. Chạm vào điểm nhạy cảm bậc nhất này trong nỗi niềm VN sẽ rung lên những cung bậc hết sức mãnh liệt và đa dạng trong bản giao hưởng tình cảm và hành động VN, đặc biệt là trong thế hệ trẻ, nguồn sinh lực sung sức nhất của dân tộc.  Với ngày 30.4.1975, lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc như trỗi dậy, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc trường chinh cứu nước gần một phần ba thế kỷ của mấy thế hệ VN, non sông đã quy về một mối. Rồi hơn một phần ba thế kỷ nữa trôi qua, cao trào của bản giao hưởng nỗi niềm dân tộc, sự sục sôi của tình cảm yêu nước trong mọi trái tim VN ở mọi cung bậc khác nhau ấy của đủ mọi tầng lớp xã hội vẫn là nét đẹp nhất của đời sống tinh thần VN.

Từ đỉnh cao chiến thắng, mấy ai lường hết được những gì rồi sẽ xảy ra. Điều ấy là thường tình. Những khó khăn dồn dập, thế nước có lúc chung chiêng bên bờ vực của cuộc khủng hoảng kéo dài, nhưng rồi sức sống VN trỗi dậy, tạo ra bước ngoặt quyết định của Đổi Mới, đưa đất nước bứt lên. Và chính trong bối cảnh ấy, là đồng tác giả của Đổi Mới, các tầng lớp nhân dân đã biểu thị lòng yêu nước của mình trong vô vàn những trạng huống cực kỳ phong phú.

Khi có độ lùi về thời gian để tỉnh táo suy tư về dòng chảy của những sự kiện mới thấy hết ý nghĩa lạ lùng của nó. Chẳng hạn như, sức quật khởi cứu nước dạo nào vào lúc cam go trước Đổi Mới lại biểu hiện ra trong sự “phá rào” để “khoán chui” của người nông dân vừa buông tay súng để nắm lại tay cày, tháo gỡ thế bế tắc, đẩy cuộc sống đi tới. Chính sức năng động tự thân của cuộc sống, một dạng biểu hiện thầm lặng của truyền thống yêu nước, đã “cứu một bàn thua trông thấy” trong nông nghiệp nông thôn để rồi tác động đến công nghiệp và đô thị, khởi động sự nghiệp Đổi Mới do Đảng lãnh đạo, mà nếu không có nó, thì không có được những thành tựu như đã có.

Tuổi trẻ hôm nay đang được thử thách trong một nhiệm vụ mà xem ra cũng gian nan không kém so với cha anh. Họ phải đưa đất nước bứt lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu để bước vào quỹ đạo của phát triển mà do một thời “bút nghiên phải xếp lại” đã bị lạc hậu, không những thế, có lĩnh vực đã lạc điệu trong quỹ đạo đó. Người ta ngày càng nhận ra rằng, “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn to đẹp hơn” khó khăn không kém, thậm chí trên nhiều khía cạnh còn nghiệt ngã hơn nhiều, so với đấu tranh giành lại nước từ tay quân thù.

Khi “sơn hà nguy biến” trước giặc ngoại xâm thì phải bằng súng gươm để hóa giải, nhưng khi đất nước đối diện với nghèo nàn và lạc hậu, với tham nhũng và thoái hóa của một bộ phận không nhỏ cán bộ có chức quyền, thì phải bằng bản lĩnh và trí tuệ của tuổi trẻ để giúp nước. Cuộc chiến đấu này không có gươm súng, không dàn thành trận tuyến nhưng “là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra cái mới mẻ tốt tươi” như Bác Hồ đã chỉ ra. Bác gọi đây là “cuộc chiến đấu khổng lồ” mà muốn giành thắng lợi thì phải “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

Trong “lực lượng vĩ đại” đó, tuổi trẻ phải là lực lượng xung kích. Chính vì không dàn thành trận tuyến nên bản lĩnh cá nhân trên từng chỗ đứng của mình có ý nghĩa quyết định sự thành bại.

Biết đánh thức sức mạnh của tình yêu nước trong bầu nhiệt huyết của thanh niên, điểm nhạy cảm nhất trong tâm thức VN, đánh thức tiềm lực trong những trái tim thế hệ trẻ, mới tạo ra được những biến chuyển mang tính đột phá, đưa đất nước bứt lên trong nhịp phát triển của thời đại.

Tương Lai

thanhnien.com.vn

Danh hiệu Anh hùng cho người tham gia bắt nội các Dương Văn Minh

Báo tin tức – Những thước phim, những hình ảnh về chiếc xe tăng đâm đổ cánh cổng Dinh Độc Lập vào ngày cuối cùng của tháng tư năm 1975 mãi mãi là dấu ấn không thể nào quên với những người con đất Việt. Bởi kể từ đó, có một dấu chấm hết cho thời kỳ đất nước bị chia cắt làm hai; bởi kể từ đó, đất nước Việt Nam bước sang một trang mới độc lập, thống nhất. Chính vào thời khắc ấy, cái tên Phạm Xuân Thệ – người tham gia bắt nội các Dương Văn Minh – đã đi vào lịch sử.

Và niềm vinh dự được nhân lên, khi vào những ngày tháng 4 này, Trung tướng Phạm Xuân Thệ đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Vậy là ông đã trở thành người anh hùng thứ 12 của Sư đoàn 304.

Phạm Xuân Thệ sinh ngày 24/8/1947, ở xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, ông đã lập được rất nhiều thành tích chiến đấu xuất sắc. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tháng 8/1967, người thanh niên Phạm Xuân Thệ lên đường nhập ngũ; sau đó được tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, trực tiếp vây lấn Trung đoàn 26 lính thủy đánh bộ Mỹ tại căn cứ Tà Cơn – Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị.

Trong trận chiến đấu tại động Cô Tiên (thuộc huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) vào tháng 6/1970, Đại đội của Phạm Xuân Thệ (lúc đó là Đại đội phó Đại đội 11) cùng với các đơn vị khác đã tiêu diệt được khoảng 1 tiểu đoàn địch, bắt tù binh và làm chủ trận địa. Với hành động chiến đấu dũng cảm, Phạm Xuân Thệ được anh em trong đơn vị tôn vinh “Cơn lốc động Cô Tiên”.

Tháng 2/1971, Phạm Xuân Thệ được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội 10 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66, tiếp tục tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị; đến tháng 8/1972 được bổ nhiệm là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66. Tháng 6/1973, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Trung đoàn 66 Sư đoàn 304. Đơn vị được lệnh hành quân vào chiến trường Khu 5, chiến đấu ở Mặt trận Quảng Đà. Đơn vị được giao nhiệm vụ đánh chiếm tiêu diệt căn cứ Thượng Đức thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Đà, nằm cách thành phố Đà Nẵng khoảng 40 km về phía tây. Ngày 28/7/1974, Trung đoàn 66 tiến hành đánh chiếm căn cứ Thượng Đức. Trung đoàn 66 tiến công từ đêm 28/7 đến 1/8/1974 mà vẫn chưa khống chế được căn cứ này. Đơn vị gặp nhiều khó khăn, phải dừng lại củng cố lực lượng. Ngày 3/8/1974, Trung đoàn 66 tiếp tục tiến công căn cứ này và Phạm Xuân Thệ được giao nhiệm vụ chỉ huy Tiểu đoàn 9 tiếp tục chiến đấu trên hướng thứ yếu của trung đoàn. Khi nhận nhiệm vụ, Thệ hứa với cấp trên: “Nếu không mở cửa đánh chiếm được Thượng Đức thì tôi không về”. 17 giờ ngày 6/8/1974 tiểu đoàn của ông bắt đầu nổ súng đánh chiếm căn cứ này. 30 phút sau, tiểu đoàn đã tiêu diệt được tiền đồn C, đại đội bảo an, bắt tù binh, tiêu diệt nhiều tên địch, chiếm giữ được phía tây căn cứ Thượng Đức.

Tổng thống Dương Văn Minh và nội các chính quyền ngụy Sài Gòn đầu hàng quân giải phóng ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu-TTXVN

Lúc này, ở hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 8 vẫn chưa đánh chiếm được cửa mở vào căn cứ. Do vậy, cấp trên quyết định chuyển Tiểu đoàn của Phạm Xuân Thệ từ hướng thứ yếu trở thành hướng chủ yếu, tiếp tục phát triển chiến đấu, tạo điều kiện cho các hướng khác tiến công giải phóng Thượng Đức. Sau trận thắng này, Phạm Xuân Thệ được bổ nhiệm làm Trung đoàn phó Trung đoàn 66, tiếp tục chỉ huy đơn vị chốt giữ điểm cao 1062. Năm 1975, ông chỉ huy Trung đoàn 66 tham gia đánh địch giải phóng thành phố Đà Nẵng; thị xã Hàm Tân, tỉnh Bình Tuy (nay là tỉnh Bình Thuận).

Thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu của đồng chí Phạm Xuân Thệ:
– Một Huân chương Quân công hạng Nhì.
– Hai Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất.
-Một Huân chương chiến công hạng Nhất.
– Một Huân chương kháng chiến hạng Ba.
– Ba Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.
– Một Huy chương hữu nghị Cộng hòa Liên bang Nga (1980).
– Một Huy chương Quân kỳ quyết thắng. – Ba Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
– Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 Quân đoàn 2 nằm trong đội hình binh đoàn thọc sâu của quân đoàn. Ngày 29/4/1975, Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 gồm Trung đoàn 66, Lữ đoàn xe tăng 203, các lực lượng pháo binh, công binh, đặc công và các lực lượng phối hợp khác. Phạm Xuân Thệ được Ban chỉ huy trung đoàn giao chỉ huy lực lượng đi đầu của Trung đoàn 66 nằm trong đội hình thọc sâu của quân đoàn. Khi đến cầu Sài Gòn, địch chống trả quyết liệt, ông đã tổ chức chỉ huy đơn vị cùng lực lượng xe tăng đi đầu của Lữ đoàn 203 tiêu diệt 4 xe tăng và nhiều ụ súng, lô cốt ở tuyến phòng thủ sông Sài Gòn, đánh chiếm cầu Sài Gòn, nhanh chóng đưa lực lượng đi đầu thọc sâu vào nội đô Sài Gòn. Khi vào đến Dinh Độc Lập, Phạm Xuân Thệ gặp nội các chính quyền Sài Gòn. Khi đó, Dương Văn Minh nói: “Chúng tôi đã biết quân giải phóng tiến công vào nội đô, đang chờ quân giải phóng để bàn giao”. Nghe vậy, Phạm Xuân Thệ đã tuyên bố dứt khoát: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có bàn giao gì cả”. Sau đó, ông cùng với lực lượng thọc sâu của quân đoàn dẫn giải Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu ra đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Hành động này của Phạm Xuân Thệ thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, sự nhạy cảm sâu sắc về chính trị, trước thời khắc vô cùng quan trọng của lịch sử đất nước.

Sau này, trên nhiều cương vị như Trung đoàn trưởng, Sư đoàn trưởng, Tư lệnh Quân đoàn 2, Tư lệnh Quân khu I…, ông luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

PV

www.baotintuc.vn

Chiến thắng của dân tộc Việt Nam

Tính từ lúc đại tướng Dương Văn Minh lên nhậm chức (28/4/1975) cho đến khi đầu hàng (30/4/1975) chưa đầy hai ngày. Dù điều quyết định là áp lực của quân giải phóng lúc bấy giờ vừa mạnh vừa khẩn cấp, nhưng ở đây không thể không tính đến sự tác động của nhiều nhân tố hình thành sau một quá trình vận động lâu dài, trong đó nổi lên tinh thần dân tộc đều có ít nhiều trong mỗi con người Việt Nam.

Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở Đài Phát thanh Sài Gòn

Việc đại tướng Dương Văn Minh nhận chấp chính vào thời điểm mà sự cáo chung của chế độ Sài Gòn chỉ còn tính theo ngày giờ là kết quả tác động từ nhóm Dương Văn Minh, có phía cách mạng, có tình nghĩa của người em trung tá Dương Thanh Nhựt và của chính Dương Văn Minh đã nhận thức được tình thế vừa khẩn cấp vừa là cơ hội để chấm dứt chiến tranh. Pháp và Mỹ đều tưởng đưa Dương Văn Minh ra làm tổng thống thì có thể lợi dụng theo ý đồ khác nhau của mỗi bên. Tuy nhiên, Mỹ đã nhận một kết quả trái ngược.

Vấn đề còn lại là chấm dứt như thế nào. Lúc bấy giờ, bên cạnh phương án “liều mạng” như Nguyễn Cao Kỳ, những người trong chính quyền Sài Gòn vẫn còn cơ hội “bỏ chạy” để tránh trước mọi hậu quả về cá nhân chưa biết sẽ ra sao. Trụ lại để “bàn giao”, đó là phương án mà Dương Văn Minh đã chọn để mọi việc sớm kết thúc, tránh được đổ nát và thêm đổ máu.

Từ “bàn giao” được dùng để đối phó với tình hình nội bộ chính quyền Sài Gòn, có tính đến toan tính của Pháp và Mỹ, còn thực chất của vấn đề là chấm dứt chiến tranh theo điều kiện của bên Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, có gọi là “đầu hàng” thì cũng sẵn sàng chấp nhận vì lợi ích của dân tộc thoát khỏi phụ thuộc nước ngoài, hết Pháp đến Mỹ. Thật ra “bàn giao” và “đầu hàng” đều dẫn đến một kết cục chính quyền về tay nhân dân, như tiếp theo Sài Gòn là hàng loạt các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Và Dương Văn Minh đã chấp nhận chuyển từ “bàn giao” sang “đầu hàng” trước yêu cầu của bên cách mạng với niềm tin Tổ quốc độc lập, thống nhất, hòa bình, đoàn kết, hòa hợp hòa giải.

Ngày 2/5/1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố quyết định trả tự do cho nội các Dương Văn Minh.

Tướng Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, trực tiếp gặp tổng thống Dương Văn Minh, phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, thủ tướng Vũ Văn Mẫu vừa thông báo quyết định, vừa truyền đạt chính sách của cách mạng:

“Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định trả tự do cho các ông về với gia đình. Giờ đây miền Nam Việt Nam đã được hoàn toàn giải phóng, nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai đã toàn thắng…

Bây giờ đất nước Việt Nam đã độc lập và thống nhất, không phải là lúc nói chuyện người thắng kẻ thua. Đối với chúng ta, không có kẻ thua, người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ…

Mỗi người Việt Nam lúc này hãy thực hiện tốt chính sách hòa hợp dân tộc của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đem hết sức lực và trí tuệ của mình để góp phần xây dựng đất nước sau 30 năm chiến tranh tàn phá…”.

Tướng Dương Văn Minh bày tỏ lòng biết ơn đối với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và nói:

“… Tôi vô cùng cảm kích và thật sự hân hoan vì đến 60 tuổi tôi mới được trở thành công dân của nước độc lập, tự do… Tôi nhận chức tổng thống khi biết rõ ý đồ của Mỹ đã bỏ rơi miền Nam Việt Nam và họ muốn dùng tôi vào thời điểm này để làm gì.

Xin hứa với ngài và cách mạng, là công dân của nước Việt Nam độc lập, tôi sẽ góp công sức của mình vào việc xây dựng đất nước…”.

Cuộc gặp kết thúc, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Trần Văn Trà một lần nữa nhắc lại: Nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập và thống nhất, mỗi người Việt Nam lúc này phải cùng nhau hợp lực xây dựng đất nước…

Gần 28 năm sau chiến tranh, Trung ương Đảng đã tiến một bước tiếp cận để đánh giá hiện tượng Dương Văn Minh:

“…Tuyên bố của Dương Văn Minh và nhật lệnh của Nguyễn Hữu Hạnh cũng đã có tác dụng nhất định làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân ngụy vào những giờ chót của chiến tranh, tạo thuận lợi để đại quân ta tiến vào Sài Gòn. Thúc đẩy Dương Văn Minh ngừng bắn thức thời, đó là một thành công của công tác binh địch vận đã chọn đúng đối tượng để tác động vào đúng thời điểm. Đó là một đóng góp quan trọng của mũi binh địch vận trong thời điểm kết thúc chiến tranh”.

Việc tướng Dương Văn Minh và nội các của ông ra tuyên bố chiều 29-4-1975 chấp nhận các điều kiện do Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đặt ra trong tuyên bố ngày 26-4-1975 để chấm dứt chiến tranh, trên thực tế là “chấp nhận đầu hàng không điều kiện”, được những người cùng chí hướng trong lực lượng thứ ba hết lòng ủng hộ và hợp lòng dân. Hành động đó đã góp phần vô hiệu hóa lực lượng quân Sài Gòn, tránh được đổ nát, gây thêm tang tóc vào giờ phút quyết định. Đó là thành quả của quá trình vận động từ nhiều phía, trước hết và chủ yếu do sức mạnh của chính nghĩa cách mạng, truyền thống đoàn kết yêu nước trong “con Lạc cháu Hồng” ở những mức độ khác nhau đã thức thời trỗi dậy.

…Như lời thượng tướng Trần Văn Trà tuyên bố vào ngày 2-5-1975 tại dinh Độc Lập: “Đối với chúng ta, không có kẻ thua, người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ”.

Trích cuốn Lịch sử Nam bộ kháng chiến. Tít bài do tòa soạn đặt.

vietnamnet.vn

Sự kiện 30 Tháng tư lịch sử – Những quan điểm khác nhau

Không ai có thể phủ nhận ngày 30/4/1975 là ngày đánh dấu một bước ngoặt khó quên trong lịch sử Việt Nam và cũng là một biến cố lịch sử có ảnh hưởng không ít không những chỉ trên khối người Việt lưu vong mà còn trên cả dân tộc Việt Nam. Nhưng hiển nhiên vì cảm tính cá nhân, không phải tất cả mọi người dân Việt đều có cùng một quan điểm về ngày 30/4/75.

Đối với một thiểu số người Việt lưu vong, thì ngày 30/4/75 là ngày mà họ gọi là ngày “mất nước” làm như miền Nam là nước của riêng họ. Tuy rằng nước vẫn còn đó, và càng ngày càng phát triển, ngày nay đã vượt trội hẳn cái “nước” của họ khi xưa mà thực ra chỉ là cái “nước” nằm trong sự chi phối của những đồng đô la viện trợ và sự chỉ đạo của các quan Toàn Quyền như Nolting, Lodge, Martin. Ai có thể phủ nhận sự kiện này, xin mời lên tiếng.

Trước khi lên tiếng xin hãy nhớ lại những đồng lương của quân đội, cảnh sát, lực lượng đặc biệt v…v… từ đâu mà có, rồi đến vụ đảo chính Ngô Đình Diệm khi “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, chính sách “Việt Nam Hóa” (Vietnamization) cuộc chiến chống Cộng khi muốn duỗi ra, và cuối cùng là Hiệp Định Ba-Lê và cắt viện trợ để khai tử Việt Nam Cộng Hòa, cái “nước” mà liên minh Vatican-Mỹ dựng lên hơn 20 năm trước.

