ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Lời nói đầu

Một năm đã qua kể từ ngày cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 giành toàn thắng, đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thời gian không làm phai nhạt mà chỉ càng làm rõ nét hơn chiến công vĩ đại của qaân và dân ta. Đại thắng Mùa Xuân đã được khắc sâu vào lịch sử bằng những chữ vàng chói lọi.

Chỉ trong 55 ngày đêm, với quyết tâm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tốc độ “một ngày bằng 20 năm” với sức mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị tích luỹ từ nhiều năm, quân và dân ta đã giành toàn thắng bằng ba chiến dịch lớn: Chiến dịch giải phóng toàn bộ Tây Nguyên mở đầu bằng trận đánh Buôn Ma Thuột;

Chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng, quét sạch địch ở ven biển miền Trung và kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn – Gia Định để dẫn tới giải phóng các tỉnh còn lại của Nam Bộ. Hơn một triệu quân nguỵ và tất cả bộ máy nguỵ quyền bị đập tan, chế độ thực dân mới được Mỹ dốc sức xây dựng trong hai chục năm sụp đổ hoàn toàn.

Tôi có may mắn được là một trong nhiều đồng chí nhận chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng cử đi tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1915 với cương vị Đại diện Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp trong Chiến dịch Tây Nguyên và Tư lệnh Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ nhất ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, báo Nhân dân đề nghị tôi kể lại một số chuyện trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 do đồng chí Hồng Hà ghi. Sau khi báo Nhân dân đăng loạt bài kể chuyện nói trên, nhiều bạn đọc và nhiều nhà xuất bản đề nghị cho in lại thành sách.

Mặc dù gặp khó khăn về thời gian, nhưng do yêu cầu cấp thiết của bạn đọc, tôi viết lại và bổ sung thêm tài liệu để thành cuốn Đại thắng Mùa Xuân này.

Một sự kiện lịch sử vĩ đại như Đại thắng Mùa Xuân không một cuốn sách riêng rẽ nào, không một đơn vị hoặc cá nhân nào có thể diễn tả lại được đầy đủ. Việc sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, việc tổng kết kinh nghiệm đòi hỏi nhiều năm, có khi hàng chục năm. Vì thế cuốn Đại thắng Mùa Xuân chỉ là những nét phác thảo nhằm kịp thời giới thiệu với bạn đọc một số mẩu chuyện về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 để thấy rõ sự chỉ đạo với tài thao lược, tính kiên quyết, tư tưởng cách mạng tiến công, tính độc lập tự chủ của tập thể Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, những cố gắng phi thường, những hy sinh to lớn của quân và dân ta trong cả nước.

Cuốn sách chủ yếu nhằm giới thiệu với bạn đọc những vấn đề thuộc về sự lãnh đạo sáng suốt của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương, sự đấu lực và đấu trí rất thông minh của Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta trong phạm vi chiến lược và chiến dịch để dẫn đến toàn thắng, không đi sâu vào các hoạt động, thành tích và trận chiến đấu cụ thể của các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, đơn vị, các địa phương và các tầng lớp nhân dân.

Cuốn sách không sao nói hết được những ý nghĩ, sự phân tích của tập thể Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và tập thể cơ quan Bộ Tổng tư lệnh khi hạ quyết tâm chiến lược ở thời kỳ “nút” giải quyết cuộc chiến tranh theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Không sao nhớ hết, nói hết được những tính toán chiến lược của Đảng ta để đi đến tổ chức thực hiện trên các chiến trường một cách sáng tạo, táo bạo, khẩn trương quyết tâm của Bộ Chính trị để giành toàn thắng. Không sao nhớ hết, nói hết được những hành động anh hùng của hàng trăm nghìn chiến sĩ và cán bộ trong quân đội, của triệu triệu nhân dân ta từ Nam chí Bắc, sự đóng góp hết lòng, hết sức của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân đê làm nên thắng lợi tuyệt vời này. Đây là công việc của nhiều đồng chí, đồng bào, của nhiều đơn vị, địa phương, của nhiều cuốn sách, bài báo, tác phẩm nghệ thuật trong nhiều tháng tới và nhiều năm tới, tiếp tục cung cấp thêm nhiều tài liệu để giới thiệu Đại thắng Mùa Xuân, cuốn sách này còn nhằm kịp thời bác bỏ những luận điểm sai trái, phản động do những kẻ xuyên tạc lịch sử, những bọn cướp nước và bán nước thua trận đang dựng lên hòng bào chữa cho thất bại thảm hại của chúng và hạ thấp chiến thắng của dân tộc ta.

Do tầm cỡ vĩ đại của chiến thắng, một người không thể nhìn bao quát và do thời gian gấp rút, cuốn sách này không tránh khỏi có những thiếu sót, mong bạn đọc thân mến bổ sung và góp ý kiến.

Tháng 5 năm 1976
Đại tướng Văn Tiến Dũng

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 1

Bạo lực cách mạng

Mùa xuân năm 1974, sau Tết Giáp Dần, Hội nghị cán bộ quân sự cao cấp họp tại số nhà 33 phố Phạm Ngũ Lão – Hà Nội. Hội nghị có đủ đại biểu các chiến trường, các quân chủng, binh chủng, các quân đoàn, sư đoàn và đại biểu các cơ quan Bộ Tổng tư lệnh để thảo luận quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng họp tháng 10 năm 1973 và phổ biến Nghị quyết tháng 3 năm 1974 của Quân uỷ Trung ương đã được Bộ Chính trị thông qua.

Đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Lê Đức Thọ đến Hội nghị phổ biến Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21. Cũng trong dịp này, Quốc hội quyết định thăng quân hàm cấp tướng cho một số cán bộ cao cấp trong quân đội. Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã đến thăm, động viên và chỉ thị nhiệm vụ cho các cán bộ cao cấp và cho toàn quân.

Mỗi cán bộ và chiến sĩ quân đội hết sức phấn khởi được Trung ương Đảng chỉ cho thấy đường đi và triển vọng tươi sáng của cách mạng. Những lời căn dặn của đồng chí Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng, của Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại Hội nghị là mệnh lệnh của Đảng và Nhà nước cho toàn quân tiến lên phía trước.

Hồi đó, Hiệp định Paris về Việt Nam ký đã được hơn một năm.
Theo Hiệp định, đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, cam kết tôn trnng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt dính líu quân sự và can thỉệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam, thừa nhận thực tế ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị.

Đó là thắng lợi lớn của nhân dân ta, là thất bại lớn của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, là kết quả 18 năm đấu tranh kiên cường và bền bỉ của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta. Hiệp định Paris về Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, mở ra cho cách mạng miền Nam Việt Nam một giai đoạn mới: giai đoạn hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà. Đó là thời kỳ cuối của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nói chung và của chiến tranh cách mạng ở miền Nam nói riêng.

Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ra sức phá hoại Hiệp định Paris về Việt Nam một cách có kế hoạch và có hệ thống.

Tuy buộc phải ký Hiệp định, đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ chính sách cơ bản của chúng ở Việt Nam là thực hiện “học thuyết Níchxơn”, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta. Để thực hiện ý đồ nham hiểm đó, ngay từ đầu, Mỹ chủ trương vừa ký Hiệp định, vừa giúp nguỵ quyền Sài Gòn tiếp tục chiến tranh điên cuồng phá hoại Hiệp định. Đế quốc Mỹ đã tiến hành ở miền Nam nước ta một cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới bằng nhiều biện pháp thâm độc.

Chúng tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho bọn nguỵ. Trước khi rút quân ra, Mỹ đã đưa vào miền Nam gần 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và rất nhiều tàu chiến, dự kiến đưa thêm một số lớn binh khí kỹ thuật, tăng dự trữ vật tư chiến tranh của quân nguỵ lên mức tương đối cao, gần 2 triệu tấn.

Hiệp định ký chưa ráo mực, Nguyễn Văn Thiệu đã hò hét “tràn ngập lãnh thổ”, tập trung lực lượng thực hiện “Kế hoạch bình định ba năm 1973-1975”, “Kế hoạch bình định sáu tháng từ tháng 3-1973 đến tháng 8-1973”, “Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt”, “Kế hoạch xây dựng quân đội từ 1974 đến 1979″ nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang và tổ chức cách mạng của ta ở miền Nam.

Địch khẩn trương củng cố và tăng cường xây dựng quân nguỵ, nhất là các quân chủng, binh chủng nhằm bảo đảm cho quân nguỵ đủ sức đối phó với quân chủ lực của ta trong mọi tình huống. Trong năm 1973, địch đã bắt khoảng 24 vạn lính, thu thập lại trên 13 vạn quân đào ngũ, rã ngũ và bị thương, đưa tổng quân số của chúng lên tranh cách mạng để giành thắng lợi hoàn toàn”. Và “Cách mạng miền Nam phải nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công. Ta phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta”.

Tinh thần của Nghị quyết 21 là: Địch không thi hành Hiệp định, tiếp tục chiến tranh Việt Nam hoá, thực chất là chiến tranh thực dân kiểu mới hòng chiếm lấy cả miền Nam, thì ta không có con đường nào khác là phải tiên hành chiến tranh cách mạng, tiêu diệt chúng, giải phóng miền Nam.

Hội nghị Quân uỷ Trung ương không những vạch rõ phương châm chung là “phản công và tiến công” mà còn nêu lên phương hướng vận dụng phương châm đó trong từng vùng và những phương thức hoạt động trên từng chiến trường. Hội nghị còn đề ra nhiệm vụ cho toàn quân: tích cực tiến hành công tác chính trị nhằm không ngừng nâng cao chất lượng chính trị toàn diện của các lực lượng vũ trang, tạo nên một sự chuyển biến mới mạnh mẽ, cả về tư tưởng, tổ chức, năng lực, tác phong trong mọi đơn vị, mọi cán bộ, chiến sĩ, nhất là nâng cao ý chí chiến đấu, tăng cường tổ chức kỷ luật, bảo đảm cho ba thứ quân hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương được Bộ Chính trị thông qua.
Sau khi có Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu cùng với Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, bắt tay ngay vào việc nghiên cứu, lập những kế hoạch tác chiến chiến lược chung và kế hoạch tác chiến từng chiến trường; khẩn trương tổ chức và huấn luyện các binh đoàn chủ lực, các binh chủng kỹ thuật; vạch kế hoạch về các mặt công tác chuẩn bị và công tác bảo đảm; đồng thời chỉ đạo các chiến trường đẩy mạnh hoạt động thực hiện các đợt tiến công và nổi dậy, giữ vững và phát triển thế chủ động chiến lược, làm chuyển biến cục diện chiến trường, tạo điều kiện cho tiến công lớn, rộng khắp trong năm 1975.

Các địa phương và các đơn vị, từ Trị Thiên đến Tây Nam Bộ và vùng ven Sài Gòn – Gia Định, từ tháng 4 năm 1974 đến tháng 10 năm 1974 đều hoạt động mạnh lên, phản công và tiến công địch liên tục, giành thắng lợi ngày càng lớn, với nhịp độ nhanh. Nơi nào quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21 và Nghị quyết Quân uỷ Trung ương, nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng và tư tưởng tiến công, thì nơi đó chẳng những phá được kế hoạch “bình định” của địch, giữ vững được vùng giải phóng của ta và các căn cứ trong vùng địch kiểm soát, mà còn mở rộng thêm được nhiều vùng giải phóng, dồn địch vào thế lúng túng, bị động đối phó.

Chúng tôi đặc biệt chú ý đến kết quả trận tiêu diệt quận lỵ Thượng Đức ở Khu 5. Đây là trận thử sức với lực lượng gọi là tinh nhuệ nhất của địch. Ta tiêu diệt địch ở chi khu quận lỵ Thượng Đức, địch đưa cả sư đoàn lính nhảy dù đến phản kích liên tục, dài ngày hòng chiếm lại, nhưng ta đã đánh cho chúng thiệt hại nặng, giữ vững Thượng Đức, buộc địch phải “bỏ cuộc”.

Từ trận Thượng Đức này và các trận tiêu diệt quân chủ lực địch ở Chư Nghé, Đắc Pét trên Tây Nguyên, Bộ Tổng Tham mưu đi đến nhận định và báo cáo với Quân uỷ Trung ương: khả năng chiến đấu của bộ đội chủ lực cơ động của ta đã hơn hẳn quân chủ lực cơ động của địch. Chiến tranh đã bước vào giai đoạn cuối, so sánh lực lượng đã thay đổi, ta mạnh lên, địch yếu đi. Do đó ta có thể và cần phải chuyển từ đánh nhằm tiêu diệt sinh lực địch là chính, sang đánh chẳng những tiêu diệt địch mà còn nhằm giải phóng nhân dân và giữ đất, từ chỗ quân chủ lực ta lấy tiêu diệt quân chủ lực địch trên chiến trường rừng núi là chủ yếu, sang tiêu diệt địch và giải phóng nhân dân, giải phóng đất cả ở vùng giáp ranh, đồng bằng và thành phố. Muốn đánh tiêu diệt lớn và giữ vững các vùng mới giải phóng thì việc chỉ sử dụng các sư đoàn độc lập hoặc phối hợp không còn thích hợp nữa, mà cần có những binh đoàn cơ động, binh chủng hợp thành lớn hơn, làm quả đấm mạnh, được sử dụng vào những thời cơ quan trọng nhất, hoạt động trên những hướng chủ yếu, giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu nhằm tiêu diệt lớn quân chủ lực địch.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhất trí với nhận định này và chỉ thị cần xúc tiến tổ chức ngay các binh đoàn cơ động trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Từ tháng 10 năm 1973 trở đi, lần lượt các quân đoàn được thành lập tập trung huấn luyện tác chiến hợp đồng binh chủng và bố trí trên các địa bàn chiến lược cơ động nhất. Việc xây dựng các quân đoàn có đủ các thành phần binh chủng kỹ thuật là một bước trưởng thành mới của quân đội ta, làm cho ta có khả năng tiến hành các chiến dịch hợp đồng binh chủng quy mô lớn gồm nhiều quân đoàn, sư đoàn, có sức đột kích lớn, cơ động cao, sức chiến đấu liên tục, có khả năng đánh tiêu diệt quân địch trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược: Đi đôi với tổ chức lực lượng còn một việc cấp bách khác là biên chế và thay đổi trang bị cho quân đội được tốt và hiện đại hơn. Một khối lượng lớn hàng quân sự của ta như xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, pháo tầm xa, pháo cao xạ mà đế quốc Mỹ định phá huỷ trong đợt 12 ngày đêm ném bom miền Bắc bằng máy bay B.52 không được, nay lần lượt được chuyển tới các chiến trường. Và lần đầu tiên pháo cơ giới tầm xa và những xe tăng tốt của ta đã vào tận những rừng cao su Nam Bộ. Đây là một bước trưởng thành lớn của quân đội ta, đồng thời cũng là bước chuẩn bị lực lượng tích cực nhất cho cuộc tổng tiến công sau này.

Có lực lượng lớn, có trang bị hiện đại chưa đủ, còn phải tổ chức chiến trường để có thể phát huy được hết sức mạnh của lực lượng lớn và trang bị hiện đại đó. Quy luật chiến tranh cách mạng là từ những đơn vị nhỏ ban đầu phát triển thành những binh đoàn lớn tác chiến hợp đồng binh chủng để tiêu diệt lớn lực lượng địch và cuối cùng phải đánh vào thành phố, đánh vào đầu não chính quyền địch, mới đánh gục được địch, giải phóng Tổ quốc. Và như vậy phải có đủ đường giao thông, phương tiện vận chuyển cơ giới mới có đủ lương thực, thực phẩm, đạn dược, vũ khí cho tiền tuyến.

Một vấn đề then chốt là phải có hệ thống đường cơ động tốt. Công trình xây dựng con đường chiến lược phía Đông Trường Sơn bắt đầu từ năm 1973, hoàn thành đầu năm 1975 được xúc tiến với nhịp độ hết sức khẩn trương nối hền từ đường số 9 (Quảng Trị) vào đến miền Đông Nam Bộ là công trình lao động của hơn 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong, đưa tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch, cả cũ và mới, làm trong suốt cuộc chiến tranh lên hơn 20.000km. Nhà nước và nhân dân ta đã dồn sức dồn của rất lớn vào công trình này. Hàng nghìn xe máy các loại, hàng chục nghìn bộ đội, công nhân, kỹ sư, thanh niên xung phong và dân công vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ do khí hậu, thời tiết và bom đạn địch gây ra, ngày đêm phá núi san đèo, chuyển đá đắp đường, xây cống, dựng cầu, tạo ra một kỳ công rất tự hào ở phía Tây Tổ quốc. Đúng là “Đường ta rộng thênh thang tám thước”, các xe vận tải cỡ lớn, các xe chiến đấu loại nặng chạy được hai chiều với tốc độ cao cả bốn mùa, đã ngày đêm hàm hở chuyển hàng trăm nghìn tấn vật chất các loại vào hệ thống kho tàng cho các chiến trường để bảo đảm đánh lớn.

Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ thống 5.000km đường ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, vượt sông cả, suối sâu, núì cao, có ngọn hơn 1.000 mét, đủ sức tiếp dầu cho hàng chục nghìn xe các loại vào, ra trên đường.

Có thể nêu một hình ảnh đáng tự hào là trên vùng núi chót vót ở phía tây Tổ quốc, hơn 20.000km đường chiến lược từ Bắc chí Nam và đường chiến dịch từ Tây sang Đông như những chiếc thừng rất chắc đang từng ngày từng giờ luồn dần vào cổ, vào chân tay con quái vật, chờ khi có lệnh là siết chặt, kết liễu đời nó.

Đường dây thông tin hữu tuyến cũng đã kéo dài tới Lộc Ninh. Từ Hà Nội đã nói chuyện thẳng được với nhiều chiến trường.

Giữa lúc nhân dân miền Nam đẩy lùi địch hầu khắp mọi nơi để giành quyền làm chủ thì ở miền Bắc, từ các bản làng, khu phố, cơ quan, trường học, xí nghiệp, hàng chục nghìn thanh niên nô nức vào bộ đội, lên đường ra mặt trận theo tiếng gọi của Đảng và Tổ quốc.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng và Nghị quyết Quân uỷ Trung ương cùng sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị đã làm chuyển biến cục, diện chiến trường có lợi cho ta và động viên được sức mạnh cả nước hướng ra tiền tuyến.