Đối với một thiểu số khác, phần lớn thuộc thế lực đen, những người như Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ thì ngày 30/4/75 là ngày “Quốc hận” trong khi từ chính xác nhất phải là ngày “Công giáo hận.” Tại sao? Vì Công Giáo đã mất đi quyền tự tung tự tác như dưới thời Diệm, Thiệu. Lẽ dĩ nhiên “Quốc” và “Công giáo” là hai từ hoàn toàn khác nhau, nếu không muốn nói là bất khả tương hợp nếu xét trên những sự kiện lịch sử từ ngày các thừa sai Công giáo đầu tiên đặt chân trên đất Việt và qua cuộc xâm lăng và đô hộ của thực dân Pháp cho đến các chính quyền Diệm, Thiệu, nhất là Diệm.. Những người không có mấy đầu óc thường lấy cái hận của mình hay của tôn giáo mình làm cái hận của cả một quốc gia, không buồn để ý là nói như vậy chỉ tỏ rõ trình độ thấp kém của mình. Bày tỏ ý kiến cá nhân là quyền căn bản của con người, miễn là những ý kiến bày tỏ không thuộc loại khích động sự thù hận mà nước Mỹ quy vào một loại tội ác “hate crime”, nhưng không ai có quyền lấy ý kiến của mình làm ý kiến của cả cộng đồng, của cả dân tộc. Cho nên từ “Quốc hận” là một từ của những kẻ vô trí cưỡng đặt trên cả một quốc gia mối hận của những cá nhân hay tôn giáo họ.

Đối với một thiểu số khác nữa thì ngày 30/4/1975 là ngày mà họ không ngớt lời lên án “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” làm như “miền Nam” là một nước của riêng những người sống ở miền Nam, mà không cần để ý đến miền Nam cũng là một phần đất của nước Việt Nam. Họ cũng quên đi tất cả những nguyên nhân, yếu tố nào đã đưa đến sự hình thành một miền Nam mà thực chất không nằm trong tay người miền Nam, nói khác đi, một miền Nam không có căn cước của một quốc gia độc lập, có đầy đủ chủ quyền… Nhưng tại sao Việt Cộng có thể “cưỡng chiếm” được miền Nam, có một câu hỏi cần được đặt ra:

“Miền Nam có hơn một triệu quân, gồm chính quy và nhân dân tự vệ, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay, xe tăng, tàu chiến, B52, và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không còn chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao Mỹ lại phải “Việt Nam hóa” cuộc chiến, rồi “rút lui trong danh dự của Mỹ”, để rồi cuối cùng Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” được miền Nam? Người dân miền Nam có dự phần nào trong cuộc “cưỡng chiếm” này không? Làm sao Việt Cộng có thể thực hiện được “đường hầm Củ Chi?”. Vậy ngoài yếu tố quân sự, những yếu tố nào đã quyết định cuộc chiến? Phải chăng là lòng yêu nước? Chính Nghĩa? Hợp với lòng dân và được dân ủng hộ? Ý chí chiến đấu của binh sĩ? Khả năng chỉ huy của các cấp lãnh đạo? Và còn gì nữa?”

Những chính khách vô thượng thiên tài của miền Nam khi xưa, những người hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa rất anh dũng, rất giỏi giang, rất thanh liêm v..v.. đâu, xin hãy tạm quên những cảnh trong cuộc “rút lui chiến thuật” của quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ Quân đoàn I, Quân đoàn II, những cảnh mà tôi chỉ muốn nói lên một câu: “Trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, vì tình hình chiến sự, có nhiều đoàn quân phải rút lui hay bỏ chạy, nhưng không có một đoàn quân nào lại gây tổn thương cho chính đồng bào của mình qua những hành động như hãm hiếp, cướp bóc, hay tranh cướp đường chạy trước những người dân lành mà quân đội có nhiệm vụ phải bảo vệ và giúp đỡ”. Hãy suy nghĩ một chút về câu trên và hãy trả lời với tất cả sự lương thiện trí thức câu hỏi trên.

Điều hiển nhiên là những quan điểm như “mất nước”, “Quốc hận”, “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” chỉ là những quan điểm cá nhân của một thiểu số được đưa lên những diễn đàn truyền thông hải ngoại làm như đó là những quan điểm của cả cộng đồng người Việt di cư gồm gần 3 triệu người. Chỉ có điều những quan điểm như vậy phản ánh một trình độ rất thấp kém, vì không hiểu ngay cả những từ đơn giản như thế nào là “nước”, là “Quốc”, và “cưỡng chiếm”. Những quan điểm cá nhân thiển cận này thường chỉ là những “thùng rỗng kêu to”, hoàn toàn vô nghĩa và vô giá trị trước những quyền lợi của cả dân tộc. Và bây giờ tôi xin sang đến phần bày tỏ quan niệm cá nhân của tôi. Chỉ có một điều khác biệt, quan niệm của tôi không dựa trên cảm tính cá nhân mà dựa trên trên lịch sử dân tộc Việt Nam, trên những mặt tích cực của đất nước..

Là một người đã từng phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong hơn 8 năm, cộng với nhiều năm phục vụ trong ngành giáo dục ở Nam Việt Nam, phải rời bỏ quê hương mà tôi nói rằng không có gì tiếc nuối, đau lòng, thì chỉ là tự dối lòng. Nhưng đây là những cảm tính cá nhân, và một người có ít nhiều liêm sỉ, lương tri, và lương thiện trí thức thì phải biết gạt bỏ những cảm tính cá nhân, và can đảm chấp nhận những sự thực lịch sử, dù có đau lòng cách mấy đi chăng nữa. Vậy những sự thực lịch sử đó là như thế nào? Không có cách nào khác là chúng ta cần phải phân tích những biến cố lịch sử như chúng thực là như vậy.

Sau nhiều năm nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam, quan điểm của tôi là ngày 30/4/75 tất nhiên phải đến, không có ngày 30/4 này thì cũng có ngày 30/4 khác. Tại sao? Có nhiều yếu tố quyết định mà những yếu tố chính là: 1) Lòng yêu nước và truyền thống chống ngoại xâm của người Việt Nam; 2) Pháp trở lại Đông Dương để tái lập nền đô hộ với sự trợ giúp của Mỹ; 3) Hiệp Định Genève; và 4) Tiếp nối sự nghiệp chống ngoại xâm, thống nhất đất nước..

Ngày 2 tháng 9, 1945, ở quảng trường Ba Đình, ông Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập. Ai không đồng ý Việt Nam độc lập, muốn sống trở lại trong nền đô hộ của Pháp, xin mời lên tiếng. Có lẽ chỉ có Nguyễn Chí Thiện, một “ngục sĩ viết thay cho dân” với câu thơ “Nay người dân (sic) luyến tiếc (thực dân Pháp) vô chừng” trong bài Đồng Lầy. Nhưng dù Pháp đã đầu hàng Nhật, mất quyền đô hộ ở Đông Dương, nay Pháp lại muốn trở lại, dùng vũ lực để tái lập ách đô hộ trên đất nước Việt Nam với hơn 80% quân phí do Mỹ đài thọ. Trong thời đô hộ của Pháp và thời chiếm đóng của Nhật, Việt Minh đã tổ chức chống Pháp và Nhật, với sự giúp đỡ huấn luyện quân sự của Mỹ. Nay trước nạn tái xâm lăng của Pháp, với lòng yêu nước và truyền thống chống ngoại xâm của Việt Nam, Việt Minh đã lãnh đạo quần chúng kháng chiến. Cuộc kháng chiến gian khổ kéo dài trong 9 năm, với nhiều hy sinh, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt nền đô hộ của Pháp bằng Hiệp Định Genève năm 1954, tạm thời chia đất nước làm 2 vùng quân sự, chờ ngày Tổng Tuyển Cử để thống nhất đất nước vào năm 1956.

Vấn đề cần đặt ra là cuộc kháng chiến này có chính nghĩa không, và có đáp ứng được sự khao khát của toàn dân không? Hay là, theo một số người trong đầu có một loại “gen” đặc biệt nên cho rằng: “Cuộc kháng chiến là vô ích, Việt Nam chỉ cần nằm há miệng chờ cho cái trái độc lập rơi rụng từ cái cây thực dân của Pháp?” Dù sao thì cuộc kháng chiến cũng đã xảy ra và chỉ chấm dứt với Hiệp Định Genève. Nhưng tại sao với chiến thắng Điện Biên Phủ mà Việt Minh lại phải ký Hiệp Định Genève và tinh thần của Hiệp Định Genève là như thế nào?

Thứ nhất, dù đang thắng thế quân sự nhưng sau 9 năm kháng chiến với nhiều tổn thất, Việt Minh, một phần dưới sức ép của Nga Tàu, cũng muốn chuyển sự tranh chấp quân sự thành tranh chấp chính trị mà họ tin rằng sẽ nắm phần thắng. Nếu không tin như vậy, không đời nào Việt Minh chịu ký Hiệp Định Genève chỉ để kiểm soát non nửa đất nước, vứt bỏ mọi công lao hy sinh kháng chiến, nhường hơn nửa đất nước cho lực lượng Quốc Gia khi đó vốn vẫn còn thuộc quyền Pháp, dưới quyền cai trị của một phán quan Tây Ban Nha như Ngô Đình Diệm, một người nổi tiếng là “chí sĩ” nằm chui trong vài tu viện Công Giáo Âu, Mỹ trong suốt cuộc kháng chiến. Thành tích “yêu nước” duy nhất của Ngô Đình Diệm là chống Cộng cho Chúa, theo sát chính sách của Vatican dưới triều giáo hoàng Pius XII, làm quan cho Pháp, dùng đèn cầy đốt hậu môn tra khảo những người Cộng sản yêu nước, có thể nghĩ rằng để vinh danh Chúa, cũng như những Phán Quan Tây Ban Nha khi xưa tra khảo và thiêu sống những kẻ “chống Chúa”, và tất nhiên không hề có một công lao gì trong công cuộc kháng chiến của toàn dân.. Đặt chúng ta vào vị thế của Việt Minh, chúng ta có thể chấp nhận một sự chia cắt đất nước vĩnh viễn như vậy không?

Thứ nhì, trong Hiệp Định Genève năm 1954 không có một điều khoản nào quy định việc chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc riêng biệt vĩnh viễn. Sông Bến Hải không phải là ranh giới chia đôi đất nước mà chỉ là nằm trên vĩ tuyến 17 phân định vùng rút quân của lực lượng Liên Hiệp Pháp và Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (Việt Minh), chờ ngày đất nước thống nhất qua một cuộc bầu cử trên toàn quốc vào tháng 7/1956.

Tuy rằng tôi đã trình bày vấn đề này trước đây, tôi nghĩ cũng cần nhắc lại vài điểm chính trong Hiệp Định Genève.

Hiệp Định Genève gồm hai phần: Phần “Thỏa hiệp Ngưng Chiến Song Phương” giữa Pháp và Việt Minh (Bilateral armistice agreement between France and the VietMinh) làm căn bản cho Phần “Tuyên Ngôn Đa Phương Có Tính Cách Quyết Định” (The multilateral Final Declaration), đồng ký bởi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Lào, Cambod, Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc, Nga Sô Viết, và Việt Nam Quốc Gia. Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ của Việt Nam Quốc Gia lên tiếng phản kháng, không đồng ý với nội dung bản Tuyên Ngôn, điều duy nhất ông ta có thể làm được, vì thực tế là chính quyền Bảo Đại do Pháp dựng lên và khi đó vẫn còn nằm dưới cái dù của Pháp, cho nên không có một tư cách quyết định chính trị nào trong Hội Nghị Genève. Phải 8 tháng sau Hiệp Định Genève, đến tháng 3/1955, dưới áp lực của Mỹ, Pháp mới hoàn toàn trao trả độc lập cho Nam Việt Nam, để Mỹ vào thay thế, và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam mới có cơ hội đốt lon của Pháp để đeo lon theo kiểu Mỹ.

Phần “Thỏa Hiệp…”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Tướng Pháp Henri Delteil, Quyền Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, và ông Tạ Quang Bửu, Thứ Trưởng Quốc Phòng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Có vài điều khoản chính như sau:

Điều khoản 1 (Article 1) nói về sự thiết lập “một đường ranh giới quân sự tạm thời” (A provisional military demarcation line) [Vĩ tuyến 17] để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc, và lực lượng Liên Hiệp Pháp (French Union) [trong đó có quân đội quốc gia nằm dưới cái dù của Pháp] ở phía Nam làn ranh giới.

Điều khoản 8 ấn định quyền kiểm soát hành chánh ở phía Bắc Vĩ Tuyến 17 thuộc Việt Minh và ở phía Nam thuộc Pháp (Civil administration in the regroupment zone to the North of the 17th parallel was to be in the hands of the Vietminh, and the area to the South of the parallel was to be in the hands of the French)

Điều khoản 14, đoạn (a) [Article 14, Paragraph (a)] viết rõ: “Trong khi chờ đợi cuộc Tổng Tuyển Cử để Thống Nhất Việt Nam, quyền hành chánh dân sự trong mỗi vùng rút quân nằm trong tay các phe có quân đội rút quân (nghĩa là Pháp và Việt Minh) theo tinh thần của bản Thỏa Hiệp.” (Pending the general elections which will bring about the Unification of Vietnam, the conduct of civil administration in each regrouping zone shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped there in virtue of the present Agreement).

Điều khoản 14, đoạn (c) viết: “Mỗi phe sẽ tự kiềm chế để không có bất cứ hành động trả thù hay kỳ thị nào đối với những cá nhân hay tổ chức vì những hoạt động trong khi có cuộc tranh chấp quân sự, và phải bảo đảm quyền tự do dân chủ của họ.” (Each party undertakes to refrain from any reprisals or discrimination against persons or organizations on account of their activities during the hostilities and to guarantee their democratic liberties) [Có ai còn nhớ đến chiến dịch Tố Cộng của Ngô Đình Diệm không? Chiến dịch này có vi phạm điều khoản trên không?]

Bản “Tuyên Ngôn…” gồm 13 đoạn, liên quan đến cả Cambod và Lào, có một đoạn đáng để ý:

Đoạn (6) [Paragraph (6)] nguyên văn như sau:

“Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI . Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”

(The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY. The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Vietnam.)

Chỉ cần đọc vài đoạn trong bản Thỏa Hiệp cũng như bản Tuyên Ngôn, không cần phải diễn giải lôi thôi làm gì, chúng ta có thể thấy ngay là không làm gì có chuyện chia nước Việt Nam thành hai miền độc lập về chính trị và quân sự. Huyền thoại về một miền Nam độc lập như một quốc gia riêng biệt chỉ là sản phẩm do Mỹ tạo ra về sau, tuy trong bản Tuyên Ngôn Đơn Phương (Unilateral Declaration) của Mỹ về Hội Nghị Genève, Mỹ không bao giờ nói đến “Nam” hay “Bắc” mà chỉ nói đến một nước Việt Nam (Kahin & Lewis: Nowhere in its unilateral declaration did the US speak of a “South” or “North” Vietnam. Every reference of the American representative was to a SINGLE VIETNAM.).

Như chúng ta đã biết, cuộc Tổng Tuyển Cử để thống nhất đất nước không được miền Nam thi hành dù miền Bắc đã nhiều lần thúc giục. Có hai luận cứ để bào chữa cho chính quyền Ngô Đình Diệm từ chối không thi hành Thỏa Hiệp Genève cũng như không chịu tổ chức Tổng Tuyển Cử là Chính Quyền Diệm không ký vào bản Thỏa Hiệp và dưới chế độ Cộng Sản không có bầu cử tự do. Vào năm 1956 ở miền Nam, hai luận cứ trên nghe có vẻ có tính cách thuyết phục và hợp lý. Nhưng ngày nay, khi nghiên cứu lịch sử, chúng ta thấy rằng cả hai hai luận cứ này đều không có cơ sở chính đáng, chẳng qua chỉ là chính sách “cường quyền thắng công lý” của Mỹ cộng với chủ trương Chống Cộng Cho Chúa của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bảo rằng Diệm không ký vào Hiệp Định Genève nên Hiệp Định vô giá trị cũng như Luật sư Trần Thanh Hiệp nói rằng Nguyễn Văn Lý không tuân phục luật pháp Việt Nam nên luật pháp Việt Nam vô giá trị.

Nhưng vấn đề chính là, thứ nhất, trong Hiệp Định có điều khoản qui định rằng Pháp là phe phải tôn trọng Hiệp Định Genève và những chính quyền nối tiếp Pháp trước cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956 đều phải có bổn phận thi hành những điều khoản đã được ký kết giữa Pháp và Việt Minh [Kahin & Lewis: The Vietminh’s interests were further safeguarded by the provision that any administration succeeding the French prior to the 1956 elections would legally assume France’s obligations and be “responsible for ensuring the observance and enforcement of the terms and provisions” of the agreements entered between the Vietminh and France.)

Thứ nhì, Việt Minh có cần phải tổ chức bầu cử không tự do vào thời đó không, khi mà chiến thắng Điện Biên Phủ và tiếng tăm của Hồ Chí Minh đã vang rền trên thế giới? Lý do chính để Mỹ và Diệm phá cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956 là, chính Tổng Thống Hoa Kỳ Eisenhower và báo chí Mỹ, tờ Time ngày 22/11/1954, và tờ Look ngày 25/1/1955, đã ước tính là trong cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do (Free Elections) vào năm 1956 thì ông Hồ Chí Minh sẽ được ít nhất là 80% số phiếu trên toàn quốc. Mỹ muốn ngăn chận Cộng Sản vì cái thuyết Domino sai lầm của mình nên không muốn có Tổng Tuyển Cử mà kết quả chắc chắn là Cộng Sản sẽ thắng trên toàn quốc. Mặt khác, các cuộc bầu cử dưới chế độ Ngô Đình Diệm có tự do và không gian lận hay không? Vì vậy Giáo sư Mortimer T. Cohen đã châm biếm trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam , xuất bản năm 1979, trang 227 và 251, như sau:

“Nhưng Eisenhower biết rằng trong một cuộc bầu cử tự do, 80% dân chúng sẽ bầu cho Hồ Chí Minh thay vì Bảo Đại. Diệm có khá gì hơn Bảo Đại không? Làm sao mà khá hơn? Không một người nào ở Việt Nam có thể thắng Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng Tuyển Cử tự do. Ông ta là George Washington của nước Việt Nam. Giáo sư Brown gọi ông ta là một kẻ “phản bội”, nhưng trong 15 năm, từ 1954 đến khi ông ta chết vào tháng 9/1969, cái tên phản bội này sẽ thắng bất cứ ứng cử viên nào khác. Các ông không thể đánh bại một người có tên tuổi bằng một người không tên tuổi…