Hết: Chương 1, xem tiếp: Chương 2

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 2

Thời cơ

Trong các tháng 7, 8, 9, 10 năm 1974, các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu làm việc nhộn nhịp và căng thẳng. Các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương và Bộ Chính trị hàng ngày theo dõi tình hình và chỉ đạo việc nghiên cứu dự thảo kế hoạch tác chiến chiến lược. Lúc này, một luồng gió mát phấn chấn thổi qua toàn Đảng và toàn dân ta: Cách mạng miền Nam đang trỗi dậy sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương tháng 3 năm 1974. Cục diện chiến trường đang chuyển biến có lợi cho ta. Quân và dân ta đã chủ động đưa thế và lực cách mạng tiến lên từng bước vững chắc, đã phản công và tiến công địch liên tục giành thắng lợi ngày càng lớn với nhịp độ nhanh. Khu 9 nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, xoá hẳn hơn 2.000 đồn bốt địch, giải phóng hơn 400 ấp với gần 800.000 dân. Khu 8 xoá hẳn hơn 800 đồn bốt địch, giải phóng thêm hơn 200 ấp với hơn 130.000 dân. Khu 7 duy trì thế tiến công địch, đánh bại cuộc hành quân giải toả của địch, giữ vững bàn đạp phía bắc Sài Gòn. Vùng ven Sài Gòn đẩy mạnh các mặt đấu tranh giữ vững các lõm giải phóng, đánh thiệt hại nặng quân địch phản kích. Khu 5 đã chuyển lên thế tiến công ngày càng mạnh, mở rộng bàn đạp vùng giáp ranh (Nông Sơn, Thượng Đức, Tuy Phước, Minh Long, Giá Vụt), đẩy mạnh đánh phá địch ở đồng bằng, xoá hẳn gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 200.000 dân. Ở Tây Nguyên, ta tiến công tiêu diệt và bức rút Đắc Pét, Chư Nghé, Măng Bút, Măng Đen, I-a-súp, mở rộng vùng giải phóng và hành lang chiến lược. Ở Trị Thiên, tiếp tục giam chân sư đoàn thuỷ quân lục chiến, sư đoàn cơ động chiến lược của nguỵ, áp sát vùng giáp ranh và đẩy mạnh chống “bình định” ở đồng bằng ngày càng có kết quả hơn. Địch thì bị động, sa sút toàn diện. Kế hoạch “bình định” lấn chiếm của chúng bị đánh bại một bước quan trọng trên nhiều khu vực ở đồng bằng, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Tinh thần và sức chiến đấu của quân nguỵ giảm sút rõ rệt: 170.000 tên đào ngũ, rã ngũ kể từ đầu năm. Tổng số quân của chúng giảm 20.000 tên so với năm 1973; số quân chiến đấu giảm xuống nhiều. Lực lượng cơ động chiến lược địch bị sa lầy (sư đoàn thuỷ quân lục chiến ở Trị Thiên, sư đoàn dù ở Thượng Đức). Mỹ giảm viện trợ làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng của quân nguỵ không thực hiện được theo ý muốn của chúng. Trong tài khoá 1972-1973, Mỹ viện trợ cho nguỵ 1.614 triệu đôla về quân sự. Tài khoá 1973-1974 chỉ còn 1.026 triệu đôla và tài khoá 1974-1975 giảm xuống còn 700 triệu. Nguyễn Văn Thiệu phải kêu gọi quân của hắn chuyển sang tác chiến “kiểu con nhà nghèo”: theo tài liệu của chúng thì chi viện hoả lực giảm sút gần 60% vì thiếu bom, đạn; sức cơ động cũng giảm 50% vì thiếu máy bay, thiếu xe, thiếu cả nhiên liệu. Tình trạng đó buộc chúng phải chuyển từ hành quân lớn, tiến công nhảy sâu bằng máy bay lên thẳng, xe tăng sang phòng ngự chốt, lấn dũi, lùng sục nhỏ. Tóm lại, đặc điểm chủ yếu của tình hình miền Nam sau gần hai năm ta đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris là: mặc dầu quân Mỹ và quân chư hầu đã buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng ở đây vẫn đang diễn ra một cuộc chiến tranh cách mạng của ta chống chiến tranh thực dân mới của địch, kết hợp tiến công quân sự và đấu tranh chính trị. Nổi bật là cuộc đấu tranh đó diễn ra với quy mô ngày càng lớn mà ta thì ngày càng chủ động và mạnh lên, địch ngày càng bị động và yếu đi, tạo thêm một bước phát triển mới về so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng. Đi đôi với việc phát triển thế và lực trên chiến trường miền Nam, ta còn ra sức xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững mạnh về mọi mặt, từng bước khắc phục những hậu quả nghiêm trọng của hai cuộc chiến tranh phá hoại. Về sản xuất đạt xấp xỉ mức năm 1965, đời sống nhân dân được ổn định. Trong hai năm 1973-1974, hàng chục vạn chiến sĩ đã được động viên ra tiền tuyến, công tác chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu, chủ yếu là từ Khu 4 cũ trở vào và trong quân chủng Phòng không – Không quân được tiến hành rất tích cực. Tháng 10-1974, trời cuối thu bắt đầu lạnh, gợi cho các cán bộ quân sự chúng tôi nhớ đến mùa chiến dịch sắp đến. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp nghe Bộ Tổng Tham mưu trình bày kế hoạch tác chiến chiến lược. Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị khá đầy đủ mọi mặt tình hình địch và ta, diễn biến trên các chiến trường từ sau khi ký Hiệp định Paris bằng những bản đồ, biểu đồ, bảng so sánh các số liệu, treo khắp bốn bức tường trong phòng họp. Qua nghe báo cáo và thảo luận, hội nghị nhất trí đánh giá tình hình miền Nam gọn trong năm điểm: Một là, quân nguỵ ngày càng suy yếu cả về quân sự chính trị, kinh tế. Lực lượng ta đã mạnh hơn địch ở miền Nam. Hai là, Mỹ ngày càng gặp nhiều khó khăn trong nước và trên thế giới, khả năng viện trợ cho nguỵ ngày càng giảm bớt, cả về chính trị và kinh tế. Do đó, Mỹ chẳng những phải giảm bớt viện trợ cho nguỵ mà còn khó có khả năng nhảy vào lại miền Nam và dù chúng có can thiệp thế nào đi nữa cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của nguỵ quyền Sài Gòn. Ba là, ta đã tạo được một thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, đã tăng cường được lực lượng và dự trữ vật chất, đã hoàn chỉnh được hệ thống đường giao thông chiến lược và chiến dịch. Bốn là, ở đô thị đã có phong trào đòi hoà bình, dân sinh, dân chủ, độc lập dân tộc, đòi lật đổ Thiệu. Năm là, nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Hội nghị lần này có một vấn đề được đặt ra và thảo luận sôi nổi: liệu Mỹ có khả năng đưa quân trở lại miền Nam khi ta đánh lớn dẫn đến nguy cơ sụp đổ của quân nguỵ không? Mọi người đều thấy rõ và rất chú ý là sau khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam, buộc phải rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, Mỹ lại càng khó khăn và bối rối hơn trước. Mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Mỹ và giữa các đảng phái ở Mỹ lại càng gay gắt thêm. Vụ bê bối Oatơghết giày vò cả nước Mỹ kéo theo sự từ chức của một tổng thống cực kỳ phản động: Níchxơn. Kinh tế Mỹ suy thoái, lạm phát tăng, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng, khủng hoảng nhiên liệu đang tiếp diễn. Những đồng minh của Mỹ cũng kèn cựa với Mỹ và các nước phụ thuộc vào Mỹ cũng tìm cánh quẫy ra khỏi sự khống chế của Mỹ. Viện trợ của Mỹ cho nguỵ quyền Sài Gòn theo hướng ngày càng giảm. Đồng chí Lê Duẩn kết luận một nhận định quan trọng thành nghị quyết: “Mỹ đã rút ra khỏi miền Nam thì khó có khả năng nhảy vào lại miền Nam và dù chúng can thiệp đến thế nào đi nữa thì cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn”. Khi thảo luận kế hoạch tác chiến chiến lược năm 1975, một vấn đề rất quan trọng nữa cũng được đặt ra là chọn chiến trường chủ yếu ở đâu? Trên toàn chiến trường miền Nam, địch bố trí lực lượng theo thế “mạnh ở hai đầu”. Cụ thể là ở Quân khu 1 tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, địch có 5 sư đoàn chủ lực; ở Quân khu 3, trong đó có tuyến phòng thủ vòng ngoài bảo vệ Sài Gòn, địch có 3 sư đoàn chủ lực, nhưng chúng còn có thể sẵn sàng cơ động 1 đến 2 sư đoàn chủ lực trong số 3 sư đoàn ở Quân khu 4 về. Còn ở Quân khu 2, trong đó có Tây Nguyên, địch chỉ có 2 sư đoàn chủ lực, lại phải rải ra vừa giữ các tỉnh Tây Nguyên, vừa phải bảo vệ các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận. Nhưng Tây Nguyên là một chiến trường hết sức cơ động, có nhiều lợi thế để phát triển về phía nam theo đường số 14 hoặc xuống phía đông theo các đường số 19, 7, 21. Địa hình ở đây là cao nguyên, độ cao chênh lệch không đáng kể, tiện việc làm đường, các binh khí kỹ thuật cơ động thuận tiện, phát huy được hết sức mạnh. Tóm lại, đứng về mặt chiến lược, đây là một địa bàn hết sức quan trọng. Hội nghị nhất trí thông qua phương án của Bộ Tổng Tham mưu, chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp năm 1975. Nhưng Bộ Chính trị thấy rằng, để đi đến quyết định cuối cùng về quyết tâm chiến lược, còn phải nghiên cứu tình hình kỹ hơn nữa, bổ sung cho kế hoạch tác chiến chiến lược đầy đủ hơn nữa. Đồng thời quyết định phải gấp rút đẩy mạnh nhiều mặt công tác để thực hiện quyết tâm. Bộ Chính trị triệu tập các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường ở miền Nam ra Hà Nội báo cáo tình hình và bàn kỹ để có sự nhất trí về quyết tâm chiến lược. Đầu tháng 12 năm 1974, các đồng chí Phạm Hùng, uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Thượng tướng Trần Văn Trà, Phan Văn Đáng, uỷ viên Trung ương Đảng ở Nam Bộ và các đồng chí Võ Chí Công, uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư khu uỷ Khu 5, Thượng tướng Chu Huy Mân ở Khu 5 lần lượt đến Hà Nội. Bộ Chính trị làm việc riêng với các đồng chí phụ trách từng chiến trường, nghe báo cáo tình hình mọi mặt. Trong các ngày từ 3 đến 5-12-1974, Thường trực Quân uỷ Trung ương lần lượt nghe các đồng chí ở Nam Bộ và Khu 5 báo cáo về ý định và kế hoạch tác chiến”. Đây là những cuộc họp chuẩn bị cho Hội nghị hết sức quan trọng của Bộ Chính trị kéo dài từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-1-1975. Dự Hội nghị, ngoài các đồng chí trong Bộ Chính trị, còn có các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường, các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương và các đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách tác chiến. Tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị đều lần lượt phát biểu ý kiến và thảo luận rất kỹ. Cần nói rằng trong thời gian 20 ngày của Hội nghị, việc nhận định tình hình cũng như những ý kiến của Bộ Chính trị có sự phát triển từng tuẩn, ngày càng rõ nét những ý định chiến lược lớn lao và ngày càng thể hiện một quyết tâm sắt đá. Giữa lúc Bộ Chính trị đang họp thì một tin vui lớn từ miền Nam đưa tới: bộ đội chủ lực của miền Đông Nam Bộ phối hợp với lực lượng của địa phương mở chiến dịch đường số 14-Phước Long giành thắng lợi lớn. Trong hơn 20 ngày ta đã diệt và bắt trên 3.000 tên địch, thu 3.000 súng các loại, giải phóng thị xã Phước Long và toàn tỉnh Phước Long. Đây là tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Chiến dịch đường số 14-Phước Long thắng lớn có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chiến thắng này đánh dấu một bước suy sụp mới của quân nguỵ. Quân chủ lực của chúng không còn đủ sức hành quân giải toả quy mô lớn để lấy lại các vùng, các căn cứ và thị xã quan trọng mà ta đã chiếm trên các địa bàn rừng núi và giáp ranh. Chiến thắng này còn cho thấy rõ hơn về đế quốc Mỹ trong ý đồ và khả năng can thiệp của chúng vào miền Nam Việt Nam. Điều quan trọng hơn cả là chiến dịch đường số 14-Phước Long thắng to đã nói lên những khả năng mới rất lớn của quân và dân ta. Chiến thắng đó củng cố thêm quyết tâm chiến lược được xác định trong Hội nghị Bộ Chính trị và bổ sung cho phương án giành thắng lợi lớn khi có thời cơ. Lúc đầu Mỹ hùng hổ cho tàu chở máy bay chạy bằng năng lượng nguyên tử Intơpraidơ dẫn một lực lượng đặc biệt của hạm đội 7 từ Philíppin tiến về phía bờ biển Việt Nam; ra lệnh đặt sư đoàn 3 thuỷ quân lục chiến Mỹ ở Okinawa trong tình trạng báo động khẩn cấp. Bọn hiếu chiến ở Lầu năm góc doạ ném bom trở lại miền Bắc. Nhưng rồi cuối cùng Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Slesinhgiơ buộc phải bỏ qua “sự kiện Phước Long” và tuyên bố: “Đây, chưa phải là một cuộc tiến công ồ ạt của miền Bắc Việt Nam”. Hắn phớt lờ lời kêu gọi thảm thiết của Thiệu. Đại sứ, Mỹ Matin ở Sài Gòn nói với Thiệu: “Việc yểm hộ của Mỹ lúc này chưa được phép”. Ngày nay Mỹ đã yếu thế đến mức không thể muốn làm gì thì làm. Hội nghị Bộ Chính trị phân tích sự suy yếu củạ địch báo hiệu một thời cơ mới đang đến. Nhưng muốn tạo được thời cơ lớn phải có những trận đánh tiêu diệt lớn, rung động lớn, làm cho địch bị tiêu diệt và tan rã lớn. Tình hình lúc này đối với ta vô cùng thuận lợi. Ở miền Nam có thể sẽ diễn ra một cuộc khủng hoảng đưa đến một thời cơ lớn cho ta. Nếu ta đánh mạnh nhất, gọn nhất, nhanh nhất, thì nhất định sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn sớm hơn ta dự kiến. Ngày 8-1-1975, hai ngày sau chiến thắng Phước Long, đồng chí Lê Duẩn kết luận Hội nghị. Đồng chí nói: “Hội nghị chúng ta rất phấn khởi, nhất trí cao. Lần này có các đồng chí ở Nam Bộ và Khu 5 ra dự. Tình hình đã sáng rõ. Chúng ta quyết tâm hoàn thành kế hoạch hai năm. Hai năm là ngắn và cũng là dài. Cuộc chiến đấu ở miền Nam được thực lực mạnh ở miền Bắc dấy lên thành sức mạnh cả nước. Bây giờ quân Mỹ đã rút ra rồi, quân đội ta đã có sẵn ở trong Nam, quần chúng lại có khí thế. Đây là nội dung của thời cơ. Ta phải nắm vững và đẩy mạnh đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, đó là đặc điểm Việt Nam. Ở miền Nam ta có sức mạnh mới: giành thế chủ động trên chiến trường, tạo được thế liên hoàn từ Trị Thiên vào đến đồng bằng sông Cừu Long. Ta đã tạo được quả đấm mạnh. Ở Khu 8, Khu 9, quả đấm cũng đang hình thành và phát triển. Ta tạo được bàn đạp quanh đô thị; đô thị có phong trào quần chúng của ta, thế giới ủng hộ ta”. Sau khi phân tích tình thế suy yếu của địch, đồng chí Lê Duẩn nói tiếp: “Ta phải giáng đòn chiến lược trong năm 1975. Ở Nam Bộ ta phải tạo thế liên hoàn trong toàn miền, áp sát vào Sài Gòn hơn nữa, tiêu diệt quân chủ lực địch nhiều hơn nữa, làm cho các địa phương có sức bung ra khi có thời cơ. Còn ở đồng bằng sông Cửu Long, ta phải áp sát vào Mỹ Tho hơn nữa. Chúng ta đồng ý năm nay mở đầu bằng đánh Tây Nguyên”. Đồng chí chỉ tấm bản đồ treo phía sau lưng nói: “Cần đánh mở ra ở Buôn Ma Thuột và Tuy Hoà. Ở Khu 5 ta phải giải phóng từ Bình Định trở ra. Ở Trị Thiên, ta phải làm chủ từ Huế đến Đà Nẵng. Thắng lợi lớn như vậy thì làm cho so sánh lực lượng thay đổi lớn. Phải đánh liên tục đến mùa mưa, tạo ra những thắng lợi dồn dập. Ta đánh mạnh, địch có nguy cơ tan rã nhanh hơn. Đánh ở vòng ngoài đô thị thì ta phải đập tan quân chủ lực địch. Khi vào đô thị, ta phải đập nát đầu não của địch. Miền Bắc phải bảo đảm đầy đủ về vật chất và kỹ thuật cho bộ đội. Đây là nhân tố cơ bản để giành thắng lợi. Bất cứ thời cơ nào ta cũng thắng. Phải xem có cách gì đánh nhanh hơn nữa. Bộ Tổng Tham mưu cần suy nghĩ nhiều hơn về vấn đề đó”. Hội nghị Bộ Chính trị (18-12-1974-8-1-1975) có ý nghĩa lịch sử, đánh giá đúng thực chất tình hình, nắm vững quy luật chiến tranh cách mạng, kịp thời phát hiện những nhân tố mới để hạ quyết tâm chiến lược chính xác. Rõ ràng về cuối Hội nghị, Bộ Chính trị nhấn mạnh nhiều hơn đến việc cần phải đánh nhanh hơn. Đấy là một mong muốn có căn cứ khoa học sau khi đã phát hiện thời cơ và nắm lấy thời cơ, nếu bỏ lỡ thời cơ thì có tội đối với dân tộc. Kết luận của đồng chí Lê Duẩn được Hội nghị nhất trí hoàn toàn và biến thành nghị quyết: Chưa bao giờ ta có điều kiện đẩy đủ về quân sự, chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn thuận lợi như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc giữa lúc phong trào ba nước Đông Dương đang trên đà tiến công mạnh, giành thắng lợi ngày càng to lớn. Bộ Chính trị nêu quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi tiến hành Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã nguỵ quân, đánh đổ nguỵ quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam. Bộ Chính trị còn nhấn mạnh: Ta vẫn đề phòng khả năng Mỹ có thể can thiệp bằng không quân, hải quân, trong trường hợp quân nguỵ có nguy cơ sụp đổ lớn và với điều kiện chúng có khả năng kéo dài sự chống đỡ. Nhưng dù Mỹ có can thiệp như thế nào ta cũng có đầy đủ quyết tâm và điều kiện để đánh thắng chúng và chúng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn. Quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị được thể hiện trong kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976: năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm, trong kế hoạch năm 1975, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án khác và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng là: nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Hết: Chương 2, xem tiếp: Chương 3

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 3

Chiến trường quan trọng

Hội nghị Bộ Chính trị vừa bế mạc thì hôm sau, ngày 9-1-1975, Thường trực Quân uỷ Trung ương họp, có mời thêm các đồng chí Võ Chí Công, Chu Huy Mân, Hoàng Minh Thảo, Lê Trọng Tấn để quán triệt và thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị.

Chúng tôi nghe báo cáo của Bộ Tổng Tham mưu về mục đích, yêu cầu của Chiến dịch Tây Nguyên. Đang họp thì được tin địch vẫn tiếp tục điều chỉnh sư đoàn dù để phòng thủ khu vực Đà Nẵng. Như thế là địch chưa phát hiện được lực lượng và chuẩn bị của ta ở Tây Nguyên.

Đến cuộc họp của Thường trực Quân uỷ, ý định đánh Buôn Ma Thuột mới thật sự rõ nét. Mọi người đều thấy ý nghĩa quan trọng của trận đánh vào thị xã này, nhưng cách đánh để thắng cho nhanh thì còn phải nghiên cứu thực tế tại chỗ mới đi tới quyết định được.

Cuộc họp vừa bắt đầu thì đồng chí Lê Đức Thọ bất ngờ mở cửa vào và ngồi họp với chúng tôi. Sau chúng tôi hiểu rằng Bộ Chính trị chưa thật yên tâm vì thấy ý định đánh Buôn Ma Thuột chưa được thể hiện rõ ràng trong kế hoạch tác chiến, cho nên đã cử đồng chí Lê Đức Thọ đến tham gia góp ý kiến với chúng tôi là nhất quyết phải đánh Buôn Ma Thuột. Đồng chí Lê Đức Thọ nói sôi nổi: “Phải đặt vấn đề dứt khoát là giải phóng Buôn Ma Thuột. Ta có gần 5 sư đoàn ở Tây Nguyên mà không đánh được Buôn Ma Thuột là thế nào?”.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân uỷ Trung ương, kết luận xác định khu vực và mục tiêu tiến công, nhiệm vụ chiến dịch, hướng phát triển, sử dụng lực lượng, gợi ý về cách đánh, nhấn mạnh đến phương châm mạnh bạo, bí mật, bất ngờ, phải nghi binh rất nhiều để làm cho địch tập trung sự chú ý vào việc bảo vệ phía bắc Tây Nguyên.

Chiến dịch Tây Nguyên được mang mật danh “Chiến dịch 275”.
Lúc này tại Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí Thiếu tướng Vũ Lăng, Tư lệnh Mặt trận, cùng một số cán bộ bắt đầu lên đường đến vùng Buôn Ma Thuột nghiên cứu tình hình.

Theo đề nghị của đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Lê Đức Thọ, Bộ Chính trị cử tôi vào chiến trường Tây Nguyên, thay mặt Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh để chỉ huy trực tiếp tại chỗ.

Cuộc họp lịch sử kết thúc, các đồng chí trong Bộ Chính trị lần lượt ôm hôn, bắt tay tôi và chúc lên đường mạnh khỏe giành thắng lợi lớn. Đối vôi một quân nhân cách mạng, được ra trận chiến đấu là một niềm vui lớn. Được đi thực hiện một nghị quyết quan trọng của Đảng mà mình đã hiểu rõ là một hạnh phúc và là một sự yên tâm lớn đối với tôi, giống như những lần đi Chiến dịch Đường số 9 mùa Xuân năm 1971 và Chiến dịch Xuân – Hè Quảng Trị năm 1972. Sau cuộc họp Bộ Chính trị với đại diện các chiến trường, tôi nói với đồng chí Trần Văn Trà: “Kỳ này vào đánh Tây Nguyên cho đến trước mùa mưa, đánh xong tôi sẽ vào Nam Bộ cùng với các đồng chí nghiên cứu chiến trường và chuẩn bị để đánh lớn trong mùa khô 1975-1976”.

Toàn quân náo nức chuẩn bị ra trận. Ngày 26-1-1975, tôi cùng đồng chí Thiếu tướng Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng, đến thăm Quân đoàn 1 đóng ở Ninh Bình để giao nhiệm vụ cụ thể năm 1975. Quân đoàn được thành lập đầu tiên gồm những đơn vị có nhiều truyền thống oanh liệt và chiến công vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ngày nay đã trở thành một lực lượng có sức chiến đấu cao, sức cơ động lớn, sức đột kích mạnh. Tôi nói chuyện động viên bộ đội: “Hoạt động của Quân đoàn phải theo sát, phải ăn khớp với hoạt động của chiến trường. Nhịp đập của Quân đoàn phải hoà với nhịp đập của miền Nam. Quả đấm mà Quân đoàn tung ra mạnh, ăn khớp, kịp thời với những quả đấm mạnh khác và nhằm đúng chỗ để làm cho địch phải “đo ván”. Mong rằng tiếng trống xung trận của Quân đoàn phải rộn lên và tiếng kèn chiến thắng của Quân đoàn phải vang lên đĩnh đạc hoà đúng nhịp với bản hoà tấu của toàn quân và toàn dân. Vậy xin hỏi: “Các nhạc công có mặt ở đây có làm được không? Nếu các nhạc công đồng ý thì nhạc trưởng là Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh sẵn sàng nâng chiếc gậy của mình lên đúng lúc, đúng thời cơ”.

Toàn thể hàng quân hô vang: “Làm được, làm được! Quyết thắng, quyết thắng!”.

Lúc này tại Tây Nguyên ta đã có các sư đoàn 320, 10 và 968 là những sư đoàn có rất nhiều kinh nghiệm chiến đấu ở chiến trường rừng núi và Tây Nguyên. Cuối tháng 12 năm 1974, Bộ Tổng tư lệnh quyết định điều thêm Sư đoàn 316 vào Tây Nguyên. Đây là sư đoàn có truyền thống vẻ vang, chiến đấu từ 20 năm nay, từng đi nhiều và đi xa, đánh thắng trong kháng chiến chơng Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ và tay sai, sư đoàn đi làm nhiệm vụ quốc tế trong một thời gian dài. Trước ngày sư đoàn lên đường vào Tây Nguyên, tôi và đồng chí Thiếu tướng Đàm Quang Trung, Tư lệnh Quân khu 4 đến thăm và nói chuyện với sư đoàn lúc đó đang trú quân ở tây Nghệ An.

Tôi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ sư đoàn sau khi phổ biến tình hình và quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương: “Có hai câu thơ luôn luôn nung nấu trong lòng mà trước đây tôi không nhớ tên tác giả, đã nói lên mối hận chung và chua xótmà mọi người Việt Nam cần phải thanh toán: “Đất nước 30 năm cầm súng mà vầng trăng còn xẻ làm đôi”. Chiến trường, thời cơ, nhiệm vụ, lúc này chính là lúc chúng ta lên đường để cùng toàn dân đưa vầng trăng trở lại ngày rằm trọn vẹn. Kẻ địch mà chúng ta đã gặp có nhiều cái khác hơn kẻ địch các đồng chí đã gặp trước đây: ngoan cố, tinh ma, có nhiều kinh nghiệm hơn, vũ khí, trang bị nhiều hơn, thủ đoạn tác chiến xảo quyệt hơn. Nhưng vẫn là kẻ địch phi nghĩa có truyền thống bại trận, đang gặp khó khăn về mọi mặt, đang nghèo dần cả về tinh thần và vật chất, đang suy yếu cả về thế và lực. Không có lý gì mà Sư đoàn 316 không đánh thắng được bọn nguỵ đang trong cái thế suy yếu chung của chúng và giữa cái thế đang lên của cách mạng miền Nam”.

Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn giơ cao tay hô căng lồng ngực: “Quyết thắng, quyết thắng” và hứa: “Đi xa, đi cho đến, đánh cho thắng”.