Nhiều sử gia lý luận như các luật sư – hay giáo sư đại học – nhấn mạnh là: vì Việt Nam Cộng Hòa không ký Hiệp Định Genève cho nên không có bổn phận phải hợp tác trong việc tổ chức bầu cử để thống nhất đất nước. Điều này giống như là một tên hiếp dâm bảo nạn nhân là cô ta đã làm hư hại xe của hắn. Chuyện làm hư hại xe chẳng liên hệ gì đến chuyện hiếp dâm. Lý do mà hắn hãm hiếp là vì hắn muốn làm tình. Lý do Diệm không muốn có cuộc Tổng Tuyển Cử là vì ông ta nghĩ rằng mình sẽ thua…”

(But Eisenhower knew then that 80 percent of the people in a free election would vote for Ho Chi Minh over Bao Dai. Would Diem do any better than Bao Dai? Why should he? No one in Vietnam could beat Ho Chi Minh in an open election. He was the George Washington of the nation. Professor Brown calls him a “traitor”, but for fifteen years, from 1954 to his death in September of 1969, this traitor would have easily won over any other candidate. You can’t beat somebody with nobody…

Several historians, arguing like lawyers – or professors – insist that because the Republic of Vietnam had not signed the Geneva Accord, it was not obligated to cooperate in holding elections for unification. It’s like a rapist telling the victim she damaged his car. This had nothing to do with it. The reason he does what he does is he wants to copulate. The reason Diem did not hold unification elections was that he thought he’d lose them…)

Qua phần phân tích những tài liệu ở trên, chúng ta thấy rằng: 1) Hiệp Định Genève không chia đôi đất nước thành hai miền độc lập về chính trị và đất đai; và 2) Mỹ và Diệm đã cố ý không thi hành điều khoản Tổng Tuyển Cử để thống nhất đất nước. Trước tình hình như vậy, Bắc Việt không còn con đường nào khác là phải tiếp nối sự nghiệp thống nhất đất nước. Nhưng những tài liệu viết bởi chính người Mỹ cho biết, dù miền Nam từ chối không thi hành Tổng Tuyển Cử, Bắc Việt vẫn hi vọng đi đến một giải pháp chính trị, hòa bình để thống nhất đất nước..

Giải pháp quân sự của Bắc Việt chỉ là chuyện bất đắc dĩ trước sự can thiệp sâu đậm của Mỹ có tính cách xâm lăng vào Việt Nam. Và đây chỉ là, như trên đã nói, tiếp nối sự nghiệp chống xâm lăng và thống nhất đất nước. Khi xưa, chúng ta ở miền Nam tin tưởng rằng Mỹ giúp miền Nam vì lý tưởng tự do dân chủ, cũng như ngày nay, nhiều người tin rằng ông Bush xâm chiếm Iraq [người Mỹ gọi là “invasion and occupation”] cũng là để cho tự do dân chủ. Không có gì là xa sự thực hơn.

Không phải là sau Hiệp định Genève Mỹ mới can thiệp vào Việt Nam mà Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam từ trước đã lâu. Mỹ đã đồng lõa với thực dân Pháp trong mưu toan tái lập nền đô hộ của Pháp trên dân Việt Nam. Những người thực sự tin rằng Mỹ là “đồng minh” của Nam Việt Nam, muốn giúp dân Việt Nam để chống lại Cộng Sản, để cho dân Việt Nam, hay ít ra là dân miền Nam, được tự do dân chủ, nên nhớ kỹ rằng chính Mỹ đã đài thọ hơn 80% chiến phí cho Pháp trong cuộc chiến tiền-Genève, từ 1945 đến 1954, để Pháp tái lập nền đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam, đưa Việt Nam trở lại vòng nô lệ Pháp,trong khi Mỹ đã biết rõ chế độ thực dân Pháp đối với dân Việt Nam là như thế nào?Lịch sử Việt Nam sẽ lên án hành động đế quốc thực dân này. Nếu chúng ta coi Pháp là quân xâm lăng thì Mỹ cũng là kẻ xâm lăng không kém. Chỉ sau khi Pháp thất trận Mỹ mới đưa ra chiêu bài giúp Việt Nam, bảo vệ nền tự do (sic) của Nam Việt Nam trong khi, như chúng ta đã biết, theo Hiệp Định Genève, Nam Việt Nam không phải là một quốc gia độc lập mà chỉ là một vùng rút quân của Pháp và những lực lượng quân sự dưới quyền Pháp, trong đó có lực lượng quốc gia, chờ ngày Tổng Tuyển Cử trên toàn thể đất nước vào năm 1956. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã chứng tỏ lòng người dân Việt muốn gì. Và đây là quyền tự quyết của Việt Nam mà Mỹ đã hứa là sẽ không can thiệp trong một bản tuyên ngôn đơn phương (unilateral declaration) sau khi Hiệp Định Genève được ký kết.

Thật vậy, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, Walter Bedell Smith xác định trong bản Tuyên Ngôn tại Washington D.C. về Hiệp Định Genève và cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956 để thống nhất đất nước như sau:

“Trong trường hợp những quốc gia nay bị chia đôi ngoài ý muốn, chúng ta sẽ tiếp tục tìm kiếm giải pháp thống nhất qua bầu cử tự do, giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm là bầu cử được thi hành nghiêm chỉnh” và “Hoa Kỳ sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp”

(In the case of nations divided against their will, we shall continue to seek to achieve unity through free elections, supervised by the United Nations to ensure that they are conducted fairly… The US will refrain from the threat or the use of force to disturb them)

Nhưng trong cuốn The United States In Vietnam: An Analysis In Depth Of The History Of America’s Involvement In Vietnam, hai Giáo sư đại học Cornell, George McTurnan Kahin và John W. Lewis, viết, trang 59:

“Tuy Hoa Kỳ nói rằng “sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp” nhưng điều hiển nhiên chúng ta thấy ngay sau đó là Hoa Kỳ đã sửa soạn dùng mọi phương cách khác để ủng hộ chế độ Saigon [do Mỹ dựng lên] trong việc không tôn trọng những điều khoản trong Thỏa Hiệp”

(Though the US said it would “refrain from the threat or the use of force to disturb” the agreements, it soon become evident that it was prepared to use every other means to back up the Saigon regime in its departure from their central provisions).

[Tưởng chúng ta không nên quên là ngay từ sau Hiệp Định đình chiến 1954, Mỹ đã gửi Lansdale ra ngoài Bắc để phá hoại, tuyên truyền, và cổ võ giáo dân Công giáo di cư vào Nam với những khẩu hiệu như “Chúa đã vào Nam” và “Đức Mẹ đã di cư vào Nam” v..v.. để dụ đám giáo dân thấp kém. Vì vậy hơn 800 ngàn Giáo dân Công giáo đã ào ào, các Cha chạy trước, các con theo sau, kéo vào Nam]

Do đó, mọi lý do Mỹ dùng để can thiệp vào Việt Nam trở thành vô giá trị, không thể biện minh được, trước những sự kiện trên. Sự thật là, Mỹ tự ban cho mình quyền của một cảnh sát quốc tế, ép buộc mọi quốc gia phải theo sự xếp đặt của mình, nghĩa là, như trên đã nói, áp dụng luật rừng và cường quyền thắng công lý của kẻ mạnh. Nhưng thực ra, theo những tài liệu hiện hữu của một số học giả Mỹ, cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam có nhiều tính cách xâm lăng và nằm trong chủ trương bá quyền của Mỹ trên khắp thế giới chứ không phải chỉ riêng ở Việt Nam. Mỹ đã can thiệp vào nội bộ của nhiều nước: El Salvador, Dominican Republic, Philippines, Thailand v..v..

Mặt khác, trong thời điểm đó, hơn ¼ thế giới theo Cộng Sản, Cuba ở ngay sát nách Mỹ là Cộng Sản, toàn thể Đông Âu theo Cộng Sản, và hai Cộng Sản gộc là Nga và Tàu, tại sao Mỹ không chống ở những nơi đó mà lại đi chống ở một nước nghèo, nhỏ, xa xôi như Việt Nam, vừa mới giành được độc lập sau một cuộc chiến đấu gian khổ dài 9 năm, nhân dân mệt mỏi, tài nguyên kiệt quệ, và nhất là không có khả năng gây bất cứ sự nguy hại nào cho Mỹ?

Mục Sư Tin Lành Robert McAfee Brown, Giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Stanford, viết trong cuốn Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri (Vietnam: Crisis of Conscience, Association Press, N.Y., 1967), trang 79:

Thật là khôi hài, ngay khi mà chúng ta nói rằng chúng ta phải “chặn đứng Cộng Sản” ở Việt Nam, thì ở những nơi khác chúng ta lại sống chung với Cộng Sản, soạn thảo những hiệp ước với Nga Sô, mở rộng giao thương với Đông Âu, ủng hộ Tito ở Nam Tư. Ở những nơi khác, chúng ta rõ ràng quyết định là sống chung hòa bình với Cộng Sản, và khuyến khích những xã hội Cộng Sản độc lập, không cần đến sự liên kết với nhau trong khối Cộng sản.

(It is ironic that at precisely the moment we are saying that we must “halt communism” in Vietnam, we are coming to terms with it elsewhere, working out new treaty agreements with Russia, extending trade in Eastern Europe, giving support to Tito in Yougoslavia. Elsewhere, we have clearly decide to coexist with communism, and to encourage independent Communist societies that will be increasingly free of the need for alliance with one another.)

Mục sư Brown nhận định không sai. Ngày 4 tháng 11, 1956, xe tăng Nga tiến vào Budapest, thủ đô Hung Gia Lợi, một sự xâm lăng trắng trợn để dẹp một chính quyền Cộng Sản ngỏ ý cho dân được bầu cử tự do. Mỹ chỉ can thiệp bằng miệng, dùng đài phát thanh VOA khuyến khích dân Hung chống trả, hứa suông là sẽ đem quân vào can thiệp, rồi án binh bất động. Việt Nam không có quân xâm lăng từ ngoài vào. Vậy tại sao lại là Việt Nam?

Vậy thì, thực chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là gì? Phải chăng đó chỉ là một cuộc xâm lăng ngụy trang đàng sau chiêu bài giúp Nam Việt Nam để có tự do dân chủ. 9 năm dưới chế độ Ngô Đình Diệm có tự do dân chủ không? Chính quyền Thiệu có tự do dân chủ không? Và tự do dân chủ như thế nào? Nhất đĩ nhì Cha?

Ngày nay, chúng ta có thể đọc vài tài liệu về thực chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, do chính người Mỹ viết, và viết sau khi chiến tranh Đông Dương đã chấm dứt từ lâu.

Có lẽ không có gì rõ ràng hơn là đoạn sau đây của Daniel Ellsberg trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:

Không làm gì có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ..

Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ.

Cuộc chiến đó không có gì là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đã không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến.

Bảo rằng chúng ta “xía vào” cái gọi là “đích thực là một cuộc nội chiến”, như hầu hết các tác giả Mỹ, và ngay cả những người có khuynh hướng tự do chỉ trích cuộc chiến cho rằng như vậy cho đến ngày nay, đơn giản chỉ là che dấu một sự thực đau lòng hơn, và cũng chỉ là một huyền thoại như là luận điệu chính thức về một “cuộc xâm lăng từ miền Bắc”.

Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ.

(There had been no First and Second Indochina Wars, just one continuous conflict for almost a quarter of century.

In practical terms, on one side, it had been an American war almost from its beginning: at first French-American, eventually wholly American. In both cases it was a struggle of Vietnamese – not all of them but enough to persist – against American policy and American financing, proxies, technicians, firepower, and finally, troops and pilots.

It was no more a “civil war” after 1955 or 1960 than it had been during the US-supported French at colonial reconquest. A war in which one side was entirely equipped and paid by a foreign power – which dictated the nature of the local regime in its own interest – was not a civil war. To say that we had “interfered” in what is “really a civil war”, as most American writers and even liberal critics of the war do to this day, simply screened a more painful reality and was as much a myth as the earlier official one of “aggression from the North”. In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign aggression, American aggression.)

Tại sao Daniel Ellsberg lại có thể viết như vậy. Vì Ellsberg là viên chức trong chính quyền Mỹ, đã từng đọc được những tài liệu mật nhất của Mỹ và biết rõ nhất về thực chất cuộc chiến ở Việt Nam. Chính ông là người đã tiết lộ Tài Liệu Ngũ Giác Đài. Và ông viết đoạn trên năm 2002 chứ không phải là trong thời kỳ “phản chiến” sôi nổi trên đất Mỹ. Nếu chúng ta đã đọc một số những sách viết về cuộc chiến Việt Nam, viết sau 1975, của các học giả và cựu quân nhân Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy rằng đa số đồng ý với Daniel Ellsberg về điểm này.

Sau đây là một tài liệu khác về bản chất của cuộc chiến ở Việt Nam cách đây trên 30 năm. Trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), John Carlos Rowe and Rick Berg viết, trang 28-29:

Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến(ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”

Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện. Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc gia của Việt Nam. Số tử vong vào khoảng nửa triệu. Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức hiến thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm.

Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang trong một chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào những trại (ấp chiến lược?) nơi đây họ được bảo vệ bởi những lính gác, giây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ.

Mỹ khẳng định là đã được mời đến, nhưng như tờ London Economist đã nhận định chính xác, “một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp.” Mỹ chưa bao giờ coi những tay sai mình dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tấn công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân lọại trên khắp Đông Dương.

(As late as 1982 – after years of unremitting propaganda with virtually no dissenting voice permitted expression to a large audience – over 70% of the general population (but far fewer “opinion leaders”) still regarded the war as “fundamentally wrong and immoral,’ not merely “a mistake”..

It is worth recalling a few facts. The US was deeply committed to the French effort to reconquer their former colony, recognizing throughout that the enemy was the nationalist movement of Vietnam. The death toll was about half a million. When France withdrew, the US dedicated itself at once to subverting the 1954 Geneva settlement, installing in the south a terrorist regime that killed perhaps 70000 “Viet Cong” by 1961, evoking resistance which, from 1959, was supported from the northern half of the country temporarily divided by the Geneva settlement that the US had undermined.

In 1961-1962, President Kennedy launched a direct attack against rural South Vietnam with large-scale bombing and defoliation as part of a program designed to drive millions of people to camps where they would be “protected” by armed guards and barbed wire from the guerillas whom, the US conceded, they were willinggly supporting. The US maintained that it was invited in, but as the London Economist accurately observed, “an invader is an invader unless invited in by a government with a claim to legitimacy.” The US never regarded the clients it installed as having any such claim, and in fact it regularly replaced them when they failed to exhibit sufficient enthusiam for the American attack or sought to implement the neutralist settlement that was advocated on all sides and was considered the prime danger by the aggressors, since it would undermine the basis for their war against South Vietnam. In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)

Từ những tài liệu trên, những người còn mơ mộng Mỹ là “đồng minh” của mình, hay dựa thế Mỹ, hay nói đúng hơn là dựa vào vài cái nghị quyết ấm ớ của Hạ Viện Mỹ, vào vài lời tuyên bố của một số dân biểu cắc ké chống Cộng thời thượng v..v.. để lật đổ chế độ Cộng sản không Cộng sản ngày nay ở Việt Nam thì không hiểu gì về chính trị Mỹ và người Mỹ. Mỹ không có đồng minh. Mỹ là một thị trấn trên đồi (A city on the hill), Mỹ là cái đầu tầu kéo cả thế giới theo sau, và Mỹ chỉ coi những người địa phương, những “gooks”, mà Mỹ ve vuốt ủng hộ trên đầu môi chót lưỡi để tạo áp lực thay cho Mỹ, hoặc khuyến khích khích khuấy động, như là đầy tớ. Đối với Mỹ, đồng đô-la quyết định hết thẩy. Nếu vài cái nghị quyết của Hạ Viện hay của Quốc Hội Âu Châu, nếu những lời kêu gọi nhân quyền của Sanchez, Smith v..v.. mà có hiệu lực thì Cộng sản Việt Nam đã dẹp tiệm từ lâu rồi. Đây là những sự thực ngay trước mắt mà giới chống Cộng cực đoan hay chống Cộng cho Chúa không nhìn thấy.

Qua sự phân tích những sự kiện lịch sử và qua một số tài liệu đã dẫn chứng ở trên, chúng ta có thể thấy rằng, như trên đã nói, ngày 30 tháng 4 tất nhiên phải đến, vì đó là niềm khao khát nếu không phải của toàn dân thì cũng của đa số người dân.. Bất kể là Tàu, hay Nga, hay Mỹ có muốn Việt Nam thống nhất hay không, điều này không quan trọng, người Việt Nam muốn và đã thực hiện được, thế là đủ. Đối với những người còn mang nặng trên vai cuộc xung đột Quốc – Cộng trong quá khứ, và còn muốn tiếp tục cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, thì họ chỉ có thể nhìn thấy khía cạnh tiêu cực của ngày 30/4/75, vì thế chúng ta mới thấy xuất hiện những từ như “mất nước”, “Quốc Hận”, hay “cưỡng chiếm” và luận điệu “cái gì ở Việt Nam cũng xấu”.. Nhưng nhìn vào khía cạnh tích cực của ngày 30/4/75, và tạm quên đi mình vốn là người Việt Quốc gia, đã từng đóng góp cho miền Nam về quân sự cũng như về giáo dục, để nhìn vấn đề trên quan điểm đất nước, dân tộc, tôi xin có vài quan điểm sau đây về ngày 30/4/75. Đây chỉ là những quan điểm cá nhân, tuyệt đối cá nhân.

Ngày 30/4/75 là ngày mà không ai có thể phủ nhận là ngày Việt Nam lấy lại hoàn toàn nền độc lập và thống nhất của nước nhà sau gần một thế kỷ bị người Pháp đô hộ, và sau một cuộc chiến tranh bất đắc dĩ đầy bi thảm mà nguyên nhân chính là sự can thiệp dựa trên “cường quyền thắng công lý” của ngoại bang: sự liên kết giữa Vatican và Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về để chống Cộng, xóa bỏ hiệp định Genève trong đó có điều khoản qui định một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, và Mỹ đã hứa không dùng võ lực để can thiệp vào nội bộ Việt Nam nhưng lại phản bội lời hứa ngay sau đó.. Đây là những sự kiện lịch sử bất khả phủ bác.