Theo quyết định của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, bộ phận đại diện của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tại Mặt trận Tây Nguyên được thành lập gồm có: tôi và các đồng chí Trung tướng Đinh Đức Thiện, chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng Tham mưu trưởng, cùng một số cán bộ có nhiều kinh nghiệm của cơ quan Bộ Tổng Tham mưu và các quân chủng, binh chủng.

Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí Đinh Đức Thiện đã có nhiều kinh nghiệm về tổ chức vận tải bảo đảm cho tiền tuyến, đặc biệt là trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí đã chỉ đạo ngành hậu cần vượt mọi khó khăn, ác liệt, bảo đảm vận chuyển, đáp ứng mọi nhu cầu cho bộ đội đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch ở miền Bắc và chi viện cho các chiến trường miền Nam, đặc biệt là bảo đảm thắng lợi cho Chiến dịch Đường 9 mùa Xuân năm 1971 và Chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972. Đồng chí là một cán bộ tích cực cách mạng, không bao giờ bàn lùi, vui tính, xông xáo, dám làm và biết làm ăn lớn, nhưng do tuổi đã ngoài “lục tuần” dễ xúc động, cho nên việc gì không hài lòng thường hay nổi nóng. Chúng tôi biết nhau và hiểu nhau từ ngày ở trong tù của thực dân Pháp, trước Cách mạng Tháng Tám. Tôi vỗ vai đồng chí Đinh Đức Thiện: “Thời cơ tới rồi, Bộ Chính trị đã phân công, làm trận này thắng lợi thì cái thân già này sau có nhắm mắt cũng yên tâm”.

Đồng chí Lê Ngọc Hiền đã cùng chiến đấu với chúng tôi từ hồi mới Tổng khởi nghĩa ở Chiến khu 2 năm 1945 và ở Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng bằng) đến cuối năm 1953. Đồng chí đã đi nhiều chiến trường đánh Mỹ rồi lại về Bộ Tổng Tham mưu.

Sau khi đã được hướng dẫn và nhận nhiệm vụ, đồng chí Lê Ngọc Hiền lên đường vào Tây Nguyên trước để nghiên cứu chiến trường và chuẩn bị kế hoạch tác chiến.

Các đồng chí cán bộ cơ quan Bộ Tổng Tham mưu và các quân chủng, binh chủng là những đồng chí đã cùng đi với tôi trong các chiến dịch năm 1971, năm 1972, là những cán bộ có kinh nghiệm công tác tham mưu binh chủng hợp thành, năng nổ, tháo vát. Được đi chiến dịch lần này, đồng chí nào cũng hớn hở, phấn chấn.

Đánh giặc, các cán bộ chỉ huy của ta đều theo những nguyên tắc chung. Nhưng mỗi người thường có một cách đánh riêng của mình. Tôi được Đảng cho đi học một lớp quân sự 15 ngày trước Cách mạng Tháng Tám và chỉ sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tôi mới được đi học tại một học viện quân sự nước ngoài. Nhưng do được Đảng rèn luyện và được trưởng thành trong đấu tranh từ một đảng viên trong chi bộ độc lập thời bí mật, và đã từng chủ động hoạt động cách mạng suốt thời gian đứt liên lạc với Đảng, cho nên quá trình ấy tạo cho tôi tính độc lập và tính táo bạo.

Đầu năm 1952, làm Tư lệnh Đại đoàn 320, tôi cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh tổ chức và thực hiện trận tập kích vào Phát Diệm, đưa bộ đội luồn qua các vị trí địch ở vòng ngoài trên một chặng đường dài 20km, bất ngờ đánh thẳng vào thị trấn, tiêu diệt đầu não chỉ huy địch, chiếm giữ thị trấn một ngày rồi mới đưa bộ đội trở ra tiêu diệt các vị trí địch ở vòng ngoài. Anh em gọi đấy là lối đánh “Nhảy dù” hoặc “Hoa sen nở”.

Chúng tôi suy nghĩ nhiều về chiến trường sắp đến: Tây Nguyên, vùng đất nên thơ và kiên cường, bất khuất của tổ quốc trung thành đi theo Đảng, Bác Hồ và cách mạng từ những ngày chống Pháp, chống Mỹ đầu tiên, cống hiến tất cả cho sự thắng lợi của cách mạng. Tây Nguyên, quê hương của những trường ca bất hủ và của những anh hùng N Trang Lơng, Núp, liệt sỹ Vưu. Phải giải phóng Tây Nguyên và trước mắt là Buôn Ma Thuột, thị xã lớn nhất Tây Nguyên. Nhưng đánh Buôn Ma Thuột như thế nào để thắng nhanh nhất, gọn nhất, bất ngờ nhất. Chiến thắng Phước Long cho thấy năm 1975 ta có nhiều khả năng giải phóng thị xã và thành phố. Chắc chắn là các thị xã ở Tây Nguyên khó đánh hơn so với thị xã Phước Long.

Tây Nguyên hồi đó gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Phú Bổn, Đắk Lắk và Quảng Đức, là một chiến trường rừng núi nối liền với vùng ven hiểm trở. Khi ta chuẩn bị đánh Tây Nguyên thì địch ở đây có một sư đoàn chủ lực, 7 liên đoàn biệt động quân (tương đương 10 trung đoàn) và 4 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp. Chúng đã bố trí trong thế phòng ngự hoàn chỉnh. Nhưng do phán đoán sai ý định của ta, cho rằng nếu đánh Tây Nguyên ta sẽ đánh phía bắc, nên chúng tập trung lực lượng giữ lấy Pleiku, Kon Tum; ở nam Tây Nguyên, cụ thể là ở Đắk Lắk, chúng để lực lượng ít hơn. Thị xã Buôn Ma Thuột, tỉnh lỵ Đắk Lắk, với 150.000 dân là một trung tâm chính trị và kinh tế của địch, là nơi đóng sở chỉ huy của Sư đoàn 23. Ở đây địch cũng có sai lầm trong việc đánh giá ta. Chúng cho rằng, năm 1975 ta chưa đủ sức đánh thị xã lớn và thành phố, dù có đánh cũng không giữ được khi chúng phản kích lại. Vì vậy, tuy Buôn Ma Thuột là một vị trí xung yếu, nhưng trước khi ta đánh, địch bố trí lực lượng không mạnh lắm, có nhiều sơ hở, càng vào bên trong thị xã, lực lượng càng mỏng.

Giải phóng được Buôn Ma Thuột thì đập vỡ được hệ thống phòng ngự của địch ở Tây Nguyên, tạo ra một thế trận hiểm và cơ động có thể làm thay đổi nhanh cục diện chiến trường.

Khi quyết định về đánh Buôn Ma Thuột đã dứt khoát, tôi vội điện vào Tây Nguyên dặn đồng chí Lê Ngọc Hiền không cần ra Hà Nội để báo cáo nữa mà ở lại nghiên cứu thêm tình hình thị xã Buôn Ma Thuột rồi trở ra, đến Sở chỉ huy của đồng chí Đồng Sĩ Nguyên, Bộ Tư lệnh 559, tức là bộ đội Trường Sơn, gặp tôi trên đường vào Tây Nguyên.

Tôi đến chào đồng chí Trường Chinh trước khi lên đường. Đồng chí hỏi thăm tình hình bộ đội, công việc chuẩn bị và chúc ra đi mang thắng lợi về.

Những lời dặn dò công việc chỉ đạo chiến dịch của đồng chí lúc chia tay nhắc tôi quán triệt đầy đủ nội dung những ý kiến sâu sắc mà đồng chí đã phát biểu trong cuộc họp của Bộ Chính trị. Tôi nhớ lại lời khẳng định và dự kiến sáng suốt của đồng chí về chiều hướng phát triển tất yếu của cuộc chiến tranh cách mạng. Đồng chí Trường Chinh nói: “Phải có những đòn tiêu diệt chiến lược lớn như Điện Biên Phủ, và cũng chỉ cần vài ba đòn như vậy, kẻ địch sẽ sụp đổ ngay. Phải nắm chắc quyền chủ động, đánh vào những chỗ buộc địch phải đỡ, khi đỡ thì chúng sẽ rơi vào cạm bẫy của ta”.

Đồng chí Lê Đức Thọ gặp tôi, bắt tay và nói: “Trận đánh lớn này mà ta thắng thì nhất định sẽ tạo ra một thế mới rất lợi cho ta. Cậu chú ý giữ sức khỏe”.

Một ngày cuối tháng 1-1975, tôi đến chào đồng chí Lê Duẩn. Đồng chí nhắc lại tầm quan trọng của trận đánh Buôn Ma Thuột và của cả Tây Nguyên là để tạo ra thời cơ mới, rồi hỏi tôi:

– Lực lượng đã đủ chưa?

Tôi đáp:

– Quân của ta như vậy là được, biết dùng thì tạo ra được ưu thế.
Đồng chí hỏi lại:

– Có cần đưa thêm lực lượng vào nữa không?

Những lần tôi đi chiến dịch mấy năm trước cũng thế, đồng chí Lê Duẩn thường chú ý hỏi việc chuẩn bị lực lượng còn thiếu những gì, cần Trung ương giúp những gì.

Đồng chí Lê Duẩn dặn thêm:

– Nên suy nghĩ nhiều và có cách đánh đúng. Chiến trường Tây Nguyên có thể làm ăn to được, đánh thắng có thể dẫn đến khả năng ta dự kiến là trong năm nay giải phóng miền Nam.

Tôi lần lượt đi thăm và bắt tay tạm biệt các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Song Hào, Hoàng Văn Thái, Lê Quang Đạo trong Quân uỷ Trung ương. Ý đã đồng, tâm đã nhất, chúng tôi không nói nhiều với nhau lúc chia tay, nhưng người đi chiến trường và người ở nhà đều tâm đắc một điều là lần này nhất định phải tạo nên một biến chuyển khác hẳn những chiến dịch trước.

Hết: Chương 3, xem tiếp: Chương 4

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 4

Đường ra trận

Chúng tôi vào Mặt trận Tây Nguyên, mang bí danh: “Đoàn A.75”.

Theo quy định, khi giao dịch, thông tin liên lạc và thảo luận với nhau trong chiến dịch này, đồng chí Võ Nguyên Giáp mang bí danh Chiến, còn tôi mang bí danh Tuấn.

Năm nào cũng vậy, cứ vào những ngày giáp Tết, tôi lại chuẩn bị một ít quà nhỏ và thư chúc mừng năm mới gửi đến các gia đình cơ sở cách mạng đã giúp đỡ tôi trong những năm hoạt động bí mật trước đây. Lần này tôi cũng chuẩn bị sẵn quà và thư chúc Tết như thế để khi tôi lên đường rồi, người nhà gửi đi như thường lệ.

Tôi ký sẵn các bức điện mừng nhân ngày kỷ niệm thành lập Quân đội Liên Xô và Cộng hoà dân chủ Đức tháng 2, và Quân đội Mông Cổ tháng 3 năm 1975 để đúng ngày gửi đi.

Sáng ngày 5-2-1975, tức là ngày 25 Tết âm lịch, chúng tôi sang sân bay Gia Lâm để đáp máy bay vào Đồng Hới. Ra tiễn chúng tôi chỉ có các đồng chí Thiếu tướng Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng và Thiếu tướng Lê Văn Tri, Tư lệnh bộ đội Phòng không – Không quân.

Đúng 10 giờ rưỡi sáng, chiếc máy bay AN 24 cất cánh.

Hà Nội rợp hoa chuẩn bị đón xuân. Hà Nội, trái tim của cả nước, nơi phát ra quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Hà Nội anh hùng và mến yêu hôm nay đẹp vô cùng. Trên máy bay chúng tôi nhớ đến lời dặn của các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, nghĩ đến trách nhiệm lớn lao của Đảng giao phó và đến cách đánh sắp tới của ta ở Tây Nguyên như đồng chí Lê Duẩn đã dặn: “Nên suy nghĩ nhiều và có cách đánh đúng”.

Đi vào chiến dịch này, ở đâu cũng thế, từ cán bộ lãnh đạo đến từng chiến sĩ, ai cũng lạc quan và sôi nổi khí thế lập công. Chúng tôi nóng ruột muốn tới chiến trường ngay trong ngày để hoàn chỉnh cách đánh đang ấp ủ và chăm chú theo dõi từng hành động của địch.

Theo tin tình báo của ta, trong hai ngày 9 và 10-12-1974, trong “Dinh Độc lập”, Thiệu họp với bọn tư lệnh các quân đoàn, quân khu nguỵ để phán đoán hoạt động của ta trong năm 1975. Bọn chúng nhận định:

– Trong năm 1975, ta có thể đánh với quy mô lớn hơn năm 1974 nhưng không như năm 1968 và không bằng năm 1972. Ta chưa có khả năng đánh thị xã lớn hoặc thành phố, dù có đánh cũng không giữ được. Ta chỉ có thể đánh loại thị xã nhỏ và cô lập như Phước Long, Gia Nghĩa.

Yêu cầu chủ yếu của ta năm 1975 là giành 2 triệu dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và mở rộng vùng giải phóng ở miền núi. Mục đích của ta là giành thắng lợi để thúc ép chúng thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam.

Chúng cho rằng đầu năm 1975, phương hướng tiến công của ta là đánh Quân khu 3, chủ yếu là Tây Ninh, nhằm lấy Tây Ninh làm thủ đô của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Về thời gian tiến công, địch phán đoán ta sẽ đánh trước hoặc sau Tết cho đến tháng 6-1975, tới lúc đó là mùa mưa thì dừng lại nghỉ. Do nhận định về ta như thế, Thiệu ra lệnh cho bọn tướng nguỵ ráo riết đánh ta trước để phá vỡ kế hoạch chuẩn bị của ta. Trần Thiện Khiêm, thủ tướng nguỵ, họp với các trưởng quân khu, trưởng tiểu khu để mở chiến dịch “bình định cấp tốc lập tức”, trong 3 tháng, kể từ ngày 1-1-1975, để “ngăn chặn Chiến dịch Đông Xuân của Việt cộng”. Do nhận định như vậy, chúng không thay đổi thế bố trí chiến lược mạnh hai đầu (Quân khu 1 và Quân khu 3) và chúng cũng chưa có sự tăng cường lực lượng gì lớn ở Quân khu 2, trong đó có Tây Nguyên.

Đầu năm 1975, chúng có 1.351.000 quân, trong đó có 495.000 quân chủ lực, 475.000 quân địa phương, 381.000 quân “phòng vệ dân sự” có vũ trang, gồm 13 sư đoàn chủ lực, 18 liên đoàn biệt động quân.
Chúng bố trí lực lượng như sau:

Ở Quân khu 1, chúng để 5 sư đoàn chủ lực (trong đó có 2 sư đoàn tổng dự bị) và 4 liên đoàn biệt động quân, 21 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 418 khẩu, 5 thiết đoàn và 6 chi đội xe tăng, thiết giáp gồm 449 xe, 1 sư đoàn không quân trong đó có 96 máy bay chiến đấu. Phần lớn lực lượng quân chủ lực địch giữ Huế và Đà Nẵng.

Ở Quân khu 2, chúng để 2 sư đoàn chủ lực và 7 liên đoàn biệt động quân, 14 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 382 khẩu, 5 thiết đoàn và 13 chi đội xe tăng, thiết giáp gồm 477 xe, 2 sư đoàn không quân, trong đó có 138 máy bay chiến đấu. Phần lớn quân chủ lực địch rải ra giữ Tây Nguyên, đồng bằng và ven biển.

Ở Quân khu 3, chúng để 3 sư đoàn chủ lực và 7 liên đoàn biệt động quân, 14 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 376 khẩu, 7 thiết đoàn và 15 chi đội xe tăng, thiết giáp gồm 655 xe, 2 sư đoàn không quân, trong đó có hơn 250 máy bay chiến đấu. Toàn bộ quân chủ lực địch triển khai theo hình vòng cung từ tây bắc, bắc và đông bắc bảo vệ thành phố Sài Gòn từ xa trên dưới 50km.

Ở Quân khu 4, chúng để 3 sư đoàn chủ lực, 18 liên đoàn bảo an, 15 tiểu đoàn và 55 đại đội pháo gồm 380 khẩu, 5 thiết đoàn và 17 chi đữi thiết giáp gồm 493 xe, 1 sư đoàn không quân, trong đó có 72 máy bay chiến đấu, 580 tàu, xuồng các loại. Quân chủ lực địch giữ khu vực Cẩn Thơ, Chương Thiện, đường số 4 và tuyến biên giới.

Thế địch đã suy yếu, chúng lại phạm sai lầm lớn về chiến lược trong việc đánh giá ta, dẫn tới những kế hoạch bố trí lực lượng sai và chủ trương tác chiến sai, báo hiệu một thất bại lớn đang đến với chúng.

Máy bay đỗ xuống Đồng Hới, đồng chí Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên cùng một đoàn xe của Bộ Tư lệnh 559 từ Quảng Trị ra, đã chờ đón chúng tôi ở sân bay.

Chúng tôi lên xe vào Quảng Trị. Đường qua Lệ Thuỷ, Hồ Xá gồ ghề do nhiều năm địch đánh phá dữ dội cho nên xe chạy xóc nhiều, nhưng đây cũng là một trong những đoạn đường kiên cường, anh hùng trên đất nước ta góp phần vào việc chi viện cho miền Nam đánh thắng.

Tới sông Bến Hải, chúng tôi xuống thuyền gắn máy chạy ngược sông. Trời nắng nhưng mát một cách lạ lùng.

Xế chiều, chúng tôi đổ bộ lên một bến phía nam sông để đi vào Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh 559, ở phía tây Gio Linh.

Bộ đội 559, như tên gọi của nó, ra đời tháng 5-1959, thuộc Tổng cục Hậu cần. Bộ đội 559 cũng như ngành Hậu cần của quân đội ta là lịch sử của một quá trình xây dựng, chiến đấu và phát triển, là sự thể hiện tư tưởng cách mạng tiến công, quan điểm bạo lực cách mạng, sự nhìn xa thấy trước để phục vụ chiến đấu. Tất cả những gì mà bộ đội 559 đã làm đều là những kỳ công.

Đồng chí Trần Đăng Ninh, uỷ viên Trung ương Đảng, một chiến sĩ cách mạng kiên cường đã hai lần vượt khỏi nhà tù của thực dân Pháp, là người có công lớn xây dựng ngành Hậu cần của quân đội ta từ những năm 1950 trở đi trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nếu đồng chí còn sống thì sẽ rất mừng được thấy lực lượng hậu cần hùng mạnh của quân đội ta hôm nay mà ngày trước đồng chí từng mong ước.

Lúc này hơn 10.000 xe tải lên mặt đường, bao gồm một số xe của các quân khu, các địa phương và của Bộ Giao thông vận tải điều tới tăng cường. Như một người nội trợ đảm đang, ngành Hậu cần vừa phục vụ kế hoạch hàng năm của quân đội, vừa tần tảo, chắt chiu dự trữ lực lượng từng ngày, từng tháng trên toàn chiến trường miền Nam để chờ thời cơ lớn đến, vừa làm nhiệm vụ đối với bộ đội trong nước, vừa làm nghĩa vụ quốc tế đối với các nước anh em. Và một điều hết sức phấn khởi là thấy các chiến sĩ ta đi vào chiến dịch bằng cơ giới, ngoài mặt trận ăn uống no đủ, ngay đến lương khô của ta như loại A72 cũng khá là ngon.

Cũng từ chiến dịch này, các chiến sĩ ngoài mặt trận đã nhận được một số súng lớn và đạn lớn do công nhân quốc phòng của ta sản xuất trong nước bắt đầu từ năm 1973.

Đây cũng là bước đầu của cuộc cách mạng kỹ thuật trong ngành công nghiệp quốc phòng.

Càng đi ra mặt trận, càng thấy sức mạnh to lớn của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Hậu phương là một trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Nhân dân anh hùng của hậu phương anh hùng, chịu đựng hy sinh và gian khổ làm tất cả mọi việc, gửi ra mọi thứ cần thiết để phục vụ tiền tuyến, kể cả những người chồng, những người con yêu quý nhất của mình.

Khi đến Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh 559, chúng tôi đã thấy đồng chí Lê Ngọc Hiền vừa từ Tây Nguyên đi xe hơi ra theo như đã hẹn.

Trong căn nhà mái tranh, đêm xuống từ lâu, nhưng chúng tôi chưa ngủ được vì những suy nghĩ về chiến dịch sắp đến. Làm thế nào để thực hiện bằng được quyết tâm của Bộ Chính trị về giải phồng miền Nam. Giành thắng lợi ở Tây Nguyên, đặc biệt đánh Buôn Ma Thuột bằng cách nào? đánh như thế nào để địch phải sụp đổ nhanh chóng?

Tôi nhớ đến kiểu đánh truyền thống của dân tộc ta, kiểu đánh độc đáo của quân đội ta hơn 30 năm qua. Kiểu đánh quen thuộc của tôi cũng lại trở lại trong óc. Bất ngờ và bất ngờ đối với địch, đánh như sét giáng, đập nát ngay đầu não chỉ huy của chúng. Nhưng thực tế có cho phép không?

Sáng hôm sau, chúng tôi dậy sớm làm việc. Đồng chí Lê Ngọc Hiền báo cáo tình hình Mặt trận Tây Nguyên và dự kiến kế hoạch tác chiến. Các đồng chí Đinh Đức Thiện và Đồng Sĩ Nguyên báo cáo tình hình chuẩn bị của Hậu cẩn, cho biết đã đưa vào mặt trận đầy đủ mọi thứ phục vụ chiến đấu, đề nghị đã đánh là đánh lớn, cần bao nhiêu gạo, đạn, xăng và xe để chở quân, cũng có đủ. Điều đó làm chúng tôi rất yên tâm. Đối với Hậu cần, đánh to, đánh thắng lớn, thắng nhanh thì càng giảm bớt mức tiếp tế mà lại còn lấy được những phương tiện vật chất, kỹ thuật của địch để bổ sung cho ta.

Ngay hôm sau, đồng chí Đinh Đức Thiện quay lại Quảng Bình đôn đốc việc dồn kho đạn ở đây ra mặt trận bổ sung cho Tây Nguyên, chỉ đạo việc lấy loại đạn nào trước, loại đạn nào sau, còn chúng tôi tiếp tục đi vào phía trong. Biển số xe chúng tôi được sơn lại, thêm chữ TS và con số 50, có nghĩa là xe được quyền ưu tiên số 1 của bộ đội Trường Sơn. Đồng chí Đại tá Phan Khắc Hy, Phó Tư lệnh 559, được phân công đi cùng với đoàn, phòng những trắc trở dọc đường để bảo đảm cho chúng tôi sớm vào tới Sở chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên.

Trên đường chiến lược, các chiến sĩ ta tấp nập làm đường, chữa đường. Các cô thanh niên xung phong vừa lao động vừa hát, vừa cười nói ríu rít, vẫy theo xe:

– Thủ trưởng ơi, gần Tết rồi mà chúng em chưa nhận được thư nhà.

Chúng tôi tặng các cô mấy trăm chiếc cặp tóc để chia nhau làm quà.

Từng đoàn xe lớn sau khi chở đạn vào mặt trận quay ra Bắc, chạy rầm rập trên đường. Anh em lái xe với tay ra ngoài buồng lái:

– Thủ trưởng ơi, 30 Tết rồi mà anh em không còn một điếu thuốc hút.

Chúng tôi tặng anh em lái xe một số thuốc lá để làm quà Tết.
Giữa đường, chúng tôi gặp Sư đoàn 316 đang hành quân. Lần đầu tiên toàn Sư đoàn hành quân bằng cơ giới ra mặt trận trên 500 chiếc xe lớn. Sư đoàn được lệnh từ khi lên đường đến lúc nổ súng, tuyệt đối không được mở máy thông tin liên lạc để giữ bí mật. Ta bắt được điện của địch đang gọi nhau kêu mất hút Sư đoàn 316, không biết Sư đoàn này đang di chuyển đi đâu. Chiến sĩ ta ngồi trên xe sung sức, khỏe mạnh, tươi vui, vẫy mũ, vẫy tay, reo hát trong tiếng gầm của xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo tầm xa, kéo pháo cao xạ, xe tải các loại nối đuôi nhau thành dãy dài vô tận như một dòng thác lớn chảy ra tiền tuyến.

Hết: Chương 4, xem tiếp: Chương 5

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 5

Cài thế

Tối 30 Tết, chúng tôi nghỉ lại ở Sở chỉ huy Sư đoàn Công binh 470 đóng tại I-a Đrăng. Vài ngày trước, máy bay A.37 của địch ném bom gần chỗ này làm cháy hai xe của ta. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn bộ vẫn đón Tết đàng hoàng. Khắp nơi trong cơ quan dùng đèn điện có chụp phòng không. Sáng Mồng một Tết, chúng tôi vui Tết và chúc nhau Năm mới lập chiến công mới. Vào tới Tây Nguyên, chúng tôi lập Sở chỉ huy ở phía tây Buôn Ma Thuột, gần Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Mặt trận. Chỗ chúng tôi ở là rừng xanh, cạnh một rừng khoọc, lá khô rụng, phủ mặt đất như một thảm vàng. Mỗi lần có người đi giẫm lên, lá dưới chân như tấm bánh đa giòn vỡ làm cả một khoảng rừng xào xạc. Ở đây chỉ một tàn lửa nhỏ có thể gây cháy rừng. Vất vả nhất là các chiến sĩ thông tin.

Mỗi lần cháy, dây thông tin đứt, anh em đi chữa về người đen nhẻm như vừa ở hầm than ra. Lại còn nạn voi đi từng đàn 40-50 con kéo đứt các mạng dây thông tin mắc đã khá cao vắt qua các cây.

Trong cuộc họp với các đồng chí phụ trách Mặt trận, thay mặt Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, theo quyết định, tôi tuyên bố việc thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên gồm các đồng chí:

Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh.

Đại tá Nguyễn Hiệp (Đặng Vũ Hiệp), Chính uỷ.

Thiếu tướng Vũ Lăng và các đại tá Phan Hàm, Nguyễn Lang, Nguyễn Năng, Phó tư lệnh.

Đại tá Phí Triệu Hàm, Phó Chính uỷ.

Chúng tôi điểm lại tình hình mặt trận. Cho đến lúc này, quân chủ lực địch ở Tây Nguyên vẫn gồm có 1 sư đoàn và 7 liên đoàn biệt động quân (tương đương 10 trung đoàn), 4 thiết đoàn, 8 tiểu đoàn pháo và 1 sư đoàn không quân, tập trung giữ bắc Tây Nguyên là chính. Ở bắc Tây Nguyên, chúng để 8 trung đoàn bộ binh, 4 thiết đoàn, còn ở nam Tây Nguyên chúng chỉ để có 2 trung đoàn bộ binh.

Chúng bố trí như thế vì tên Thiếu tướng nguỵ Phạm Văn Phú, chỉ huy Quân khu 2 và Quân đoàn 2, nhận định như sau: nhất định Pleiku sẽ bị đánh vì nó là địa đầu quan trọng nhất của Tây Nguyên, ở đó có Sở chỉ huy Quân đoàn, là bàn đạp thuận tiện để đánh xuống Bình Định, hơn nữa lại gần đường hành lang tiếp tế, gần các căn cứ phía sau của Quân giải phóng. Tên Phú thường bị ám ảnh bởi câu: “Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ cả miền Nam” và hắn cho rằng đòn quyết định của Quân giải phóng ở Tây Nguyên phải là Pleiku – Kon Tum. Mất Pleiku – Kon Tum thì Buôn Ma Thuột cũng mất.

Tuy địch ở Tây Nguyên phải căng ra phòng giữ nhiều mục tiêu, lực lượng cơ động của chúng trong quân khu có hạn, nhưng chúng vẫn có thể huy động một lực lượng nhất định để đối phó với ta bằng cách điều thêm ở Quân khu 1 và Quân khu 3 đến, nếu ở những chiến trường đó ta không thực hiện được đánh phối hợp chặt chẽ với Tây Nguyên hoặc những điều kiện tăng viện của địch để giữ Tây Nguyên vẫn còn. Chúng rất tin vào khả năng cơ động bằng đường không.

Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm các đơn vị chủ lực của Tây Nguyên, của Bộ Tổng tư lệnh, và của Quân khu 5, được chuẩn bị tương đối tốt, có quyết tâm cao và khí thế sôi nổi, được bổ sung quân số tương đối đầy đủ: Nhiều đơn vị quen thuộc chiến trường và có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Hệ thống đường sá phục vụ việc cơ động trong chiến dịch đã làm xong, bộ đội được tiếp tế về vật chất tương đối tốt, sở chỉ huy các cấp đã lập xong và ổn định. So sánh với địch trên toàn bộ khu vực chiến dịch thì về bộ binh ta không hơn địch nhiều, nhưng, do ta tập trung phần lớn lực lượng trên khu vực chủ yếu của chiến dịch, cho nên trên khu vực này ta đã có được ưu thế so với địch. Về bộ binh, ta 5,5, địch chỉ có l; về xe tăng, xe bọc thép, ta 1,2, địch có 1; về pháo lớn, ta 2,1, địch 1. Tuy nhiên, bộ đội ta vẫn còn một số nhược điểm như trình độ tác chiến tập trung chưa đều, còn ít kinh nghiệm đánh thành phố và tác chiến hợp đồng binh chủng quy mô lớn cũng còn mới đối với một vài binh đoàn.

Khi chúng tôi bàn ở Bộ Tư lệnh Mặt trận, mọi người nhanh chóng thống nhất ý kiến về nhiệm vụ và mục tiêu chủ yéu của chiến dịch, nhưng về cách đánh thì mất nhiều thời giờ thảo luận hơn, cuối cùng nhất trí và có những sự phát triển mới. Trong cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968, ta chủ yếu sử dụng lực lượng tinh nhuệ đánh vào tất cả các thành phố và thị xã trong điều kiện so sánh lực lượng quân sự chúng ta còn kém hơn địch, do đó ta không giữ trọn được thành phố, thị xã nào. Năm 1972, ta tiến công trong một tháng tiêụ diệt Sư đoàn 3 nguỵ, giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị đúng vào ngày 1 tháng 5.

Sau đó, vào mùa mưa, các chiến trường của ta trên toàn miền Nam giảm hoạt động, địch tập trung các sư đoàn dù, thuỷ quân lục chiến và một số đơn vị khác phản kích với sự chi viện của không quân và hải quân Mỹ để chiếm lại Quảng Trị.

Sau những đợt đánh bại liên tiếp các cuộc phản kích của địch và qua 86 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ và thị xã, cuối cùng ta chỉ giữ được phía bắc sông Thạch Hãn. Địch chiếm lại quận Hải Lăng, một phần quận Triệu Phong, Thành cổ và thị xã đổ nát: Lần này ta có rút kinh nghiệm những chiến dịch trước, nhưng chủ yếu là xuất phát từ nhiệm vụ, yêu cầu chiến lược, đặc điểm tình hình ta và điều kiện chiến trường cụ thể. Do đó, cách đánh trong Chiến dịch Tây Nguyên là:
Một mặt, phải sử dụng lực lượng tương đối lớn, cỡ trung đoàn và sư đoàn để cắt các đường giao thông số 19, số 14, số 21, tạo ra thế chia cắt địch, về chiến lược tách rời Tây Nguyên với đồng bằng ven biển và về chiến dịch cô lập Buôn Ma Thuột với Pleiku và Pleiku với Kon Tum. Đồng thời tích cực hoạt động nghi binh giam chân địch, thu hút sự chú ý và lực lượng của chúng về phía bắc Tây Nguyên, tạo điều kiện cho ta có thể giữ bí mật bất ngờ ở phía nam cho đến khi nổ súng đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột.

Mặt khác và là mặt chủ yếu, thực hiện trận then chốt mở đầu chiến dịch đánh chiếm Buôn Ma Thuột, bằng cách tổ chức lực lượng đột kích binh chủng hợp thành tương đối mạnh cỡ trung đoàn, không để sẵn ở vị trí xuất phát tiến công mà tập kết từ xa vận động đến, bỏ qua các mục tiêu của địch bảo vệ vòng ngoài, bất ngờ thọc sâu vào bên trong thị xã, phối hợp với các đơn vị đặc công và bộ binh đã bí mật bố trí sẵn từ trước, nhanh chóng tiêu diệt ngay các mục tiêu chỉ huy đầu não và vị trí xung yếu, đánh chiếm vững chắc các bàn đạp bên trong xong, mới từ trong thị xã đánh ra ngoài tiêu diệt những cứ điểm cô lập đã mất chỉ huy, đang hoảng hốt. Trong quá trình đó, nhanh chóng hình thành ngay một lực lượng dự bị binh chủng hợp thành rất mạnh sẵn sàng đánh bại các cuộc phản kích của địch hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Riêng kế hoạch đánh thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột, ngay từ đầu chiến dịch không thực hiện được vì khi chúng tôi vào đến mặt trận, các đồng chí tại chỗ đã bố trí lực lượng mạnh từ trước ở quanh Đức Lập tới Đắc Soong rồi, nhằm tiêu diệt địch và giải phóng đoạn đường số 14, mở thông hành lang chỉến lược vào Nam Bộ. Điều động quân trở lại vừa mất thời giờ vừa gây thêm nhiều khó khăn, nhất là về giữ bí mật. Cho nên phải quyết định cứ đánh Đức Lập trước rồi đánh tiếp Buôn Ma Thuột ngay ngày hôm sau, khi đã cô lập Buôn Ma Thuột và triển khai lực lượng cài thế bao vây chặt quanh thị xã này.

Chúng tôi tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn tình hình thị xã Buôn Ma Thuột. Một cán bộ dẫn đoàn trinh sát đột nhập thị xã Buôn Ma Thuột về báo cáo: “Thị xã này to lắm, to gần như thành phố Hải Phòng”. Chúng tôi biết Buôn Ma Thuột không to như Hải Phòng, nhưng là thị xã lớn, bao gồm cả ngoại vi rộng, có nhiều nhà cao, ban đêm đèn nê-ông sáng trưng cho nên anh em đi trinh sát lại càng thấy nó lớn. Một số cơ sở cách mạng trong thị xã được mời ra báo cáo tình hình. Đồng chí Bùi San (Đặng Trần Thi), uỷ viên thường vụ Khu uỷ Khu 5, và đồng chí Huỳnh Văn Mẫn (Cần), Bí thư tỉnh uỷ Đắk Lắk, cũng đến Sở chỉ huy chúng tôi cho, biết tình hình chính trị và phong trào của địa phương, tình hình các cơ sở của ta trong thị xã. Khi gặp đồng chí Võ Chí Công ở Hội nghị Quân uỷ Trung ương ngoài Hà Nội, chúng tôi đã đề nghị Khu 5 cho người đi chuẩn bị trước nắm tình hình để vào Tây Nguyên cùng gặp nhau làm việc cho nhanh. Ta lại vừa bắt được một thám báo của Trung đoàn nguỵ 45, qua khai thác cũng biết thêm được một số tình hình. Trong suốt thời gian chuẩn bị, ta bám sát, nắm vững tình hình đóng quân và chuyển quân của địch từng giờ một. Theo dõi điện đài của địch, chúng tôi bìết bọn chỉ huy của chúng ra lệnh cho trinh sát phải tìm bằng được Sư đoàn 10 của ta. Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh phải giữ kín hơn nữa lực lượng của ta; cán bộ, trinh sát viên có lệnh mới được đi và tiếp tục nghi binh để địch cho rằng Sư đoàn 10 vẫn còn đóng ở phía bắc Tây Nguyên.

Suốt mấy ngày liền, địch bắn đại bác quanh khu vực Buôn Ma Thuột yểm trợ cho các toán thám báo, biệt kích hoạt động sâu về phía ta. Máy bay địch ném bom xuống các chốt phòng thủ của ta ở bắc Kon Tum. Máy bay trinh sát địch hàng ngày bay trên Đức Cơ và đông bắc Kon Tum. Chúng lại điều thêm quân tới Pleiku.

Tối ngày 25-2-1975, trong một cánh rừng của Đắk Lắk, giữa tiếng đại bác địch bắn cầm canh, chúng tôi và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên họp thông qua phương án đánh chiếm Buôn Ma Thuột gồm phương án đánh địch có tăng cường thêm lực lượng phòng ngự và phương án đánh địch như hiện nay. Tôi thay mặt Bộ Tổng tư lệnh phê chuẩn và ký tên lên bản đồ quyết tâm ghi nhiệm vụ, lực lượng tham gia và các đường tiến quân của ta vào Buôn Ma Thuột, đồng chí Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh, và đồng chí Nguyễn Hiệp, Chính uỷ, ký bên cạnh.

Chúng tôi bắt tay nhau, chúc thắng lợi. Tôi phát biểu ý kiến sau khi ký:

– Đánh địch bằng cách và vào lúc mà địch không thể nào nghĩ tới, hết sức bất ngờ là nguy hiểm vô cùng cho chúng. Ta phải bằng mọi biện pháp, mọi hình thức, tập trung suy nghĩ ra sức giữ bí mật, bất ngờ để tranh thủ đánh theo phương án địch chưa có tăng cường thêm lực lượng. Nếu địch đã tăng thêm được lực lượng và đề phòng rồi thì ta sẽ đánh theo phương án thứ hai. Như vậy, có thể có khó khăn hơn nhưng nhất định cũng phải thắng.

Cho đến nay, địch vẫn chưa nghĩ đến việc ta có thể tổ chức tiến công bằng lực lượng quy mô lớn và cũng chưa biết vào thời gian nào. Phía Buôn Ma Thuột này địch chưa biết rõ lực lượng ta, trừ trường hợp ta di chuyển bị lộ. Trong những ngày tới phải tiếp tục làm cho địch vẫn yên trí hướng tiến công chính của ta là Kon Tum, Pleiku. Vấn đề thời cơ là ở chỗ này. Phải đẩy mạnh hoạt động sắp tới ở Kon Tum và Pleiku để củng cố thêm sai lầm của địch.

Bây giờ có mấy vấn đề đặt ra:

– Một là, các hình thức đánh vào thị xã lớn và thành phố thế nào? Thời kỳ cuối của chiến tranh cách mạng, trong điều kiện ta đã mạnh hơn địch, nhất định phải thực hiện đánh tiêu diệt lớn và giải phóng thị xã, thành phố, không có con đường nào khác. Vì vậy, cách đánh vào Buôn Ma Thuột, nói về ưu thế thì ta cũng mạnh hơn địch. Ta có gần 3 sư đoàn, địch chỉ có một trung đoàn chủ lực của Sư đoàn 23 và 3 liên đoàn bảo an, cho nên địch yếu, cô lập. Nhưng địch ở trong thị xã rộng, kiến trúc rất phức tạp, có tổ chức phòng ngự sẵn. Đánh vào thị xã lớn, dùng lực lượng lớn hiệp đồng binh chủng cũng lại là mới đối với ta.

Đó là những điều cần chú ý.

Tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột, ta lấy lực lượng mạnh gấp nhiều lần hơn địch, tổ chức các đội đột kích binh chủng hợp thành mạnh kết hợp với các tiểu đoàn đặc công và bộ binh bí mật triển khai trước, đánh thẳng ngay vào trung tâm thị xã, chiếm hai sân bay, nhanh chóng diệt đầu não chỉ huy của địch rồi mới phát triển trở ra tiêu diệt địch bên ngoài thị xã. Cách đánh này có hai vấn đề khó: một là tổ chức chiến đấu hợp đồng và chỉ huy các cánh thống nhất thời gian và hành động theo kế hoạch, vượt sông, vượt qua được các chốt phòng ngự của địch từ xa đến sát thị xã. Có một điểm nữa là phải giữ được bí mật, làm cho địch bị bất ngờ đến lúc ta nổ súng. Thực hiện được tốt hai vấn đề trên thì địch sẽ bị đánh ngã rất nhanh, không phải từ 7 đến 10 ngày như các đồng chí dự kiến lúc đầu.

So sánh lực lượng ở đây cho phép ta không những tiêu diệt được địch, chiếm giữ được thị xã mà còn có lực lượng dự bị mạnh tiêu diệt các đơn vị quân địch tới phản kích, giữ vững thắng lợi và phát triển tiến công, vì cả Tây Nguyên đã bị cô lập với toàn chiến trường miền Nam, chứ không nêng ở Buôn Ma Thuột. Đấy là chưa nói sự phối hợp hoạt động trên các chiến trường khác của ta với Tây Nguyên càng hạn chế khả năng của địch điều động lực lượng lớn tăng viện cho chiến trường Tây Nguyên.

Cần nói thêm là, trong các trận chiến đấu, tốt nhất là phá được cơ quan chỉ huy, bắt được chỉ huy đầu sỏ của địch thì giải quyết trận đánh nhanh hơn. Dĩ nhiên, việc đó là khó, vì chỉ huy đầu não của địch bao giờ cũng ở trong sâu và được bảo vệ chắc chắn. Chúng ta đã thảo luận kỹ và nhất trí cách đánh mới, táo bạo, bất ngờ trên cơ sở phân tích tình hình một cách khoa học này. Cũng cần phải thấy trận Buôn Ma Thuột là trận then chốt mở đầu chiến dịch, nhanh chóng đánh ngã địch, tiêu diệt nó, giải phóng và giữ vững thị xã, đánh bại quân địch phản kích và phát triển là những mặt rất gắn bó với nhau không phải riêng cho Buôn Ma Thuột mà là cho cả Chiến dịch Tây Nguyên. Giữ được bất ngờ về mục tiêu, về thời gian, về lực lượng, về cách đánh, cô lập được thị xã rồi lại có sức mạnh hơn hẳn địch mà địch không phát hiện được thì càng bảo đảm cho trận đánh ta tổn thất ít hơn, thắng lợi lại nhanh hơn. Thời gian mùa khô của ta rất quan trọng, không được để phí một ngày, một giờ, phải tranh thủ thời gian để liên tục tiến công, liên tục giành thắng lợi. Tóm lại, đây là cách đánh của ta nhằm tiết kiệm thời gian, nhanh chóng tiêu diệt địch và giải phóng thị xã lớn như Buôn Ma Thuột, tạo ra một biến động trên chiến trường, một cách đánh rất sáng tạo, thể hiện tư tưởng và tình thần tích cực tiến công của quân đội cách mạng. Nó lâ kết quả của quá trình điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng, xem xét mọi vấn đề một cách công phu và khoa học để đi đến một quyết tâm chính xác và thể hiện một nghệ thuật chiến dịch phát triển cao. Thực hiện được quyết tâm nói trên thì ta càng có thêm kinh nghiệm để tiếp tục giải phóng các thị xã khác ở Tây Nguyên như Phú Bổn, Gia Nghĩa, Pleiku, Kon Tum.

Hai là, có cách đánh đúng rồi bây giờ phải tổ chức các trận chiến đấu: phải tổ chức cụ thể, chặt chẽ từ trung đoàn, tiểu đoàn đến đơn vị thấp nhất, tổ chức cụ thể cho từng cánh, từng mũi, từng binh chủng, nhất là tổ chức các đơn vị cơ giới đột kích thọc sâu và tổ chức hiệp đồng đánh trong thị xã. Có quyết tâm cao, có tư tưởng mạnh dạn nhưng tổ chức hiệp đồng chiến đấu kém, không chặt chẽ, phân công không rõ ràng thì khi đánh có thể không thắng, dây dưa, bị tiêu hao.

Ba là, thực hiện các chính sách: thị xã Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế, dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên, có đồng bào người Thượng, đồng bào Thiên chúa giáo, Tin lành, Phật giáo, lại có những nhà tư sản, các chủ đồn điền, các ngoại kiều sống dưới chủ nghĩa thực dân mới mấy chục năm, cho nên rất phức tạp. Bộ đội vào thị xã phải có thái độ, tác phong đúng, phải chấp hành nghiêm các chính sách và kỷ luật đề ra, giúp đơ cấp uỷ địa phương xây dựng chính quyền cách mạng ở cơ sở, tranh thủ lòng dân và mau chóng ổn định đời sống nhân dân sau khi giải phóng.

Bôn là, phải tổ chức quân quản sau khi giải phóng. Có công việc, có cơ quan phải có người đứng đầu, công việc quân quản sẽ rất nhiều, lại mới mẻ, sẽ bàn chuyên vấn đề này với đồng chí Bùi San và Tỉnh uỷ Đắk Lắk, nhưng vấn đề chủ yếu là có tổ chức, có người phụ trách, có quân đội tham gia thì sẽ làm được. Ở đây đồng chí Thượng tá Y Blốc là người dân tộc, vốn có uy tín trong nhân dân, được bà con địa phương yêu mến, kính trọng. Chúng tôi trao đổi ý kiến với Bộ Tư lệnh Khu 5 đề nghị với Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, nếu giải phóng xong thị xã sẽ xin thăng cấp đồng chí Y Blốc lên đại tá và cử làm Chủ tịch Uỷ ban quân quản Buôn Ma Thuột.