Ngày 30/4/1975 không chỉ có nghĩa là ngày đất nước thống nhất, chủ quyền trở lại tay người Việt Nam, mà còn là ngày người dân Việt Nam, trừ những kẻ có tâm cảnh phi dân tộc hay tiếp tục nuôi dưỡng thù hận, bất kể thuộc chính kiến hay phe phái nào, đều có thể hãnh diện ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt kẻ đối thoại, bất kể là họ thuộc lớp người nào, ở địa vị nào, thuộc quốc gia nào. Tôi ở phe thua trận, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ, cũng như ngày 30/4/1975, đã mang đến cho tôi một niềm hãnh diện được làm một người Việt Nam, một người Việt Nam không Quốc Gia không Cộng Sản, không Nam không Bắc, một người Việt Nam không từ bỏ gốc gác tổ tiên, không từ bỏ lịch sử khi vinh khi nhục của quốc gia, và lẽ dĩ nhiên rất hãnh diện với lịch sử chống xâm lăng của dân tộc.

Khía cạnh tích cực nhất của ngày 30/4/75 là trên đất nước không còn cảnh bom đạn, cảnh đồng bào bắn giết nhau, và nhất là đất nước đã vắng bóng quân xâm lược. Một khía cạnh tích cực khác của ngày 30/4/1975 là nó mở đầu cho một cuộc di dân vĩ đại chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Qua nhiều năm, hơn hai triệu người, đi chính thức cũng như vượt biên, hiện đang sống ở nước ngoài. Sau một thời gian khó khăn trong việc hòa nhập vào một xã hội mới, sau khi đã ổn định được đời sống qua công ăn việc làm, đa số người Việt lưu vong không từ bỏ quê hương. Như là một nghịch lý, khối người Việt lưu vong cũng đã đóng góp không ít cho quốc gia dân tộc, và đã giúp cho chế độ bên nhà bền vững, một chế độ mà một số hội đoàn, tổ chức hữu danh vô thực, kể cả thế lực đen và tổ chức lãnh tiền của NED Mỹ để chống phá Việt Nam, thường hô hào cần phải lật đổ, giải thể, hay cất lên tiếng kêu vô vọng trong sa mạc: “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con”.. mà không bao giờ nhìn thấy đất nước ngày nay đã phát triển như thế nào, đời sống của người dân đã cải tiến ra sao, số lượng khách ngoại quốc du lịch Việt Nam là bao nhiêu, và số lượng người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương là như thế nào. Từ 1986, số tiền người Việt lưu vong gửi về mỗi năm không ít, và ngày nay mỗi năm có mấy trăm ngàn “Việt kiều” về thăm quê hương, mang về mỗi năm trên dưới 3 tỷ đô la, và không phải là không có những chuyên gia mang những kiến thức mới về Việt Nam hay những nhà doanh nghiệp về làm ăn ở Việt Nam. Đất nước đã mở mang phát triển về nhiều mặt tuy chính quyền còn nhiều điều bất cập. Nhưng không ai có thể phủ nhận là, qua thời gian, chính quyền Việt Nam đã cải tiến rất nhiều, và tôi hi vọng chính quyền tiếp tục đặt nặng nỗ lực trên vấn đề cải tiến xã hội, mở mang dân trí, và coi dân là trọng.

Riêng đối với cá nhân tôi, ngày 30/4/1975 là ngày tôi quyết định ly hương và cho đến bây giờ tôi vẫn không hối tiếc gì về quyết định này. Không được sống trên quê hương đất tổ, nhưng cả thế giới đã mở ra trước mắt tôi. Không gian như thu hẹp lại, và tôi có thể đi khắp thế giới, đến bất cứ nơi nào tôi muốn, để mở rộng tầm mắt. Và ngày nay, tôi muốn về thăm quê hương khi nào cũng được. Đối với tôi, sự mất mát trong một giai đoạn đã được đền bù bằng những món ăn tinh thần mà trước đây tôi không bao giờ nghĩ tới. Từ 1975, định cư ở Mỹ, tôi mới có cơ hội và phương tiện để tìm hiểu về Phật Giáo. Tôi cho đó là một hồng phúc của tổ tiên để lại. Ngoài ra, tôi cũng còn có cơ hội để tìm hiểu thực chất về các tôn giáo khác, đặc biệt là về Ki Tô Giáo nói chung, Ca Tô giáo Rô Ma (Roman Catholicism) nói riêng, cũng như về lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam mà tôi tin rằng nếu ở lại Việt Nam tôi không thể nào có phương tiện và cơ hội để có được những sự hiểu biết này. Qua những kiến thức mới thu thập được này, tôi đã từ một người “Quốc gia” trở thành một người “của Quốc Gia”, Quốc gia Việt Nam.

Hi vọng những hiểu biết này, qua những công cuộc nghiên cứu trí thức, có thể phần nào đóng góp cho việc tìm hiểu những vấn đề nhức nhối giữa những khối người Việt có chính kiến khác nhau về cuộc chiến tranh trên ba mươi năm trước, cũng như về thực chất các tôn giáo chính ở Việt Nam .

Trần Chung Ngọc

Sách hiếm

Đại thắng mùa xuân 1975 trong ký ức các cựu chiến binh

Các cựu chiến binh ôn lại những thời khắc chói lọi của chiến thắng lịch sử 30-4-1975

Trong không khí tưng bừng của cả nước kỷ niệm 36 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chúng tôi đã vinh dự được gặp những cựu chiến binh (CCB) từng trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Kỷ niệm của các nhân chứng lịch sử ấy đã làm sống dậy hào hùng khí thế của mùa xuân đại thắng, những chiến công oanh liệt đã được ghi danh và những chiến công còn ít người biết đến hoặc do góc khuất của chiến tranh nay mới được nghe, được kể lại.

Bảo đảm công tác chuẩn bị chiến trường

Mùa xuân năm 1975, sau những thắng lợi to lớn, dồn dập, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta quyết tâm dồn sức giải phóng miền Nam. Để bảo đảm cho thắng lợi, Bộ Tư lệnh chiến dịch đặc biệt coi trọng công tác chuẩn bị chiến trường về vật chất, thông tin liên lạc, dẫn đường, triển khai khu vực tập kết…

CCB Trịnh Quốc Nở (Quế Tân, Quế Võ), nguyên Đại đội trưởng Đại đội 100, Đoàn 770, Cục Hậu cần Miền cho biết: “Đơn vị tôi đã chiến đấu ngày, đêm không quản hy sinh, gian khổ bám cầu, bám đường bảo đảm từng chuyến hàng để phục vụ chiến dịch”. CCB Đoàn Khắc Hoàn (Phú Hoà, Lương Tài), nguyên chiến sỹ đặc công Đại đội 20, Trung đoàn Đặc công 198, Quân đoàn 3 kể lại: “Tôi đã tham gia Chiến dịch Tây Nguyên rồi nhận nhiệm vụ cùng đơn vị đánh luồn sâu, chiếm giữ và bảo vệ cầu Bông, cầu Sáng cho cánh quân Tây Bắc tiến vào. Phải luồn sâu vào lòng địch nắm chắc địa hình tác chiến, quân số, quy luật hoạt động và bố trí hỏa lực địch tại căn cứ Đồng Dù. Thâm nhập bảo đảm bí mật, bất ngờ, mưu trí, sáng tạo để đánh từ trong đánh ra, đánh nở hoa trong lòng địch”. CCB Nguyễn Văn Thịnh (Đông Thọ, Yên Phong), nguyên trinh sát Trung đoàn Đặc công 116, Sư đoàn 2 nhớ lại: “Ngày 28-4-1975, đơn vị tôi chiến đấu quyết liệt để đánh chiếm cầu Đồng Nai. Đến sáng ngày 29-4 đã chiếm thành công và giữ vững cầu cho cánh quân phía Đông tiến vào an toàn”.

“Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương xác định phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến của chiến dịch là “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Công tác bảo đảm chiến trường đã làm tốt, các cánh quân chủ lực từ 5 hướng tiến nhanh vào Sài Gòn. CCB Nguyễn Quang Tâm (Phú Lâm, Tiên Du), nguyên Đại đội trưởng Đại đội 1 pháo cao xạ, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 234, Quân đoàn 3 vẫn nhớ như in bước chân thần tốc của cánh quân Tây Bắc: “Sau khi giải phóng Tây Nguyên, cánh quân được lệnh đánh rẽ địch, vượt qua các ổ đề kháng, tiến quân thần tốc vào Sài Gòn. Trên đường tiến quân, ta vấp phải không ít khó khăn bởi sự chống cự ngoan cố của địch. Nhiều đồng đội ngã xuống ngay trước ngày chiến thắng… Với thế và lực áp đảo, quân ta tiến đến đâu giải phóng đến đó. Trong trận chiến ác liệt tại Đèo Phượng Hoàng, ta tiêu diệt 1 Lữ đoàn dù của địch, đánh bại cuộc nhảy dù quy mô lớn hòng chuẩn bị cho cuộc tái chiếm Buôn Ma Thuột. Khi tập kết tại Trảng Bàng (Tây Ninh), tất cả bỏ ngụy trang, thay quân phục mới tiến quân thần tốc đánh tan căn cứ Đồng Dù (Củ Chi), vượt qua Cầu Bông, Cầu Sáng… Sáng 30-4-1975 sau khi tiêu diệt lực lượng lớn quân địch chốt chặn tại ngã tư Bảy Hiền, cánh quân tiến đánh thành công sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ tổng Tham mưu”.