Năm là, thị xã Buôn Ma Thuột là hậu cứ của Sư đoàn 23, có đủ hậu cứ các trung đoàn, có hệ thống kho lớn, ngoài ra có nhiều xí nghiệp, nhiều cơ sở công nghiệp của tư sản. Phải bảo vệ tốt và đưa các cơ sở hoạt động trở lại.

Tổ chức việc này rất phức tạp. Cái gì là tài sản của công phải thu, tài sản của nhân dân không được đụng tới, tài sản của tư sản phải làm theo đúng chính sách. Đồng chí Nguyễn Năng, Phó Tư lệnh, phụ trách về hậu cần, phải giúp địa phương làm việc này. Xe cộ, phương tiện, trang bị vũ khí, phải thu thập. Lương thực, thực phẩm cái gì dùng được cho quân đội, phải giữ và bảo quản tốt.

Sáu là cần phải vận dụng kinh nghiệm của Phước Long, sau khi giải phóng có thể sử dụng ngay tù binh bắt được nhất là lính các binh chủng như lái xe hơi, xe tăng, xe bọc thép, pháo binh, xe công trình sửa đường. Thế ta mạnh, ta thắng, ta làm được. Tóm lại, chiến lợi phẩm, tù binh phải hết sức chú ý sử dụng ngay cho chiến đấu, tất nhiên phải cảnh giác, có giám sát.

Vấn đề cuối cùng tôi muốn nói với các đồng chí là thời gian để chúng ta bắt đầu đánh Buôn Ma Thuột không còn nhiều: nếu kéo dài công việc chuẩn bị có thể sẽ bị lộ. Phải đánh cho kịp thời gian đã dự kiến, bởi vì các chiến trường khác đều lấy thời gian của ta làm chuẩn để hiệp đồng.

Cần thấy rằng nếu địch phải đối phó trên toàn mặt trận miền Nam là điều sẽ rất khó cho chúng. Buôn Ma Thuột là thị xã quan trọng nhất ở Tây Nguyên, nhưng các nơi khác cũng quan trọng đối với địch vì gần Sài Gòn, gần Đà Nắng hơn. Cho nên, một khi đã bị đánh đồng loạt ở nhiều chiến trường, địch bắt buộc phải nhìn chung, phải xem xét hướng tiến công chiến lược chính của ta là ở đâu. Do đó, chúng chưa tung ngay lực lượng tổng dự bị ra. Trước mắt, đìch sẽ đối phó bằng lực lượng của quân đoàn, mà lực lượng của Quân đoàn 2 thì không nhiều: các đường bộ đến Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột đã bị cắt, có đổ bộ bằng đường không cũng hạn chế và càng dễ bị tiêu diệt.

Vì vậy, công việc của chúng ta rất khẩn trương và phải hết sức giữ cho được bí mật. Các đồng chí trên mặt trận phải xuống tận nơi giúp các đơn vị, nhất là Sư đoàn 316, anh em mới vào, chiến trường chưa quen, đánh sớm quá không được, nhưng nếu không khẩn trương chuẩn bị, thời gian kéo dài thì không được.

Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh nhận định rằng đánh Buôn Ma Thuột thì sẽ làm rung động mạnh toàn bộ thế địch. Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên cùng với thắng lợi toàn chiến trường có thể tạo nên một chuyển biến lớn đẩy địch vào thế có đột biến khá lớn. Không có con đường nào khác, địch dùng chiến tranh phản cách mạng, ta phải dùng chiến tranh cách mạng. Địch tiếp tục chiến tranh thì càng suy yếu đi, ta tiến hành chiến tranh cách mạng như thế này thì sẽ càng đánh càng mạnh.

Tôi nghĩ rằng các đồng chí còn rất nhiều công việc. Những ý kiến bàn với nhau như thế này nhất trí rồi, kết luận rồi, trở thành nghị quyết rồi thì hết sức cộng tác với nhau để thực hiện nhiệm vụ cho tốt. Tức là làm sao tiêu diệt được địch, giải phóng được thị xã Buôn Ma Thuột, phát triển tiến công để giải phóng Tây Nguyên, giải phóng toàn miền Nam yêu quý của chúng ta.

Trong Bộ Tư lệnh Mặt trận cần phân công có đồng chí chuyên lo việc chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột, có đồng chí chuyên lo đôn đốc, giúp đỡ chỉ đạo các đơn vị triển khai lực lượng gài thế chia cắt, bao vây chiến dịch theo đúng kế hoạch.

Hôm nay, họp tương đối đông đủ, có đại diện các sư đoàn, các binh chủng, các cơ quan, tôi xin thay mặt Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh phê chuẩn quyết tâm và Phương án tác chiến của Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Bằng mọi nỗ lực và mưu trí của mình, chúng ta phải làm nhiều việc cho đến khi những quả đạn đại bác tầm xa của ta nổ trên đầu địch ở thị xã Buôn Ma Thuột mà ta vẫn giữ được bất ngờ, đánh nhanh, giải quyết nhanh. Bằng mọi biện pháp và hình thức cần làm cho các cấp uỷ Đảng, tất cả cán bộ và chiến sĩ thấy hết ý nghĩa quan trọng của trận đánh này, nêu cao tinh thần dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, hiểu và làm đúng cách đánh ta đã bàn, thì nhất định sẽ giành được thắng lợi giòn giã”.

Địch vẫn chú ý phòng thủ bắc Tây Nguyên nhiều hơn.

Ta lại tăng cường hoạt động nghi binh: huy động nhân dân vùng giải phóng ở Kon Tum và Pleiku rầm rập kéo đi làm đường, chữa đường, vận tải, bộ đội kết hợp với địa phương tổ chức nhiều cuộc míttình hoan nghênh bộ đội về giải phóng Pleiku, Kon Tum.

Ngày 1 tháng 3, Sư đoàn 968 diệt hai đồn trên đường số 19, phía tây Pleiku, áp sát vào quận Thanh An. Địch lại càng khẳng định ta chuẩn bị địa bàn để đánh Pleiku.

Chúng vội điều Trung đoàn 45 từ Thuần Mẫn (ngã ba đường số 14 đi Phú Bổn) lên Thanh An ngày 3 tháng 3.

Thấy địch đã “mắc câu”, tôi nhắc đồng chí Hoàng Minh Thảo chỉ thị cho Sư đoàn 968 đánh mạnh hơn nữa, tăng thêm đạn lớn cho sư đoàn bắn vào sân bay Cù Hanh và dặn đồng chí Thanh Sơn, Sư đoàn trưởng, là phải thực hiện “đánh một, la mười”.

Ngày 4 tháng 3, Trung đoàn 95 và Sư đoàn 3 của Quân khu 5 tiêu diệt một loạt vị trí và cắt đứt đường số 19 trên hai đoạn ở phía đông và ở phía tây An Khê. Địch điều 2 trung đoàn của Sư đoàn 22 từ Bình Định lên giải toả đông An Khê và lữ kỵ binh 2 từ Pleiku xuống giải toả tây An Khê. Phạm Văn Phú càng cố sống cố chết tăng cường phòng thủ bắc Tây Nguyên, chủ yếu là Pleiku. Hắn tung các liên đoàn biệt động quân 4 và 6 thọc ra phía tây bắc Kon Tum và tây bắc Pleiku để tìm Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 là hai sư đoàn đã từng giáng cho địch những đòn đau trong những năm từ 1972 đến 1974. Pháo binh và máy bay địch tập trung đánh vào bất cứ chỗ nào chúng nghi ta trú quân hoặc đặt trận địa pháo.

Trong khi đó Sư đoàn 320 vẫn nằm im ở phía tây đường số 14 chỉ cách đường 5 km, đoạn từ cầu I-a Leo đến Chư Xê và ngay ngày 3 tháng 3, sư đoàn đã cho Tiểu đoàn 9 vượt đường số 14 vòng sang phía đông quận ly Thuần Mẫn, sẵn sàng khi có lệnh sẽ ra chốt trên đường từ Thuần Mẫn đi Cheo Reo, không cho địch từ Phú Bổn lên tăng cường cho đường số 14 hoặc từ Thuần Mẫn tháo chạy về Cheo Reo. Phải nói rằng hành động của Tiểu đoàn này rất tích cực, khôn khéo và kín đáo, tách ra hoạt động độc lập xa trung đoàn nhưng vẫn kéo dây điện thoại bí mật chui qua đường số 14 để giữ vững liên lạc với trung đoàn ở cách xa hơn 20 km. Và chính Tiểu đoàn 9 sau này đã là đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 320 ra chặn đội hình địch ở phía đông Phú Bổn khi chúng tháo chạy từ Pleiku về Phú Yên theo đường số 7.

Còn Sư đoàn 10 thì đang bí mật dồn binh lực, hoả lực vào sát Đức Lập và Đắc Soong ở phía tây nam Buôn Ma Thuột, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để nổ súng đúng ngày giờ theo kế hoạch.

Ngày 5 tháng 3, Trung đoàn 25 ra cắt đứt đường số 21 trên đoạn phía đông Chư Cúc, diệt một đoàn xe hơn 80 chiếc.

Thế là đến ngày 5 tháng 3, địch ở Tây Nguyên đã bị cô lập với đồng bằng. Nhưng giữa nam Tây Nguyên và bắc Tây Nguyên địch vẫn đi lại được với nhau, vì ta chưa chủ trương cắt đường số 14.

Hàng ngày khoảng 60-80 xe quân sự và dân sự của địch vẫn đi lại bình thường.

Ở đây cần nói rõ một điều: Vì sao ta không cắt đường số 14 cùng một lúc với cắt các đường số 19 và số 21? Trong kế hoạch cài thế, ngoài việc chia cắt chiến lược thì chia cắt chiến dịch có nhiệm vụ chốt chặn đường số 14 để cắt rời Buôn Ma Thuột với Pleiku. Nhưng nên thực hiện vào lúc nào? Nếu cắt đường số 14 sớm thì sẽ có thể bị lộ ý định đánh Buôn Ma Thuột. Và muốn cắt đường số 14 trên hai đoạn phía bắc và phía nam quận ly Thuần Mẫn thì phải đánh chiếm quận lỵ này. Mà đã đánh chiếm thì địch sẽ biết ta có một sư đoàn đứng ở bắc Buôn Ma Thuột. Trong trường hợp đó, địch sẽ tìm cách đưa thêm lực lượng về tăng cường Buôn Ma Thuột và giải toả đường bằng dùng máy bay lên thẳng đổ bộ hoặc đánh thông đường số 14.

Cuộc chiến đấu ở đây có thể sẽ sớm “cộm lên”, yếu tố bí mật trước khi đánh Buôn Ma Thuột sẽ không còn.

Ta chủ trương bắt đầu đánh Buôn Ma Thuột thì đồng thời đánh quận lỵ Thuần Mẫn và cắt đường số 14. Nhưng mặt khác lại phải sẵn sàng một lực lượng lớn để trong khi ta chưa cắt đường mà địch đã phát hiện ý định ta đánh Buôn Ma Thuột, tăng cường lực lượng cỡ trung đoàn trở lên từ Pleiku theo đường số 14 xuống, thì lập tức thực hành một trận vận động phục kích tiêu diệt lực lượng này, đồng thời chốt luôn đường số 14. Do có ý định đó, ta đã bố trí ở khu vực này Sư đoàn 320, một sư đoàn quen đánh vận động và có nhiều kinh nghiệm cắt và chốt giữ đường.

Nhưng thực hiện được đúng ý định này không đơn giản, luôn luôn phải theo dõi tình hình, suy nghĩ căng thẳng, nhất là người chỉ huy trực tiếp ở đây là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320. Lúc này trên đường xe cộ của địch vẫn lên xuống bình thường. Trong chiến đấu không phải lúc nào ta cũng nắm chắc được ý định và hành động của địch. Hơn nữa, kẻ địch cũng xảo quyệt và mạnh, chúng còn sử dụng được sức mạnh không quân của chúng. Cho nên thời cơ nào hạ lệnh cho Sư đoàn 320 ra đánh địch và cắt đường là phải cân nhắc và tính toán kỹ lưỡng, nhạy bén lắm.

Một tình huống xảy ra: trưa ngày 5 tháng 3, Sư đoàn 320 dùng một tiểu đoàn diệt một đoàn xe quân sự 14 chiếc và thu 2 khẩu pháo 105 milimét trên đường số 14, đoạn bắc Thuần Mẫn đi Buôn Ma Thuột, thu toàn bộ vũ khí, bắt tù binh, trong đó có vợ chồng viên trung uý pháo binh, và báo cáo lên Mặt trận: hai hôm nay địch tăng thêm một tiểu đoàn của Trung đoàn 45 về Thuần Mẫn, thường xuyên lùng sục phía tây đường số 14 để phát hiện ta. Ta vẫn tránh không nổ súng và vẫn giữ được bí mật. Hàng ngày cường độ vận chuyển trên đường số 14 của địch tăng lên. Chủ trương đánh trận hôm nay là vì phán đoán địch đưa dần Trung đoàn 45 về tăng cường cho Buôn Ma Thuột. Đề nghị cho Sư đoàn ra chiếm lĩnh trận địa chốt chặn trên đường số 14 đánh Thuần Mẫn và diệt luôn cả một tiểu đoàn của Trung đoàn 45 hiện đang tăng cừờng ở đó.

Đồng chí Vũ Lăng báo cáo với tôi tình hình đó và xin chỉ thị. Tôi thông cảm sự lo lắng về trách nhiệm của Sư đoàn 320 và cũng thông cảm sự căng thẳng của một đơn vị lớn buộc phải im lặng để chờ thời cơ phục vụ cho lợi ích chung của toàn Mặt trận, giấu mình tránh những loạt pháo địch bắn thăm dò, những tên thám báo và những đơn vị nhỏ của địch đổ xuống gần khu vực bố trí của bộ đội bằng máy bay lên thẳng hoặc đi bộ. Chúng vừa lùng sục vừa lo sợ.

Nhưng điểm lại tình hình hoạt động mấy ngày gần đây của địch thì thấy chúng đối phó dè dặt, chưa có ý đồ rõ ràng. Chúng vẫn tập trung sự chú ý vào bắc Tây Nguyên và lo giải toả đường số 19, chưa thay đổi nhận định cũ. Ta vẫn giữ được bí mật, cần tiếp tục giữ bí mật nữa, đánh lừa địch thêm để tranh thủ, khẩn trương chuẩn bị cho trận then chốt mở đầu.

Sau khi trao đổi ý kiến thêm với đồng chí Lê Ngọc Hiền, tôi chỉ thị cho Mặt trận: “Sư đoàn 320 tiếp tục im lặng, tránh nổ súng với bọn thám báo lùng sục, không có lệnh không được đánh trên đường số 14, giữ vững quyết tâm đã xác định”. Đồng thời tôi lệnh cho Mặt trận cử cán bộ xuống hỏi cung ngay tên Trung uý pháo binh nguỵ vừa bị bắt.

Nửa đêm, đồng chí thư ký của tôi lên báo cáo: tên tù binh khai đoàn xe của chúng chở một đại đội của Trung đoàn 45 và một số nhân viên về hậu cứ ở Buôn Ma Thuột nghỉ và hôm sau sẽ chở tân binh lên bổ sung cho các đơn vị của trung đoàn ở Pleiku. Như vậy là 14 xe từ Pleiku về Buôn Ma Thuột là vận chuyển thường xuyên, chưa phải địch tăng cường lực lượng về Buôn Ma Thuột. Nhưng dù sao, địch đã bị đánh và đã biết ta có lực lượng trên đường số 14, cách Pleiku khoảng 30km về phía nam. Tiếp đó, đồng chí báo cáo thêm: Mặt trận vừa cho biết đoàn cán bộ của trung đoàn pháo binh đi trinh sát địa hình ngày 5 tháng 3 chạm địch ở bắc Buôn Ma Thuột, một chiến sĩ ta bị thương và bị địch bắt, có mang theo người một sổ nhật ký.

Tôi suy nghĩ: Còn bốn ngày nữa nổ súng đánh Buôn Ma Thuột, địch sẽ còn làm gì trong những ngày sắp tới?

Đến nay địch vẫn nhận định sai về hướng tiến công chủ yếu của ta. Nhưng nếu còn xảy ra những hiện tượng lộ bí mật như vừa qua, thì nhất định ta sẽ phải xem xét lại.

Lúc này địch đang cố tìm hiểu ý định và hành động của ta.

Tôi gọi điện thoại cho đồng chí Vũ Lăng nhắc phải kiểm tra từng chiến sĩ để chấp hành thật nghiêm những quy định về giữ bí mật.

Sáng ngày 6 tháng 3, đồng chí cán bộ tham mưu quân báo báo cáo: theo tin của địch mà ta thu được, chúng đã cho Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 53 cùng một chi đội thiết giáp một tiểu đoàn bảo an nống lên Quảng Nhiêu, cách đông bắc Buôn Ma Thuột 11km. Ngay sau đó đồng chí trưởng phòng tác chiến của Mặt trận báo cáo bằng điện thoại cụ thể từng mũi của địch đang lùng sục như thế nào ở khu vực này, những bộ phận lực lượng pháo binh, xe tăng, công binh của ta đang chuẩn bị đường cơ động, khu tập kết, v.v. Ở đây phải lui về phía sau tránh địch để khỏi bị lộ. Nhưng nếu chúng lùng sục kéo dài đến ngày 8 tháng a, thì sẽ ảnh hưởng đến việc chuẩn bị theo cách đánh của ta từ phía bắc vào thị xã.

Có thể do bắt được chiến sĩ của ta có mang theo tài liệu cho nên địch bắt đầu nghi ngờ ở hướng này. Nhưng dù biết là có đơn vị pháo binh ta ở bắc Buôn Ma Thuột cũng chưa chắc địch đã khẳng định được ta chuẩn bị đánh thị xã này. Cũng có thể chúng cho là ta chuẩn bị để pháo kích vào thị xã như ta vẫn làm trước đây, nếu ở đây chúng không phát hiện được gì thêm.

Tôi bàn với các đồng chí trong bộ phận tham mưu tác chiến của đại diện Bộ Tổng tư lệnh, rồi cử đồng chí Lê Ngọc Hiền xuống Bộ chỉ huy Mặt trận cùng anh em triển khai ngay mấy việc sau đây:

– Hướng Quảng Nhiêu tiếp tục tránh địch, không để chúng phát hiện ta, chuẩn bị sẵn lực lượng nếu chúng vào sâu hơn nữa đến vị trí tập kết của ta thì bao vây tiêu diệt gọn từng mũi của địch.

Theo dõi thật chặt hành động của địch ở hướng này để xử lý cụ thể từng tình huống.

Nếu chiều ngày 6 tháng 3 địch không lui về Buôn Ma Thuột (quy luật của địch ở đây thường là khi có nghi ngờ chúng lùng sục một ngày, không phát hiện gì sẽ lui về), thì lệnh cho Sư đoàn 320 chuẩn bị sáng 7 tháng 3 diệt cứ điểm Chư Xê (trên đường số 14, phía bắc Buôn Hồ) để kéo địch về hướng này, tạo điều kiện cho các đơn vị của ta ở hướng Quảng Nhiêu tiếp tục công tác chuẩn bị.

Nếu ngày 7 tháng 3, địch vẫn tiếp tục lùng sục thì ngày 8 tháng 3, Sư đoàn 320 đánh chiếm quận lỵ, chi khu Thuần Mẫn, thực hiện cắt hẳn đường số 14, “hút” địch từ Buôn Ma Thuột lên, đồng thời sẵn sàng đánh địch từ Pleiku xuống.

Đúng như ta đã phán đoán, trưa ngày 6 tháng 3 ta bắt được tin của địch: đồng chí chiến sĩ của ta bị thương nặng, bọn nguỵ đưa đi bệnh viện cưa chân và cứu chữa để đích thân tên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 xuống khai thác. Nhưng đồng chí chiến sĩ của ta đang mê man chưa tỉnh.

(Sau này được biết chúng chưa kịp khai thác gì thì ta đã giải phóng Buôn Ma Thuột. Và đồng chí này lại được anh em ta đưa từ bệnh viện của địch về đơn vị).

Ngày 7 tháng 3, ta diệt Chư Xê trong 30 phút, tạo thêm điều kiện chốt giữ chắc chắn hơn trên đường số 14, nhưng địch vẫn chưa rút khỏi Quảng Nhiêu.

Sáng 8 tháng 3, Sư đoàn 320 đánh chiếm quận ly Thuần Mẫn, cắt hẳn đường số 14. Đến trưa, lực lượng địch ở Quảng Nhiêu vội vã bỏ cuộc, hành quân rút về Buôn Ma Thuột.

Ngày 9 tháng 3, theo đúng kế hoạch, ta đánh chiếm quận lỵ Đức Lập, Đắc Soong, Núi Lửa, mở thông hoàn toàn đường hành lang chiến lược Bắc Nam, phía đông Trường Sơn. Trên hướng bắc tiêu diệt quận lỵ Thanh An, trên đường số 19, ta đã áp sát vào phía tây thị xã Pleiku.

Thế là đến ngày 9 tháng 3, ta đã triển khai lực lượng cài xong thế chiến lược và chiến dịch, đã chia cắt Tây Nguyên với vùng đồng bằng, chia cắt phía nam với phía bắc Tây Nguyên, đã hoàn toàn bao vây và cô lập thị xã Buôn Ma Thuột.

Cuộc đấu trí giữa ta với địch kết thúc một bước, phần thắng đã về ta.

Nhưng địch vẫn chủ quan và những hành động của ta càng củng cố thêm nhận định sai lầm của địch. Cho đến khi ta tiêu diệt quận lỵ Đức Lập, chúng vẫn cho là ta đánh để mở thông đường số 14 vào Nam Bộ, và chúng vẫn lo đối phó ở phía tây Pleiku.

Đến lúc này, dù cho địch có biết chắc ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột thì cũng đã quá muộn rồi, khó cựa quậy được nữa, thế trận ta đã bày ra không gì phá vỡ nổi.

Chiều ngày 9 tháng 3, tôi gửi một bức điện về Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, báo cáo kết quả chiến đấu từ ngày 1 tháng 3 đến sau khi giải phóng Đức Lập và những nét chính về kế hoạch toàn chiến dịch (Điểm này bây giờ mới báo cáo là để giữ bí mật). Phần cuối bức điện viết:

“Ngày 10 tháng 3, ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột, tình hình diễn biến thế nào, có nhận xét gì lớn tôi sẽ điện tiếp.

Chúng tôi vẫn khỏe. Anh Thiện và 559 trợ lực rất tích cực cho chiến dịch này. Mọi yêu cầu đều cố gắng bảo đảm được Quân no, lực lượng lớn, vũ khí, trang bị đầy đủ, tinh thần phấn chấn, khí thế cao, chưa bao giờ mạnh và đánk tập trung lớn ở đây như năm nay.

Chúc các anh trong Bộ Chính trị và Quân uỷ mạnh khỏe.
TUẤN”

Đồng chí Đinh Đức Thiện, sau khi đi đôn đốc xong các kho dự trữ đạn ở hậu phương, kế hoạch tiếp tục vận chuyển đón thời cơ, đã đi dọc phía tây Trường Sơn vào đến Sở chỉ huy và mấy hôm nay đồng chí kiểm tra lại lần cuối cùng các mặt chuẩn bị của hậu cần.

19 giờ ngày 9 tháng 3, chúng tôi lần lượt gọi điện thoại cho các đơn vị. Các nơi báo cáo mọi công tác chuẩn bị đã xong và đã đến đúng vị trí quy định. Phức tạp và khó khăn nhất là đơn vị phải vượt đường số 14, vượt sông Sê-rêpốc bằng bè nứa chở pháo qua. Các đơn vị vào đánh tử phía nam thị xã lên cũng đã vào đủ ở vị trí xuất phát tiến công. Những đơn vị đột kích binh chủng hợp thành phải chờ khi bắt đầu nổ súng mới hành quân bằng cơ giới chọc qua các đồn bốt của địch, cũng đã bố trí xong đội hình. Các đồng chí chỉ huy đều hứa kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ Tôi chúc anh em thắng giòn giã, tổn thất ít, đánh nhanh, hoàn thành nhiệm vụ và chuyển lời hỏi thăm đến các chiến sĩ trước khi ra trận.

Đêm mùng 9 tháng 3, chúng tôi ngồi ở Sở chỉ huy, tiếp tục theo dõi tình hình và chờ giờ “G”. Các cán bộ tham mưu ngồi quanh đều không giấu nổi niềm vui và niềm xúc động lớn khi giờ phút trọng đại đang đến gần. Đối với người lính chiến đấu, đêm chờ giờ “G” là đêm giao thừa.

Từ cấp trên đến cấp dưới chúng ta chờ đón đêm giao thừa này từ mấy năm nay. Đêm Trường Sơn lúc này tuy yên lặng nhưng hàng chục nghìn con người đang chuyển động về các mục tiêu. Các đồng chí chỉ huy có người trên đầu đã hai thứ tóc đang chụm lại trên những tấm bản đồ, kiểm tra lần cuối kế hoạch của mình. Và cũng đêm nay, chắc bọn nguỵ từ Sài Gòn đến Tây Nguyên chưa phán đoán được ta sẽ hành động thế nào, chưa hình dung được sức mạnh của ta, bị chúng ta dắt dẫn đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Tin tưởng rằng giờ “G” bắt đầu sẽ có nhiều tbuận lợi. Vào giờ này, hậu phương lớn của chúng ta bận rộn lắm và chắc các đồng chí trong Bộ Chính trị, trong Quân uỷ Trung ương cũng đang thao thức theo dõi tình hình ở Mặt trận này. Hậu phương lớn đã bảo đảm đáp ứng mọi yêu cầu và nhu cầu của tiền tuyến để đánh lớn và thắng lớn. Hậu phương anh hùng, hậu phương vĩ đại. Tôi nói chuyện với đồng chí Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh Mặt trận, qua dây nói:

“Ta tiếp tục làm theo dự kiến, không có gì thay đổi. Cần bảo đảm thông tin chỉ huy cho tốt để nắm chắc tình hình. Đồng chí liên lạc chặt với tôi bằng cả ba phương tiện để kịp thời trao đổi ý kiến và xử lý mọi tình huống. Nắm được tình hình và đã quyết định là phải ra lệnh cho cấp dưới làm nhanh, dứt khoát, không bàn dây dưa.
Chúc thắng lợi”.

Hết: Chương 5, xem tiếp: Chương 6

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 6

Đòn đánh trúng huyệt

Đúng 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3, bộ đội đặc công nổ súng đánh sân bay Hoà Bình, hậu cứ Trung đoàn 53, sân bay thị xã và kho Mai Hắc Đế, mở màn cuộc tiến công Buôn Ma Thuột. Cùng lúc, các loại pháo, hoả tiễn giội bão lửa vào Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 nguỵ và kéo dài từng loạt đến 6 giờ 30 phút sáng, làm rối loạn và tê hệt cơ quan đầu não địch. Với lối đánh điêu luyện của lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, chỉ trong vòng một giờ, bộ đội đặc công đã chiếm phần lớn sân bay thị xã, phá huỷ trong nháy mắt 7 máy bay địch, chiếm một góc sân bay Hoà Bình và toàn bộ kho Mai Hắc Đế.

Lợi dụng tiếng pháo gầm, tiếng súng nổ, các loại xe kéo pháo bắn thẳng, pháo cao xạ, xe tăng, xe thiết giáp, ôtô chở bộ binh của ta từ các phía ào ào tiến về hướng thị xã.

Nghe tiếng súng nổ, chúng tôi trong Sở chỉ huy nhìn nhau thở nhẹ nhõm vì như thế là đã vượt qua được một thời gian hết sức căng thẳng đối với người chỉ huy: thời gian triển khai toàn bộ lực lượng vào cuộc tiến công. Thật vậy đây là một vấn đề vô cùng khó khăn phức tạp. Làm sao trong một đêm đưa được an toàn, đúng thời gian, vào đúng vị trí, một lực lượng lớn gồm 12 trung đoàn bộ binh và các binh chủng kỹ thuật. Một số đơn vị phải chiếm lĩnh trước, ép sát thị xã một cách bí mật, còn đại bộ phận các đơn vị bộ binh cơ giới, xe tăng thọc sâu tại các vị trí chờ đợi từ xa trên các hướng khác nhau, theo các trục đường khác nhau tiến vào các mục tiêu đã định trong thị xã.

Có đơn vị xe tăng của ta cách Buôn Ma Thuột 40km phải băng qua các vật chướng ngại, bỏ qua các đồn bốt địch dọc đường, ầm ầm tiến thẳng về thị xã. Trên dòng sông Sêrêpốc hung dữ, những chiếc phà hiện đại được lắp ghép rất nhanh; xe tăng, xe bọc thép, pháo cao xạ, pháo cơ giới nối đuôi nhau qua phà. Cả núi rừng Tây Nguyên chuyển động trong bão lửa.

Do tổ chức hiệp đồng tốt, bảo đảm chu đáo, chỉ huy điều chỉnh chặt chẽ, cho nên các hướng, các mũi tiến quân đều tiến vào đúng thời gian. Thế là ta đã ghi được điểm thắng đầu tiên đối với địch ở Buôn Ma Thuột.

Trời sáng dần. Các vị trí địch trong thị xã hiện lên rõ nét trước mắt các pháo thủ ta.

7 giờ 15 phút, các cụm pháo ta theo một hiệu lệnh thống nhất đua nhau nã đạn vào Sư đoàn bộ Sư đoàn 23, Sở chỉ huy tiểu khu và khu thiết giáp. Trước đó, lợi dụng lúc trời còn tối, hai tiểu đoàn bộ binh của ta từ phía nam đã bí mật tiến vào thị xã đánh chiếm một số mục tiêu và lợi dụng kết quả của trận pháo kích đã nhanh chóng đánh khu vực ngã sáu trung tâm thị xã, rồi phát triển đánh sang khu nhà thờ quân nguỵ, chiếm phía đông Sư đoàn bộ Sư đoàn 23. Địch dùng máy bay oanh tạc và cho bộ binh phản kích quyết liệt hòng đánh bật ta ra. Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt. Đến 9 giờ sáng, ta dùng bộ binh kết hợp với xe tăng tổ chức một đợt tiến công vào Sở chỉ huy tiểu khu, đầu não chỉ huy các lực lượng bảo an, dân vệ trong tỉnh. Địch chống cự mạnh, ta phải điều thêm lực lượng dự bị tổ chức tiến công liên tiếp nhiều đợt. Mãi đến 13 giờ 30 phút, quân ta mới vào được cổng tiểu khu. Quân địch dựa vào các nhà gác vẫn tiếp tục chống cự. Ta tiếp tục phát triển tiêu diệt hết các ổ đề kháng của địch. 17 giờ 30 phút, ta hoàn toàn làm chủ Sở chỉ huy tiểu khu tỉnh Đắk Lắk.

Sau khi đã giải quyết xong Sở chỉ huy tiểu khu, ta tách một lực lượng phát triển sang khu hành chính đầu não chính quyền địch, tiêu diệt và bắt sống nhiều tên đầu sỏ nguỵ quyền, tiếp đó thừa thắng phát triển đánh chiếm khu quân cảnh và tiêu diệt gọn một đại đội địch ở đông bắc sân bay thị xã.

Phối hợp với hướng đông bắc, cánh quân tây bắc nhanh chóng đánh chiếm điểm cao Chư Bua, một vị trí khống chế và tiền tiêu ngoài thị xã, tiếp đó dùng bộ binh phối hợp với xe tăng tiến công đánh chiếm khu thiết giáp, khu pháo binh và hậu cứ Tiểụ đoàn 1 Trung đoàn 45 nguỵ.

Đến 15 giờ ta hoàn toàn làm chủ các mục tiêu nói trên.

Quân địch hầu như bị tiêu diệt toàn bộ, còn lại một số rất ít chạy về Sư đoàn bộ Sư đoàn 23.

Ở hướng tây nam, một mũi thọc sâu lợi hại của ta gồm bộ binh và xe tăng nhân lúc địch đang choáng váng đã nhanh chóng vượt qua khu kho Mai Hắc Đế thọc vào điểm khu trung tâm thông tin và áp sát Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 từ phía tây. Địch dùng máy bay oanh tạc ngăn chặn ta và tổ chức phản kích nhiều đợt. Ở đây đã diễn ra cuộc chiến đấu giằng co giữa ta và địch, giành nhau từng căn nhà, từng góc phố.

Trong ngày ta đã chiếm được phần lớn thị xã, trừ khu vực Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 và một số mục tiêu phía đông tiểu khu.

Địch bị đánh bất ngờ, đối phó lúng túng. Pháo binh và thiết giáp địch hoàn toàn bị tê liệt ngay từ đầu. Tuy nhiên chúng vẫn rất ngoan cố dùng 80 lần chiếc máy bay oanh tạc ngăn chặn ta và tìm mọi cơ hội phản kích quyết liệt.

Nhưng hầu hết các cuộc phản kích của địch đều thất bại và chúng buộc phải co về giữ Sư đoàn bộ Sư đoàn 23.

Thua đau nhưng địch vẫn chưa hết chủ quan. Chúng cho rằng ta tiến công chỉ đến mức như mùa xuân năm 1968, nếu chúng giữ được 3-4 ngày thì có khả năng khôi phục lại tình thế cũ. Ngoài liên đoàn 21 biệt động quân đã điều vào thị xã từ chiều 10 tháng 3, chúng còn dự định điều động thêm Trung đoàn 45 từ Pleiku xuống để tiếp tục phản kích.

Đến tối, sau khi nghe báo cáo tổng hợp tình hình, tôi nói với đồng chí Hoàng Minh Thảo qua máy điện thoại:

“Trong ngày đầu, tiến công vào thị xã, ta đã thu được thắng lợi lớn, đã chiếm và khống chế được 2 trong số 3 mục tiêu quan trọng nhất là Sở chỉ huy tiểu khu, sân bay thị xã, khống chế được sân bay Hoà Bình. Các hướng đều đánh tốt, riêng hướng nam có gặp khó khăn hơn nhưng đã thực hiện được nhiệm vụ. Lực lượng ta tiêu hao ít, ta hoàn toàn có điều kiện đánh dứt điểm nhanh Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 nguỵ cùng các mục tiêu còn lại và phải dứt điểm xong trước khi địch đưa được lực lượng mới đến.

Các đồng chí chỉ thị ngay cho các đơn vị giữ vững các khu vực đã chiếm, truy quét tàn quân; chuẩn bị kỹ để sáng 11 tháng 3 nhìn rõ mục tiêu tổ chức đánh dứt điểm Sư đoàn bộ Sư đoàn 23; điều toàn bộ Sư đoàn 10 từ Đức Lập về đông bắc thị xã sẵn sàng tiêu diệt địch phản kích; chấp hành tốt các chính sách khi vào thị xã”.

Cần nói thêm rằng, đến ngày 10 tháng 3, địch mới ngã ngửa ra, khi đã rõ ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Lúc này thì đã quá muộn đối với chúng rồi. Đường số 14 bị cắt, các trung đoàn của Sư đoàn 23 địch đang ở Pleiku không dám cơ động đường bộ và cũng chưa đủ phương tiện để vận chuyển bằng đường không đến ứng cứu. Chúng vô cùng hoang mang, dao động vì phần lớn gia đình, vợ con đều sơng trong thị xã Buôn Ma Thuột. Trong lúc đó ta pháo kích mạnh sân bay Pleiku, gây trở ngại cho địch trong việc dùng máy bay đưa quân xuống Buôn Ma Thuột.

Sáng ngày 11 tháng 3, chúng tôi nhận được báo cáo:

7 giờ 20 phút, pháo binh hạng nặng của ta bắn vào Sư đoàn bộ Sư đoàn 23, xe tăng và bộ binh ta đang trên đường tiền vào Sư đoàn bộ Sư đoàn 23. Địch kêu nguy khốn. 30 phút sau xe tăng và bộ binh ta tràn vào Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 từ bốn phía. Địch được lệnh cố thủ đến cùng.

8 giờ 15 phút, được tin tên Sư đoàn phó Sư đoàn 23 và bộ phận tham mưu của hắn đã bỏ chạy khỏi sư đoàn bộ.

Ta đánh tiếp, cuộc chiến đấu diễn ra hết sức khẩn trương và quyết liệt Ta đã tìm được hai hầm ngầm, bắt được tên Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Đắk Lắk và tên cần vụ của Sư đoàn phó Sư đoàn 23. Đánh chiếm một số hầm ngầm còn lại, bắt thêm 13 tên, trong đó có 4 đại uý và tên đại tá Sư đoàn phó Vũ Thế Quang. Tên này bị bắt ngoài đồn điền cà phê. Lúc này nhiều nơi địch kéo cờ trắng.

10 giờ 30 phút, Liên đoàn 21 biệt động quân nguỵ điện cho cấp trên của chúng như sau: “Hiện nay Ban chỉ huy Liên đoàn, Đại đội 23 trinh sát và pháo đang ở tình trạng rất căng thẳng, tiểu khu Đắk Lắk mất rồi, Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 mất rồi. Hậu cứ của Liên đoàn 21 cũng mất, tiền cứ của Tiểu đoàn 24 cũng mất. Tiểu đoàn 72 và Tiểu đoàn 96 hiện nằm ở phía sau Ban chỉ huy tiểu khu, nay ở đó có nhiều tăng của Việt cộng. Liên đoàn 21 đã bất lực, không cứu được Sư đoàn bộ Sư đoàn 23. Hiện nay đạn gần hết. Pháo chỉ còn hai khẩu và 100 viên đạn, nếu không tiếp tế thì nguy lắm”.

Sau khi chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 23, ta tràn qua hậu cứ của Trung đoàn 45. Tiếp đó, giải quyết xong các khu quân cảnh, cảnh sát, truyền tin, trường huấn luyện địa phương quân. Quân ta từ các hướng gặp nhau ở Sư đoàn bộ Sư đoàn 23. Đội vũ trang công tác đã vào thị xã Buôn Ma Thuột. Về cơ bản, ta đã giải quyết xong Buôn Ma Thuột lúc 10 giờ 30 phút ngày 11-3-1975.

Chúng tôi mừng rỡ không sao kể xiết. Bộ đội hết sức phấn chấn. Một thị xã to như vậy mà đánh trong hơn 32 giờ đã xong. Đúng là sức mạnh của ta, bây giờ quân địch không tài nào chống cự nổi.

Một đồng chí trong Sở chỉ huy nói:

– Đánh Buôn Ma Thuột hơn một ngày đêm quả thật là thần kỳ. Tôi ở chiến trường này đã 11 năm rồi. Lần này ta chuẩn bị thật dày công phu, bộ đội ra quân rất có khí thế. Sướng thật! Đây là lần đầu hành quân tiến công bằng xe hơi. Năm 1968 ta đánh Pleiku vất vả lắm, chỉ chiếm giữ được đài phát thanh thôi, nhưng được ba ngày sau phải rút. Lần này thị xã to thế, mình giải quyết nhanh như thế thì đúng là thần kỳ thật.

Chúng tôi chỉ thị phải hỏi cung ngay hai tên đại tá nguỵ để nắm thêm tình hình kịp cho bước phát triển tới.

Đồng chí Thiếu tá Mạc Lâm, người có nhiều kinh nghiệm về hỏi cung của Cục Quân báo được cử đi trực tiếp khai thác tên Đại tá Sư đoàn phó Vũ Thế Quang.

Quang khai:

“Việc các ông đánh Buôn Ma Thuột nằm ngoài dự kiến của Bộ Tổng Tham mưu chúng tôi và cả của Mỹ nữa. Sau trận Phước Long, chúng tôi nhận định trong thời gian tới, các ông có thể đánh một số thị xã nhỏ như An Lộc, Gia Nghĩa, còn thị xã lớn như Buôn Ma Thuột, Pleiku, Tây Ninh chưa đánh được. Khi Buôn Ma Thuột bị tiến công, chúng tôi cũng cho rằng đây chỉ là nghi binh để đánh Gia Nghĩa.

Muốn phòng thủ Quân khu 2 hiện, nay, Sài Gòn phải giữ Nha Trang, ở đó có cơ sở thứ hai của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, Ban chỉ huy tiếp vận 5, sân bay, hải cảng. Phải có một trung đội giữ đèo Mơ Đrắc, một trung đoàn giữ từ đèo Cả trở vào, một trung đoàn phòng thủ Nha Trang. Nha Trang, Phan Thiết quan trọng hơn Quy Nhơn. Quy Nhơn chỉ quan trọng khi còn Pleiku và Kon Tum. Sư đoàn 23 có thể thành lập lại nhưng sau ba tháng mới được 50 phần trăm số quãn.

Nếu các ông đánh Nha Trang bây giờ thì thuận lợi vì ở đây đang hoang mang. Chỉ cần chú ý hải pháo (chủ yếu là pháo 76 ly, còn 122 ly rất ít). Không quân ở đây hoạt động dễ dàng hơn, nhưng số lượng không nhiều, mỗi ngày chỉ được 30 lần chiếc máy bay F.5 cho toàn miền, còn là máy bay A.37. Tiếp tế đường biển dễ hơn, song tinh thần binh sĩ suy sụp và thế phòng thủ chưa hình thành. Bây giờ, Sài Gòn chỉ còn dựa vào quân dù và thuỷ quân lục chiến. Mà lính dù thì thiếu tin tưởng. Lúc này đánh thiệt hại quân dù hoặc thuỷ quân lục chiến là đánh sụp tinh thần quân lực Sài Gòn”.

Biết Quang từng làm thị trưởng Cam Ranh, ta hỏi về tình hình phòng thủ của địch ở cảng này. Quang khai:

“Cam Ranh chẳng có phòng thủ gì cả. Chỉ có vẻ mạnh bề ngoài thôi. Quân đoàn làm nhà toàn hướng ra phía biển để hóng mát. Với cách đánh của các ông thì đánh là được ngay. Cam Ranh muốn tổ chức phòng thủ lại cũng mất ít nhất là ba tháng. Mà chưa chắc đã tổ chức được vì thiếu nhiều thứ. Từ khi Mỹ rút, túi đựng cát, dây kẽm gài; xi măng, xe cộ đều thiếu. Tình hình này thì dễ vỡ lắm”.

Ta càng thấy rõ địch hơn.

Sáng 11 tháng 3, tôi gửi bức điện sau đây cho đồng chí Võ Nguyên Giáp:

“Gửi đồng chí Chiến,

1. Ta đã hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột. Ta đã chiếm giữ các mục tiêu lớn như Sư đoàn bộ 23, tiểu khu Đắk Lắk, khu thiết giáp và khu sân bay thị xã. Đang truy lùng tàn quân lẩn trốn trong thị xã.

Sơ bộ mới biết: bắt gần 1.000 tù binh. Thu một số lượng lớn chiến lợi phẩm.

Ta đã làm chủ từ Đức Lập đến Đắc Soong. Thu 12 pháo và gần 100 tấn đạn pháo.

2. Đang tiếp tục phát triển để tiêu diệt các mục tiêu chung quanh thị xã: căn cứ Trung đoàn 45, hậu cứ Trung đoàn 53, Buôn Hồ, Buôn Đôn và tăng thêm lực lượng để chiếm giữ vững chắc sân bay Hoà Bình.

3. Ngày 11 tháng 3, Uỷ ban quân quản Đắk Lắk sẽ triển khai công tác. Đề nghị đề bạt quân hàm Đại tá cho đồng chí Y Blốc và cử làm Chủ tịch Uỷ ban quân quản.

4. Căn cứ vào tình hình: địch ở Tây Nguyên tinh thần sa sút, khả năng yếu, cô lập, xét đến lực lượng ta còn sung sức và phấn khởi, hậu cần có khả năng bảo đảm và thời tiết còn thuận lợi, chúng tôi có ý định sơ bộ:

– Vừa củng cố vững chắc Buôn Ma Thuột, sẵn sàng đánh phản kích của địch, vừa phát triển ra chung quanh để hoàn toàn làm chủ tỉnh Đắk Lắk.

Phát triển về phía đông Phú Bổn (có thể tiêu diệt hoặc bao vây) rồi từ đây phát triển ngược lên Pleiku để bao vây cô lập, tiêu diệt Kon Tum. Hướng phát triển về phía nam có thể để chậm lại sau.

Tôi đã trao đổi ý kiến với các đồng chí Đinh Đức Thiện và Lê Ngọc Hiền. Các đồng chí ấy cũng nhất trí.

Đề nghị đồng chí trao đổi ý kiến trong Quân uỷ và báo cáo với Bộ Chính trị, sau đó hướng dẫn cho chúng tôi”.

Cũng trong ngày 11 tháng 3, đồng chí Lê Duẩn nói với một sốcán bộ cơ quan Bộ Tổng Tham mưu:

– Các đồng chí hãy suy nghĩ xem trận Buôn Ma Thuột có phải là trận mở đầu cuộc Tổng tiến công lớn của ta không?

Trận Buôn Ma Thuột là một đòn sét đánh đối với địch. Chúng choáng váng và rối loạn.