Niềm vui ngày chiến thắng

Đã 36 năm trôi qua kể từ ngày chiến thắng, những chiến sỹ của đoàn quân giải phóng năm xưa nay đã tóc bạc, da mồi. Nhưng những kỷ niệm về không khí ngày chiến thắng như vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí mỗi CCB-nhân chứng lịch sử của đại thắng mùa xuân năm 1975. CCB Nguyễn Gia Tưởng (Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh), nguyên Trung đội trưởng Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 bồi hồi nhớ lại kỷ niệm: “Khi quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, nhân dân nô nức, hồ hởi đón chào. Niềm vui chiến thắng tràn ngập phố phường. Có bà mẹ đã túm tay tôi, ngắm nhìn thật kỹ và nói: Bộ đội giải phóng khỏe mạnh, rắn rỏi thế này mà bọn Mỹ, Ngụy lại tuyên truyền là Việt cộng đánh đu không gẫy cành đu đủ…”.

Gặp những người vinh dự có mặt trong những giờ phút chói lọi nhất của lịch sử dân tộc hôm nay, chúng ta càng hiểu hơn những cống hiến to lớn của họ vượt qua gian khổ cùng cả nước làm nên chiến thắng vẻ vang giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Bài, ảnh: Bảo Anh – Thanh Tú

baobacninh.com.vn

Ký ức mùa xuân đại thắng- chuyện trong Nhà Con Rồng bây giờ mới kể

Trưa 30/4/1975, khi được tin quân ta đã cắm cờ trên dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các ngụy quyền, từ Tổng hành dinh, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho gửi gấp vào Nam một bức điện nói rõ ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương…

Thủ tướng gửi tặng khay quà

Các đồng chí trong Bộ Chính trị (BCT), thường trực Quân uỷ Trung ương (TTQUTƯ) sau các cuộc hội nghị tại Nhà Con Rồng (Tổng hành dinh trong khu A thành cổ Hà Nội) nghe báo cáo về tình hình chiến trường, rất quan tâm hỏi thăm sức khoẻ và muốn biết “anh em có được bồi dưỡng gì thêm”. Sau những chiến dịch thắng lớn ở chiến trường thì các đồng chí Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ… bao giờ cũng có quà tặng anh em. Lần này đang đại thắng, nên tối 27/3/1975, sau khi nghe báo cáo xong, đồng chí Sáu Thọ đã tặng 2 gói kẹo và tút thuốc lá Thăng Long: “Mình có chút quà tặng sớm cho anh em vì sáng mai lên đường vào chiến trường…”. Đến tối 28/4/1975, sau khi báo cáo xong tình hình, Cục trưởng Cục tác chiến BTTM nói vui với Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Thưa anh, trước khi đi vào B2 anh Sáu Thọ đã có quà tặng”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cười rất vui: “Vậy là tôi chưa có quà chứ gì?”. Trước khi tan họp, Thủ tướng ghé tai Cục trưởng Lê Hữu Đức (nay là Trung tướng): “Tôi đã ghi vào sổ tay để nhắc đồng chí Bí thư quân sự rồi!”. Ngày 30/4, ngày đại thắng, sau khi báo cáo xong tại cuộc họp của BCT-TTQUTƯ thì một cán bộ giúp việc từ buồng bên cạnh xuất hiện, trên tay có một khay quà. Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới đỡ lấy khay quà trao tận tay đồng chí Cục trưởng Cục tác chiến, lại nói nhỏ: “Xin chúc anh em Cục tác chiến luôn khoẻ, luôn tiến bộ!”. Thật cảm động!

Tổng tư lệnh “chiêu đãi” cháo gà

Tối 29/4/1975, các đồng chí Cục trưởng và Cục phó Cục tác chiến cùng đồng chí Mai Xuân Tần là cán bộ tham mưu chiến trường đang trao đổi công việc thì có điện của Đại tướng Tổng tư lệnh gọi lên trao đổi kế hoạch. Khi tới phòng làm việc của Tổng tư lệnh trong Tổng hành dinh thì đã có mặt cả Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh, Phó văn phòng Bộ Quốc phòng Trần Đông. Trên bàn bày mấy bát cháo gà còn bốc khói và một đĩa thịt gà có cả lá chanh thái nhỏ… Đại tướng vui vẻ: “Nào, ta liên hoan đại thắng để có sức thức suốt đêm nay nữa…”. Bình thường, những lúc làm việc căng thẳng, thêm giờ… Tổng Tư lệnh cũng chỉ uống cốc sữa nóng hoặc ăn quả chuối. Còn lần này, cũng là lần duy nhất Tổng tư lệnh có bữa “liên hoan” chiêu đãi một số cán bộ gần gũi trong suốt 55 ngày đêm của cuộc Tổng tấn công.

Bộ trưởng Công an “liên hoan đại thắng” bằng trái cây

Các đồng chí trong BCT và TTQUTƯ họp hội nghị bàn về quân sự thường tổ chức tại phòng họp lớn trong Tổng hành dinh. Ở buồng nghỉ bên cạnh thường có một ít hoa quả, nước ngọt bày sẵn, nhưng ít ai đụng đến. Các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng khi nghỉ giải lao có đồng chí bảo vệ mang tới một cốc trắng bịt kín, đó là sữa đậu nành. Hoa quả không ai đụng đến, anh em cán bộ cơ quan cũng không ai dám đụng tới, do đó sau buổi họp đồng chí Trần Quốc Hoàn – Uỷ viên BCT – Bộ trưởng Công an thường ở lại sau và “làm nhiệm vụ” chia cho mỗi người một ít “mang về chia cho anh em trực ban nữa”. Trong ngày đại thắng 30/4/1975, số hoa quả có nhiều hơn mọi ngày nên Bộ trưởng chia cho anh em “mang về” cũng nhiều hơn, chứa đầy cả túi quần, mũ cối: “Liên hoan đại thắng nhé”. Vậy mà riêng đồng chí không bao giờ lấy một thứ hoa quả gì!

Chiến sĩ nữ cơ yếu chỉ còn biết ngây người đứng nhìn…

Cán bộ, nhân viên mã dịch Cục cơ yếu BTTM phục vụ Tổng hành dinh vinh dự làm nhiệm vụ mã dịch khi nhận – chuyển các chỉ thị, mệnh lệnh của BCT, QUTƯ. Đến cuối tháng 3 thì phòng đã tung hơn nửa số quân vào chiến trường, số ở nhà phần đông là nữ, do thiếu tá Lê Văn Ngoạn chỉ huy. Sáng 30/4/1975, chị Trọng cùng với hai anh Châu, Khôi đang tập trung mã hoá, giải mã các bức điện thì thấy xuất hiện nhiều xe Vonga nối đuôi nhau tới đậu trước nhà làm việc của QUTƯ sớm hơn thường lệ, không khí nói cười cũng nhộn nhịp khác hẳn mọi ngày. Đến khoảng 11 giờ thì nhận được bức điện số 10 từ Bộ chỉ huy cánh Đông gửi về: “10 giờ ngày 30/4 toàn bộ lữ 203, trung đoàn 9, trung đoàn 66BB, cao xạ của Quân đoàn 2 đã vào chiếm lĩnh dinh Độc Lập, bắt Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu cùng nhân viên cao cấp nguỵ quyền Sài Gòn đang họp, bắt Dương Văn Minh ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng (12 giờ – giờ SG)”. Vừa dịch xong, chuyển ngay điện cho các đồng chí trong QUTƯ, chị Châu vừa chạy ra tới cửa thì thấy bên hành lang nhà Quận uỷ như chật hẳn, tiếng reo: “Toàn thắng rồi!”, “Đại thắng rồi!”, “Đánh giỏi quá!” như bật ra cùng lúc và thấy mọi người cứ ôm nhau mà hôn, mà quay tròn… Chị Châu chỉ còn biết đứng ngây người ra sung sướng chứng kiến cảnh “vũ hội” mừng đại thắng của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội đầu đã bạc trắng… rồi tự nhiên vỗ tay hoà theo lúc nào không biết…

Bộ Quốc phòng đốt pháo mừng đại thắng sau Bộ Ngoại giao

Trưa 30/4/1975, khi được tin quân ta đã cắm cờ trên dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các nguỵ quyền, từ Tổng hành dinh, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho gửi gấp vào Nam một bức điện nói rõ ý kiến chỉ đạo của BCT và QUTƯ: “Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí nhưng không phải với tư cách tổng thống mà chỉ với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân…”, và nhắc lại tin quân ta đã cắm cờ trên dinh Độc Lập rồi kết thúc bằng câu: “Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui…”.

Tại Nhà Con Rồng, lúc đó hơn chục bánh pháo đã được chuẩn bị, kết nối vào nhau treo sẵn lên cây cột. Cơ quan Bộ đề nghị với Đại tướng Tổng Tư lệnh cho đốt phào mừng đại thắng. Mấy sĩ quan văn phòng và chiến sĩ đã sẵn sàng chờ lệnh châm lửa thì Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh về gặp anh em chỉ thị: “Anh Văn bảo: Nhắc đài quan sát (bố trí trên đỉnh cột cờ ở khu bảo tàng quân đội) quan sát phía bên Bộ Ngoại giao. Khi nào thấy bên Bộ Ngoại giao nổ pháo thì Bộ Quốc phòng mới được châm lửa đốt pháo. Bộ Quốc phòng không được đốt pháo trước khi Bộ Ngoại giao nổ pháo”. Thế là, khi tiếng pháo bên Bộ Ngoại giao nổ ran, pháo bên Bộ Quốc phòng mới nổ tiếp theo. Sau này, khi có dịp hỏi nhỏ Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỉm cười: “Vì mình là Quân đội nhân dân thì không nên làm việc gì để người ta hiểu nhầm là mình tự nêu công trước…”.

Theo lời kể của các Trung tướng Cao Văn Khánh, Lê Hữu Đức

vov.vn