Bọn nguỵ ở Sài Gòn muốn giấu trận đại bại này, ra sức cãi rằng Buôn Ma Thuột vẫn còn trong tay chúng. Tên phát ngôn của chúng họp báo: “Bảo Buôn Ma Thuột thất thủ là sai, hoàn toàn sai”. Nhà báo Pháp Pôn Lêăngđri vừa đưa tin về việc ta đã thật sự làm chủ Buôn Ma Thuột liền bị cảnh sát nguỵ gọi đến bắn chết tại sở cảnh sát.

Chúng tôi chủ trương và đề nghị Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chưa cần đưa tin gì ngay về trận Buôn Ma Thuột trên báo và đài của ta, cứ để cho địch ba hoa rồi sau chúng càng chết đứng. Bao giờ ta giải phóng xong cả tỉnh Đắk Lắk thì bấy giờ báo và đài đưa tin cũng không muộn.

Chiều 11 tháng 3, đồng chí Hoàng Minh Thảo ra lệnh cho các đơn vị làm ngay một số việc gấp như diệt nốt các hầm ngầm còn sót lại trong thị xã, tìm kiếm cứu các anh chị em của ta bị địch giam giữ trong nhà lao Buôn Ma Thuột, tiêu diệt các vị trí chung quanh thị xã và xa hơn một chút như Buôn Hồ, Sêrêpốc, Lạc Thiện, Buôn Đôn, Đức Xuyên, Khánh Dương, và đặc biệt là nhanh chóng bố trí lực lượng sẵn sàng đánh quân viện của địch từ phía đông thị xã Buôn Ma Thuột tới. Đồng thời tranh thủ thời gian củng cố tổ chức, bổ sung binh khí kỹ thuật để sẵn sàng làm nhiệm vụ phát triển xa hơn, rộng hơn nữa.

Vấn đề đặt ra ngay lúc bấy giờ cho một người chỉ huy là phải triệt để tận dụng thời cơ đã tạo ra được để gấp rút phát triển thắng lợi. Vì chỉ có phát triển mới củng cố những thắng lợi đã đạt được, lại tạo cơ hội giành thắng lợi mới nhanh hơn, to lớn hơn.

Nhưng phát triển như thế nào, theo hướng nào, với mức độ nào, với lực lượng nào lại là một vấn đề cần suy tính, cân nhắc thật chặt chẽ, kỹ lưỡng. Đây là một cuộc chạy đua với địch, với trời để mở rộng thắng lợi. Ở Tây Nguyên lúc bấy giờ địoh còn một lực lượng lớn chủ lực Quân đoàn 2 và quân địa phương đóng ở Kon Tum, Pleiku. Lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2 còn hai trung đoàn 44, 45 đã bị hao hụt của Sư đoàn 23 đang còn ở Pleiku, toàn bộ Sư đoàn 22 đang phải đối phó với quân ta ở Bình Định và các liên đoàn biệt động quân. Khả năng hiện thực của chúng là có thể cơ động từng trung đoàn đến phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột hoặc tăng cường phòng ngự các vị trí, các thị xã còn lại ở Tây Nguyên, đánh mở các đường giao thông và cố thủ, đợi mùa mưa. Điều cần phải tính đến nữa là địch còn có thể điều động một, hai sư đoàn ở các chiến trường khác đến nếu ở nhưng nơi ấy ta hoạt động yếu.

Ở Tây Nguyên chỉ còn khoảng gần hai tháng nữa là bắt đầu mùa mưa. Đây sẽ là một trở ngại rất lớn đối với hoạt động của bộ đội, nhất là các binh đoàn lớn có trang bị nhiều binh khí, kỹ thuật nặng. Trong khoảng thời gian gần hai tháng đó, ta phải tính đến đánh sao cho gọn, cho nhanh và giữ vững thắng lợi để sau mùa mưa ta đánh tiếp Hoặc là cũng chỉ với thời gian đó, bộ đội ta khí thế ngày càng cao, thực lực ngày càng mạnh, địch ngày càng suy yếu, ta có triển vọng giành ngay thắng lợi vượt mức kế hoạch của năm 1975 và thực hiện luôn cả kế hoạch năm 1976 của Tây Nguyên trước mùa mưa.

Tôi, đồng chí Đinh Đức Thiện, đồng chí Lê Ngọc Hiền và một số đồng chí khác trong Sở chỉ huy bắt đầu trao đổi ý kiến, tính toán về vấn đề này trong tối ngày 11 và sáng ngày 12 tháng 3. Chúng tôi báo cáo về Bộ Chính trị và Bộ Tổng tư lệnh tình hình và những dự kiến hành động của chúng tôi ở Tây Nguyên. Đồng thời đề nghị về Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh đôn đốc Mặt trận Trị Thiên mạnh dạn đánh xuống đường số 1 để phối hợp, giữ địch ở đây không cho chúng điều quân lên Tây Nguyên.

Cũng cần nói rằng mới qua một trận đầu – trận Buôn Ma Thuột – về phía ta, ngoài những tiến bộ vượt bậc làm nên chiến thắng giòn giã đó, ta cũng phát hiện những điểm yếu cần nhanh chóng khắc phục như tác phong lề mề, lối đánh giặc theo kiểu cũ.

Nhưng điều chúng tôi suy nghĩ, tính toán nhiều nhất là: sau trận Buôn Ma Thuột địch trên chiến trường Tây Nguyên sẽ hành động thế nào đây? Địch trên toàn chiến trường miền Nam nói chung sẽ làm gì đây? Mỹ và bọn đầu sỏ nguỵ quân, nguỵ quyền ở Sài Gòn sẽ phản ứng ra sao?

Lúc đó, ở Tây Nguyên, trước cuộc tiến công nhanh, mạnh và lối đánh hiểm của ta, địch đã tan rã nhanh chóng, trong hơn một ngày đêm mất hai đầu não quan trọng: hệ thống chỉ huy lực lượng địa phương của tỉnh Đắk Lắk và cơ quan chỉ huy của Sư đoàn 23 nguỵ. Phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột là điều chắc chắn đối với chúng, nhưng Buôn Ma Thuột đã ở trong tình thế bị cô lập. Các đường bộ đã bị cắt, các sân bay lớn đã bị chiếm thì nếu chúng có đổ quân bằng đường không cũng bị hạn chế, dùng lực lượng cơ động của bản thân Quân đoàn 2 hoặc nếu dùng cả lực lượng tổng dự bị cũng không phải dễ gì chiếm lại được Buôn Ma Thuột, một khi ta đã có lực lượng mạnh bố trí sẵn để đánh quân địch tăng viện tới.

Từ ngày 10 tháng 3, các chiến trường khác của ta ở miền Nam hoạt động phối hợp tích cực, địch cũng phải xem xét toàn bộ các mặt trận để tính liệu có rảnh tay mà tập trung được lực lượng vào Buôn Ma Thuột không? Khó khăn về quân sự của chúng lại đi đôi với những khó khăn về chính trị, tinh thần và kinh tế mà Mỹ, nguỵ đang gặp phải. Viện trợ Mỹ bổ sung chưa chắc đã có. Chính quyền Pho còn có những khó khăn khác ở Trung Đông và ở ngay bản thân nước Mỹ.

Còn ta, ta đã thắng nhanh chóng, dồn dập trong trận Buôn Ma Thuột, gây nên một niềm tin tưởng, phấn khởi rất lớn cho tất cả các đơn vị, các chiến trường. Các đơn vị của ta còn sung sức, lực lượng hậu cần tiêu hao rất ít mà lại còn được bổ sung bằng phần lấy được của địch.

Khi bàn đến tình hình lương thực, đạn dược, đồng chí Đinh Đức Thiện xòe hai bàn tay ra, rồi vui vẻ nói:

– Bỏ một vốn, không phải bốn lời mà đến mười lời rồi đó. Ta còn đủ, còn nhiều, không những đủ dùng cho đến mùa mưa mà còn đủ cho cả mùa khô năm sau. Xe của ta, đạn của ta cũng còn nhiều mà xe, đạn của địch trong kho Mai Hắc Đế ở Buôn Ma Thuột, ta cũng lấy được nhiều. Cứ đánh mạnh nữa, cứ đánh to nữa, và đánh càng nhanh càng tốt.

Vấn đề đặt ra bây giờ là ta phải phát triển thật nhanh, không cho địch kịp đối phó, không cho trời làm trở ngại. Một cuộc chạy đua với địch, với trời bắt đầu từ sáng ngày 12 tháng 3.

Sự suy nghĩ, cân nhắc của chúng tôi trong Sở chỉ huy gặp nhau ở một điểm là sẽ dùng phần lớn lực lượng của chiến dịch phát triển ngược lên phía bắc theo đường số 14, tiêu diệt và giải phóng Pleiku, cô lập Kon Tum.

Để thực hiện kế hoạch phát triển đó, một mặt phải nhanh chóng tiêu diệt số địch còn lại ở phụ cận thị xã Buôn Ma Thuột và giải phóng toàn bộ tỉnh Đắk Lắk, mặt khác, phải sẵn sàng đánh quân viện của địch phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột và giữ vững vùng giải phóng.

Riêng đối với thị xã Buôn Ma Thuột, Uỷ ban quân quản cần sớm ra mắt nhân dân để kêu gọi nguỵ quân, nguỵ quyền ra trình diện, nộp vũ khí, tổ chức phòng không, sơ tán nhân dân, tổ chức chính quyền dưới cơ sở và lực lượng tự vệ cho thị xã, khôi phục ngay những hoạt động để bảo đảm đời sống nhân dân như bệnh viện, trường học, chợ, nhà máy điện, nhà máy nước, các cửa hàng, các xí nghiệp, v.v.

Vấn đề lớn nhất và cấp bách nhất đối với Buôn Ma Thuột lúc bấy giờ là tiếp tế lương thực, thực phẩm cho nhân dân trong thị xã và vùng phụ cận. Một số kho gạo, muối, đồ hộp, thuốc men thu được của địch trong thị xã được phát ngay cho nhân dân.

Chiều ngày 12 tháng 3, tôi nhận được điện của đồng chí Võ Nguyên Giáp cho biết Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương phấn khởi trước thắng lợi to lớn, giòn giã của quân ta, gửi lời nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sỹ, đảng viên, đoàn viên, công nhân viên quốc phòng và nhân dân trên Mặt trận Tây Nguyên. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã họp và nhận định tình hình như sau: kế hoạch chiến lược và chiến dịch do Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đề ra là chính xác. Thắng lợi Buôn Ma Thuột, Đức Lập, trên đường số 19 và ở các hướng khác chứng tỏ ta có khả năng giành thắng lợi to lớn vôi nhịp độ nhanh hơn dự kiến. Điểm nổi bật là tinh thần địch rất sa sút. Trước tình hình đó, cần có tinh thần khẩn trương và mạnh bạo, kịp thời lợi dụng thời cơ mới giành thắng lợi lớn. Các đồng chí Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Võ Nguyên Giáp hoàn toàn nhất trí với chủ trương: ở Buôn Ma Thuột, nhanh chóng tiêu diệt các đơn vị địch còn lại, vừa phát triển ra chung quanh vừa sẵn sàng đánh viện của địch.

Nhanh chóng phát triển về phía Phú Bổn, tiêu diệt sinh lực địch từng vùng. Hình thành ngay thế bao vây Pleiku, tiến đến tiêu diệt địch ở Pleiku. Đối với Kon Tum thì cô lập và tiêu diệt sau. Hướng phát triển về phía nam sẽ làm sau một bước.

Chỉ ít phút sau, chúng tôi lại nhận được điện của Bộ Tổng tư lệnh cho biết: theo tin mới nhất, địch đang có ý định dựa vào các lực lượng còn lại như một bộ phận của Trung đoàn 53, Tiểu đoàn 21 biệt động quân và các điểm phụ cận của Buôn Ma Thuột, nhất là Buôn Hồ và Phước An và điều thêm từ một đến hai trung đoàn chủ lực và biệt động quân cùng với không quân địch tiến hành phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Tại Sở chỉ huy, chúng tôi cũng nhận được thêm tin mới: chiến đoàn 45 cùng Sở chỉ huy cơ bản Sư đoàn 23 nguỵ đã dùng máy bay lên thẳng từ Pleiku đổ bộ xuống Buôn Hồ trưa ngày 11-3 và một chiến đoàn nữa sẽ đổ xuống Phước An trong ngày 12-3. Không quân nguỵ đang được huy động ở mức cao. Vì vậy, việc cấp thiết nhất là tập trung lực lượng của ta, nhanh chóng tiêu diệt các đơn vị và các căn cứ địch ở chung quanh Buôn Ma Thuột, tiêu diệt viện binh của chúng.

Lúc bấy giờ, hai bức điện nói trên đã động viên, cổ vũ chúng tôi rất mạnh. Những nhận định và chủ trương sáng suốt, sự thông cảm, nhất trí giữa lãnh đạo của Trung ương với bộ phận chỉ huy ở chiến trường là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi trên mặt trận. Phấn khởi trước những thắng lợi đã giành được và tin chắc vào những thắng lợi tiếp theo, chúng tôi nhanh chóng triển khai các công tác. Đồng chí Lê Ngọc Hiền đi gặp ngay các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên để trao đổi ý kiến cụ thể thêm về phương hướng phát triển thắng lợi của Chiến dịch. Đồng chí Đinh Đức Thiện rời Sở chỉ huy xuống Cục Hậu cần của Mặt trận và các binh trạm, các kho để kiểm tra, đôn đốc.

Chúng tôi đã tính đến việc di chuyển Sở chỉ huy lên phía trước cho kịp với sự phát triển của tình hình. Cán bộ tham mưu trong Sở chỉ huy vừa theo dõi tình hình trong ngày vừa nghiên cứu đường hành quân, địa hình chung quanh Pleiku và đã dự thảo cách đánh, bố trí binh lực, hoả lực khi đánh Pleiku nhằm tiêu diệt Sở chỉ huy đầu não Quân khu 2 của địch. Mặt khác, chúng tôi cũng đã gọi điện thoại ra Hà Nội yêu cầu cho những dự báo thời tiết tháng 4 và tháng 5 năm 1975 trên vùng Tây Nguyên.

Ngày 12 tháng 3, Thiệu gửi điện cho Tư lệnh Quân khu 2 của hắn: “Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào, trách nhiệm chỉ huy thống nhất cả mặt trận này do Tư lệnh Sư đoàn 23 đảm trách”. Đến hết ngày 13-3, địch vẫn chưa thừa nhận việc ta đã giải phóng Buôn Ma Thuột. Các đài và hãng tin của thế giới phương Tây cũng còn nói mù mờ, lấp lửng. Quân đoàn 2 địch đang tự mình tìm cách đối phó.

Máy bay A.37 từng tốp ném bom thị xã Buôn Ma Thuột và máy bay trinh sát địch lượn ở vùng phía đông thị xã.

Đúng như ta dự kiến, Trung đoàn 45 thuộc Sư đoàn 23 nguỵ đã được vận chuyển bằng máy bay lên thẳng từ Pleiku đến đổ bộ xuống phía đông thị xã Buôn Ma Thuột, vùng Phước An, nơi ta đã bố trí sẵn lực lượng để tiêu diệt chúng.

Một trận đánh then chốt nữa ở Tây Nguyên sắp bắt đầu.

Hết: Chương 6, xem tiếp: Chương 7

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 7

Đập tan cuộc phản kích

Từ trưa ngày 11 đến rạng sáng ngày 14 tháng 3, không khí Sở chỉ huy Mặt trận của ta nhộn nhịp, căng thẳng, nhưng đầy phấn khởi. Tin tức từ các đơn vị của ta và tin trinh sát kỹ thuật liên tục dồn dập báo về. Việc chạy đua với địch thật sự đã bắt đầu khi tiếng súng vừa dứt trong thị xã Buôn Ma Thuột. Tiếng súng tiến công của quân ta lan nhanh trên đường số 14, ở Buôn Hồ, Buôn Đôn, Đạt Lý, căn cứ Trung đoàn 53, hậu cứ Trung đoàn 45 của địch, v.v. Binh khí kỹ thuật của ta lúc này đã toả ra, hướng về các mục tiêu chung quanh Buôn Ma Thuột.

Sư đoàn 320 phái một lực lượng theo đường số 14 đánh xuống phía nam đường, giải phóng quận lỵ Buôn Hồ, đuổi địch chạy về Đạt Lý và một lực lượng khác đánh lên phía bắc đến giáp cầu I-a Leo, làm chủ vững chắc đường số 14 trên một đoạn dài 80km. Sư đoàn 10 được điều động phát triển về hướng đông Buôn Ma Thuột, triển khai một thế đứng tốt, sẵn sàng đón đánh viện binh địch đến giải toả Buôn Ma Thuột. Trưa ngày 12-3 ta đã hình thành thế bao vây chi khu và quận lỵ Phước An. Tên chỉ huy chi khu nguỵ bỏ chạy với bọn cảnh sát.

Các đơn vị của Sư đoàn 316 và Trung đoàn 95 B đã quét sạch địch trong các hầm ngầm ở thị xã, giải phóng anh chị em của ta bị địch giam trong nhà lao Buôn Ma Thuột, tiến sang chiếm khu vực trường huấn luyện của Sư đoàn 23, lùng bắt một số tàn binh dạt về các rừng cao su ở phía tây thị xã và gọi hàng các toán dân vệ và các trung đội quân địa phương của địch. Bộ đội đặc công bám chắc sân bay Hoà Bình, đánh lui các đơn vị từ căn cứ Trung đoàn 53 sang hòng chiếm lại sân bay. Các cụm pháo tầm xa của ta đã đo lại các phần tử bắn ở phía đông thị xã và quanh sân bay Hoà Bình. Các cụm cao xạ dồn đội hình về phía đông thị xã sẵn sàng đánh quân đổ bộ đường không của địch.

Các phân đội xe tăng, xe bọc thép của ta đã vào các vị trí tập kết và chuẩn bị các đường xuất kích mới dọc theo trục đường Buôn Ma Thuột – Lạc Thiện – Phước An.

Trong thị xã, sau khi im tiếng súng, nhân dân tích cực đào hầm phòng không, hoặc sơ tán ra chung quanh thị xã.

Các đội quân cảnh được thành lập, hướng dẫn nhân dân sơ tán về phía tây thị xã và bịt chặt các ngả đường chạy về phía đông, bắt giữ những tên phản động ngoan cố định chạy trốn. Ta cấp phát gạo, muối cho những gia đình nghèo trước khi sơ tán. Các lưới lửa cao xạ của ta trùm lên thị xã, đánh trả quyết liệt máy bay địch đến ném bom hoặc trinh sát.

Địch trong phạm vi tỉnh Đắk Lắk như rắn mất đầu. Ở Buôn Đôn, đại bộ phận lính nguỵ ra hàng, một số bỏ vị trí chạy trốn. Tên trung tá nguỵ, chỉ huy hậu cứ Trung đoàn 45 nguỵ phải chỉ huy cả quân của hắn và tàn quân của Trung đoàn 53. Tên chỉ huy Trung đoàn 53 nguỵ đánh điện cầu cứu cấp trên, đề nghị ném bom cháy vào đội hình của ta thì chúng mới chạy thoát.

Trên đường phát triển ra chung quanh Buôn Ma Thuột, quân ta bắt gạp các tốp địch ra hàng, thu xe cộ và nhiều khẩu pháo 105 milimét của địch. rừng tốp máy bay A.37 lại đến ném bom Buôn Ma Thuột và máy bay trinh sát địch tăng cường hoạt động trên vùng trời Phước An và sân bay Hoà Bình.

Tại Sở chỉ huy của ta, bản đồ công tác được ghi chi chít những vòng tròn với hai gạch chéo màu đỏ là ký hiệu quân ta tiêu diệt và làm chủ các mục tiêu, những mũi tên màu đỏ chỉ đường tiến quân của các đơn vị, các mũi tên màu xanh chỉ đường rút chạy của địch trong các khu rừng lân cận.

Máy điện thoại reo vang, giục giã. Người nghe tuy rất tập trung tư tưởng vẫn không nén được những tiếng cười vui khi nhận tin chiến thắng từ các nơi báo về. Các đồng chí phục vụ trong Sở chỉ huy, lặng lẽ làm công việc của mình, chân bước nhẹ nhàng và trìu mến đưa cho các cán bộ tham mưu đang nghe điện thoại những điếu thuốc lá từ hậu phương gửi vào.

Mới đầu mùa xuân, rừng khoọc Tây Nguyên chưa kịp thay lá, nắng trưa càng oi bức. Tiếng côn trùng đủ loại, tiếng chim công tố hộ bên cạnh nhà hoà lẫn tiếng pháo nổ vọng từ xa, tiếng vo vo của máy bay trinh sát OV-10 lượn tìm mục tiêu và tiếng “Alô? ZA 75 đây!” của Sở chỉ huy.

Trưa ngày 12 tháng 3, giữa lúc khẩn trương nhất của trận đánh quân địch phản kích, các đường dây điện thoại của Sở chỉ huy đứt đồng loạt. Không có tiếng bom, không có tiếng máy bay. Gọi mãi đầu dây bên kia vẫn không có tiếng trả lời. Các đồng chí chỉ huy đều ngừng việc lại, lắc đầu nhìn nhau im lặng. Đồng chí cán bộ thông tin bật dậy vụt chạy ra khỏi nhà hầm để tìm nguyên nhân. Cùng lúc có tiếng rống của một đàn voi, ngày càng to dần, cách Sở chỉ huy khoảng 300 mét.

Thì ra đàn voi kinh động bom đạn ở chiến trường đã “di tản” băng qua Sở chỉ huy của ta, đi về phía biên giới Việt Nam – Campuchia. Lập tức, đơn vị bảo vệ Sở chỉ huy được phái đi cản đàn voi rừng “thiếu ý thức”. Nhưng có lệnh không được nổ súng bắn chết voi, giữ kỷ luật bảo vệ thú rừng quý, không trêu tức chúng để chúng không quần nát Sở chỉ huy. Tất cả mọi người được lệnh nếu cần thì tụt xuống hầm kèo chữ A để tránh.

May quá, đàn voi rừng đã vượt qua bên cạnh Sở chỉ huy, quân ta thì “án binh bất động”. Chỉ khổ cho mấy đồng chí thông tin đi nối dây điện thoại, không những dây bị đứt mà còn mất từng đoạn dài do voi quấn lôi đi theo.

Trong những đêm 12 và 13, chúng tôi thay phiên nhau ngủ, các đồng chí cán bộ trực ban thay phiên nhau theo dõi tình hình. Rừng đêm có lúc thật yên tĩnh nhưng không thể nào ngủ được lâu và yên giấc, trằn trọc suy nghĩ từ vấn đề này sang vấn đề khác cho đến lúc thiếp đi chốc lát, rồi tiếng “A-lô” điện thoại ở hầm trực ban vọng đến, tiếng nai giác bên suối, tiếng chân đi vội của đồng chí trực ban đến báo cáo.

Ngày 12 tháng 3, một bức điện hoả tốc từ Hà Nội gửi vào Các đồng chí cơ yếu mã dịch được đoạn nào thì đưa ngay cho tôi xem đoạn ấy. Đồng chí Võ Nguyên Giáp truyền đạt cho tôi ý kiến của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương sau khi đã đọc điện báo cáo của tôi.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương báo cho biết các chiến trường khác bắt đầu phối hợp tốt và dặn chúng tôi kiểm tra, đôn đốc việc tiêu diệt các đơn vị địch đến phản kích, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch trong khu vực Buôn Ma Thuột và phụ cận, nhanh chóng bao vây Phú Bổn.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương dự kiến là nếu địch bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn, thị xã Buôn Ma Thuột và nhiều quận lỵ khác bị mất, đường số 19 bị cắt thì lực lượng địch còn lại ở Tây Nguyên sẽ cụm lại ở Pleiku và cũng có thể chúng buộc phải rút lui chiến lược, bỏ Tây Nguyên. Do đó, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị cần hình thành ngay việc bao vây Pleiku, triệt cả đường bộ lẫn đường không của địch, chuẩn bị tốt việc tiêu diệt địch trong cả hai tình huống.

Như vậy là Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã sớm dự kiến một cuộc rút lui chiến lược của địch ở Tây Nguyên. Và thế chiến dịch đã cài trước ngày nổ súng đánh Buôn Ma Thuột cũng đã tính đến việc tăng cường lên cứu Tây Nguyên cũng như không cho địch rút chạy khỏi Tây Nguyền một cách dễ dàng.

Từng đợt máy bay lên thẳng của địch tiếp tục đổ quân xuống vùng Phước An và phía tây sân bay Hoà Bình.

Trung đoàn 44, một bộ phận của Trung đoàn 45 cộng với tàn quân của Trung đoàn 53 chạy về đây đã trải qua những giờ phút hãi hùng nhất đối với chúng.

Chưa xuống đến đất, chúng đã run sợ trước làn đạn các loại súng cao xạ bắn lên và nhìn thấy đồng bọn bị bắn rơi chung quanh. Đặt chân xuống đất chưa kịp chấn chỉnh đội hình chúng đã chạy tán loạn để tránh các loạt đạn pháo của ta giội xuống và súng bắn thẳng của bộ binh ta.

Chúng khiếp sợ nhất khi trông thấy xe tăng, xe bọc thép của ta xuất kích xông vào đội hình của chúng.

Các đơn vị đổ bộ đường không của địch lần lượt bị diệt, số còn lại chạy tan tác, lẫn lộn vào nhau và dắt díu nhau lùi dần về phía đường số 21. Trên đường rút chạy, quân địch kéo theo bọn nguỵ quân, nguỵ quyền địa phương và biệt động quân, để lại nhiều xe, pháo, súng đạn.

Các đơn vị của ta chuyển sang truy kích địch bằng xe cơ giới cứ theo đường cái vượt lên trước đội hình rút chạy của chúng và lập các chốt chặn đón dọc đường để bắt bọn tàn quân. Cán bộ tham mưu quân báo và tác chiến lúc này cũng gặp khó khăn trong việc ghi lên bản đồ các phiên hiệu của địch vì, trên chiến trường đội hình địch rút lộn xộn, trong không trung điện đài của địch phát loạn xạ; không phân biệt được đơn vị nào kêu cứu, kẻ nào đến cứu, mầy bay địch từng tốp bay lượn trên cao không yểm trợ được cho quân địch dưới đất.

Sáng sớm ngày 14 tháng 3, qua báo cáo tổng hợp của đồng chí trực ban trong đêm, chúng tôi kết luận: chủ lực của Sư đoàn 23 nguỵ gồm Trung đoàn 44, Trung đoàn 45 ở phía đông Buôn Ma Thuột đã bị tiêu diệt qua hai ngày tác chiến. Số tàn quân của Trung đoàn 58 và Liên đoàn biệt động quân số 21 cũng chịu chung số phận. Cuộc phản kích của Quân đoàn 2 địch ở Tây Nguyên đã bị đập tan. Địch lại bị lún sâu vào thế bị động và thất bại thêm một bước.

Ta tiếp tục phát triển theo kế hoạch đã có và được Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đồng ý. Ngày 14-3, sau khi trao đổi ý kiến với các đồng chí tham mưu trong Sở chỉ huy, tôi gửi đi bức điện báo cáo với Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương là đã nhận đủ các điện, rất phấn khởi về ý định và chủ trương phát triển chiến dịch của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương. Chúng tôi hứa sẽ nỗ lực tổ chức thực hiện tốt để đạt yêu cầu của trên là rút ngắn thời gian giành thắng lợi vượt mức kế hoạch đề ra, hoàn thành kế hoạch của Tây Nguyên dự kiến năm 1976 trong vòng vài ba tháng của năm 1975.

Chúng tôi báo cáo về những ngày đầu của chiến dịch để Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nắm thêm được tình hình, nêu lên việc điều khiển địch theo ý định của ta, làm cho chúng nhận định sai về hướng tiến công chủ yếu rồi tiếp tục củng cố nhận định sai đó của chúng cho đến lúc ta tiến công vào hướng chủ yếu để giữ được bất ngờ chiến dịch.

Từ ngày 1-3 đến ngày 9-3-1975, trước khi tiến công vào Buôn Ma Thuột, ta triển khai thế chiến dịch, thu hút sự chú ý của địch về hướng Kon Tum, Pleiku, cắt các đường, cô lập mục tiêu chủ yếu nên lúc ta sắp nổ súng đánh vào Buôn Ma Thuột, địch mới biết. Chúng báo động và muốn tăng cường lực lượng nhưng không kịp nữa, lực lượng đã bị căng giữ ở các nơi khác.

Cách đánh vào các mục tiêu chủ yếu của thị xã Buôn Ma Thuột là cách đánh phối hợp hiệp đồng binh chủng trên bốn cánh kết hợp với các đơn vị tinh nhuệ và các tiểu đoàn bộ binh bí mật tiến vào bố trí sẵn, bỏ qua các đồn bốt ngoại vi Buôn Ma Thuột, dùng binh lực cơ giới hoá theo các trục đường lớn với tốc độ cao đánh thẳng vào trong thị xã nhằm đập vỡ ngay hai đầu não chỉ huy của địch là Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 và Sở chỉ huy tiểu khu.

Từ hướng nam, ta dùng hai tiểu đoàn bộ binh bí mật bố trí sẵn, một đánh vào Sư đoàn bộ Sư đoàn 23, một đánh vào Sở chỉ huy tiểu khu cùng một lúc với hai cánh quân khác từ hướng tây và đông bắc, mỗi cánh có bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ đi cùng thọc vào trung tâm thị xã. Ngoàị ra còn tổ chức một mũi nhọn gồm một tiểu đoàn bộ binh và một đại đội xe tăng, từ hướng tây nam cùng một lúc đánh vào mục tiêu chủ yếu. Ta dùng đại đội bộ binh ngồi xe bọc thép đi cùng với đại đội xe tăng, còn hai đại đội bộ binh khác thì đã bí mật đưa vào bố trí sẵn cách mục tiêu chủ yếu là Sư đoàn bộ Sư đoàn 23 khoảng 2km, đợi xe tăng tiến vào hợp thành một mũi nhọn toàn tiểu đoàn bộ binh có xe tăng, thiết giáp đánh ngay vào mục tiêu chủ yếu đúng lúc pháo binh ta vừa chuyển làn. Địch không kịp trở tay và không thể chỉ huy các lực lượng khác.

Trận Buôn Ma Thuột thắng lợi nhanh thể hiện một lối đánh táo bạo, bất ngờ. Lối đánh này đòi hỏi việc tổ chức hợp đồng phải thật tốt, vì rất phức tạp. Ta đã cố gắng thực hiện được. Nhưng khi đánh địch tan vỡ rồi thì ở một số đơn vị và từng lúc bộc lộ những mặt yếu mà ta cần nhanh chóng khắc phục. Từ nhận thức đến cung cách làm ăn đều chưa tiến kịp trong điều kiện và yêu cầu mới vẫn còn vướng mắc kiểu cũ, họp hành nhiều và kéo dài. Người đứng quyết đoán và tổ chức hành động mau lẹ chưa nổi hật lên. Có tình trạng không nắm chắc bộ đội, có máy vô tuyến điện thoại mà không dùng, cứ lách cách kéo đường dây điện thoại; có xe lấy được của địch, có tù binh biết lái xe cũng không dám dùng để cơ động bộ đội mà vẫn cứ lẽo dẽo đi bộ. Địch đang rối loạn, tan rã không như địch đã có tổ chức, chuẩn bị sẵn phòng ngự đợi ta, nhưng khi đánh vẫn đòi đủ bài bản, phải chuẩn bị từ đêm đợi sáng mới đánh. Không quân địch đánh có hạn và bay cao, thả bom toạ độ thiếu chính xác nhưng vẫn không cho bộ đội vận động ban ngày, để chờ đợi, chậm trễ, bỏ phí thời giờ.

Những vấn đề này phải nhiều lần nhắc đi nhắc lại và đang được khắc phục.

Vấn đề vỡ ra to quá, nhanh quá, thời cơ để giành nhiều thắng lợi mới xuất hiện ngày càng nhiều. Một số cấp uỷ địa phương thì hiện nay còn lúng túng trước toàn bộ công tác phải làm của mình. Nếp suy nghĩ, tổ chức, tác phong cũ mâu thuẫn với yêu cầu của sự phát triển tình hình mới lá làm ăn với quy mô lớn hơn và nhanh chóng hơn.

Đây không phải là tình hình chỉ có ở Tây Nguyên mà còn có thể có ở các chiến trường khác. Nó xuất phát từ việc đánh giá địch, từ nếp suy nghĩ và cung cách làm ăn chưa phù hợp với điều kiện mới. Lúc này cần phải nhanh, cơ động, linh hoạt, tranh thủ thời gian đi đôi với nâng cao năng lực tổ chức, chỉ huy, với tính quả đoán, chịu trách nhiệm của người thủ trưởng đã được phân công, dám làm, dám chịu trách nhiệm, chứ không phải “cả làng” chịu trách nhiệm. Sau chiến dịch này, anh em cản bộ và bộ đội Tây Nguyên sẽ trưởng thành một bước lớn trong hoàn cảnh tác chiến mới.

Ta cần dành thêm thời giờ huấn luyện cho bộ đội cách xử trí cơ động, linh hoạt; bồi dưỡng năng lực tổ chức và chỉ huy chiến đấu khẩn trương, liên tục; huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ biết lái các loại xe của địch, biết dùng vô tuyến đlện thoại của ta, của địch; các binh chủng học sử dụng binh khí, kỹ thuật và phương tiện của địch, sắp tới phải chú trọng rất nhiều đến việc lấy trang bị của địch để đánh địch.

Chúng tôi nhất trí với các bước tuyên truyền nêu ra trong điện của đồng chí Võ Nguyên Giáp vì địch đang tìm cách giấu giếm, lừa bịp thông tin, ta có một số việc cần làm cho kịp và chu đáo. Giải phóng xong tỉnh Đắk Lắk, về cơ bản ta có thể đưa tin trên báo và đài phát thanh, khi đưa tin thì đưa luôn cả bản tuyên bố của Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh Đắk Lắk, thành phần của Uỷ ban, kết quả chiến đấu và lời khai của bọn tù binh.

Hết: Chương 7, xem tiếp: Chương 8

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 8

Bước ngoặt của chiến tranh

Ngày 15-3-1975, tôi nhận được điện trả lời của Bộ Chính trị do đồng chí Lê Đức Thọ ký và của Quân uỷ Trung ương do đồng chí Võ Nguyên Giáp ký.

Trong cuộc họp ở Hà Nội, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã đọc kỹ bức điện từ mặt trận gửi về ngày 14 tháng 3, nhất trí với nhận định và chấp thuận các đề nghị của chúng tôi. Những phần nói về kinh nghiệm nghi binh lừa địch, cách đánh, cách huấn luyện cán bộ, chiến sĩ biết sử dụng binh khí kỹ thuật lấy được của địch, những điểm yếu về tác phong chỉ huy đã được Quân uỷ Trung ương giao cho Bộ Tổng Tham mưu phổ biến gấp tới các chiến trường khác.

Những đề nghị về việc phối hợp chiến trường được Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chuyển thành chỉ thị gửi đến các quân khu để chấp hành.

Sau khi nhận được điện của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, căn cứ vào tình hình mới nhất ở Tây Nguyên, chúng tôi họp bàn thực ltiện kế hoạch phát triển lên phía bắc. Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên rất nhất trí với kế hoạch đã đề ra và quyết tập trung mọi cố gắng để thực hiện cho được vì bao nhiêu năm đánh Mỹ ở chiến trường Tây Nguyên này, các đồng chí phấn khởi hơn ai hết trước những thắng lợi vừa qua và tin tưởng vào những thắng lợi sắp đến. Trong những năm 1968, 1972, ta cũng đánh lớn ở Tây Nguyên, nhưng thắng lợi chưa giòn giã, chưa to lớn như năm nay. Lực lượng ta hồi đó chưa mạnh bằng bây giờ, các cơ sở hậu cần bảo đảm và hệ thống đường sá lại chưa đầy đủ. Địch lúc bấy giờ còn dựa vào sự chi viện hoả lực và hậu cần rất mạnh của Mỹ, còn rảnh tay nơi khác để tập trung đối phó ở Tấy Nguyên. Bây giờ, triển vọng ta giải phóng Tây Nguyên đã rõ ràng, làm tốt, làm nhanh thì có thể xong trước mùa mưa năm 1975. Do đó, các đồng chí thấy rõ trách nhiệm của mình đối với toàn cục lớn quá, vinh dự quá, cũng như nghĩ đến triển vọng trước mắt thì phấn chấn và tự hào vô cùng.

Đồng chí Hoàng Minh Thảo thường tâm sự với chúng tôi: “Cách mạng miền Nam giành được thắng lợi cho đến ngày nay, ngoài những nguyên nhân quan trọng và quyết định khác, còn có một nguyên nhân là do ta đã làm chủ một phần Tây Nguyên, và đồng bào Tây Nguyên anh hùng, bất khuất đã đóng góp công sức rất lớn cho thắng lợi cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tôi mong ngày mong đêm giải phóng hoàn toàn được Tây Nguyên để đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sớm được tự do và thoát khỏi cảnh nghèo đói, khổ cực”.

Trong ngày 15 và sáng ngày 16 tháng 3, chúng tôi nhận được một số tin kỹ thuật và một vài bài bình luận ngắn của các đài phương Tây, tuy lẻ tẻ, vụn vặt nhưng rất quan trọng đối với việc nhận định tình hình địch lúc bấy giờ ở Tây nguyên.

Thí dụ, một hãng thông tấn Mỹ đưa tin giá vé máy bay ngày 15 tháng 3 từ Pleiku đi Sài Gòn lên đến 40.000 đồng. Tại sao người ta lại xô nhau mua vé đi Sài Gòn trong ngày 15 tháng 3? Trưa ngày 16 tháng 3, ta bắt được tin của không quân địch cất cánh ở Pleiku gọi nhau về hạ cánh ở Nha Trang. Tại sao máy bay địch cất cánh một nơi, hạ cánh nơi khác xa hơn mà sáng ngày 16 tháng 3 thì ta lại chưa pháo kích mạnh vào sân bay Pleiku? 15 giờ ngày 16 tháng 3, Hà Nội gọi điện báo cho chúng tôi biết là Sở chỉ huy tiền phương của Quân đoàn 2 nguỵ và lãnh sự Mỹ đã chuyển về Nha Trang. 16 giờ cùng ngày, một tin từ Thuần Mẫn báo về là đài quan sát của ta ở cầu I-a Leo nhìn thấy ở ngã ba Mỹ Thanh một đoàn xe dài đang chạy về hướng Phú Bổn.

Đối với chúng tôi lúc đó, khu vực Buôn Ma Thuột vẫn chưa rời mắt khi đọc bản đồ, nhưng khu vực Pleiku, Kon Tum, đường số 14, đường số 19 lại bắt đầu được đặc biệt chú ý. Tin tức gì liên quan đến Pleiku, đến Quân đoàn 2 nguỵ, đến các con đường chiến lược đối với đồng bằng đều rất được quan tâm.

Khoảng 19 giờ ngày 16 tháng 3, sau khi nhận được các tin kể trên, trong Sở chỉ huy có một cuộc tranh luận sôi nổi giữa các đồng chí cán bộ tham mưu. Tuy chưa kết luận, chưa khẳng định nhưng ai nấy đều cảm thấy là địch ở Tây Nguyên đang làm một cái gì đấy sau hai đòn thất bại đau đớn liên tiếp ở Buôn Ma Thuột và trong cuộc phản kích của Sư đoàn 23.

Có đồng chí nêu lên khả năng là địch tập trung số quân ở Tây Nguyên còn lại về Nha Trang rồi cùng với quân tổng dự bị chiến lược phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột theo đường số 21.

Một đồng chí khác lại cho rằng: điện của Quân uỷ Trung ương nêu ba điểm. Điểm 1 là có khả năng địch tăng cường phản kích; Điểm 2 là nếu bị đánh thì chúng co cụm về Pleiku, ta cần hình thành lực lượng bao vây Pleiku ngay; Điểm 3 nói đến dự tính việc rút lui chiến lược của địch. Vậy những tin tức ta nhận được hôm nay cho thấy là địch có thể tăng quân để phản kích mà cũng có thể rút về Nha Trang.

Và nếu địch rút thì rút cả Quân đoàn hay chỉ có Bộ Tư lệnh Quân đoàn chạy về chỗ an toàn? Nếu rút thì rút bằng cách gì, theo đường nào? Nếu đi theo đường số 21 phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột thì có dễ đâu! Gặp quân thua trận đang chạy trên đường số 21 về Nha Trang cũng đủ làm cho bọn phản kích mất tinh thần rồi.

Mấy đồng chí khác thì thiên về ý kiến cho rằng địch rút chạy vì trong điện của Quân uỷ Trung ương nêu lên ba khả năng, nhưng thực tế đến lúc này thì việc đánh quân phản kích ta đã làm và sẵn sàng sẽ làm tiếp, ta lại đang bàn việc chuẩn bị chuyển lực lượng lên bao vây và diệt địch ở Pleiku, cũng có thể sau hai trận đại bại vừa rồi địch đau quá, không tăng viện lên được, cảm thấy trước sau cũng bị tiêu diệt cho nên không có cách gì hơn là phải bỏ chạy khỏi Tây Nguyên. Vậy ta phải làm cho tốt cả hai việc, tức là một mặt tiêu diệt cho nhanh quân phản kích, mặt khác, chuẩn bị gấp cho việc triển khai lực lượng nhanh chóng lên bao vây Pleiku. Nếu địch rút chạy thì thế chiến dịch của ta đã cài sẵn rồi, các đường chiến lược đã bị cắt, địch lên không được mà xuống cũng không xong.

Chúng tôi suy nghĩ nhiều về những mẩu tin kể trên và chú ý lắng nghe cuộc tranh luận. Đúng là Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã dự kiến cả ba khả năng và chúng tôi đã triển khai thế chiến dịch như sau: diệt Buôn Ma Thuột xong thì sẵn sàng diệt viện, không phải một lần mà nhiều lần, không phải chỉ đánh với Quân đoàn 2 nguỵ mà tính cả việc đánh với quân tổng dự bị của Sài Gòn phái đến bằng đổ bộ đường không, vì các đường chiến lược số 19, số 14, số 21 đều đã bị ta cắt và chốt chặn vững chắc, không cho địch lên mà cũng không cho chúng rút.

Bây giờ tình huống có thể chuyển biến rất nhanh vì địch từ chỗ chủ quan bị hoàn toàn bất ngờ lúc đầu, sau hai trận thua đau có thể đi đến hốt hoảng và có những chủ trương sai lầm lớn hơn. Nếu chúng tăng thêm quân để phản kích thì càng khó khăn, sa lầy và sẽ bị diệt nhiều nữa mà rút chạy thì càng chết, càng xuơng dốc.

Tin tức còn quá ít nhưng cũng hé ra được nhiều căn cứ để suy nghĩ và hành động.

Chúng tôi cho kiểm tra lại các hệ thống thông tin, các đài thu tin của địch, gọi về Hà Nội hỏi thêm tình hình chung trên toàn chiến trường, cho mở đài thu thanh nghe các bản tin trong ngày của các đài trên thế giới; đôn đốc Bộ Tư lệnh Tây Nguyên nắm chắc tình hình của các trung đoàn 95, 25, các sư đoàn 320, 10 trên các đường số 19, số 14 và số 21, và phải sẵn sàng tăng cường lực lượng cho Trung đoàn 25 ở đường số 21.

21 giờ ngày 16 tháng 3, đồng chí trực ban nhận được tin là địch đang rút chạy khỏi Pleiku, một đoàn xe đã qua ngã ba Mỹ Thanh theo hướng đường số 7, kho đạn ở Pleiku đang nổ và có nhiều đám cháy trong thị xã.

Sở chỉ huy nhộn nhịp hẳn lên.

Bản đồ mạng đường sá Tây Nguyên được trải rộng ra trên bàn, đèn pin, kính phóng đại soi dọc theo các con đường số 19, số 14, số 7 để tìm các “nút chặn”, các đường vòng, các đường xuất kích, đo cự ly giữa đơn vị gần nhất với đường số 7 để tính giờ vận động.

Tôi cầm máy điện thoại nói chuyện trực tiếp với đồng chí Kim Tuấn lúc đó là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320.

Trước khi đánh Buôn Ma Thuột, tôi đã mấy lần hỏi về con đường số 7 thì được báo cáo là đường số 7 bỏ từ lâu, cầu hỏng, không có phà qua sông, địch không đi lại. Cách đây hai ngày tôi lại hỏi đồng chí Kim Tuấn về con đường này, đồng chí Tuấn cũng trả lời như vậy.

Bây giờ nghe tin địch rút theo đường số 7 mà đơn vị vẫn chưa nắm được con đường đó một cách cụ thể, chưa khẩn trương đuổi địch, cho nên tôi đã nói rất nghiêm khắc với người phụ trách cao nhất của đơn vị đó. Tôi nhấn mạnh hai lần với đồng chí Kim Tuấn: “Đó là một thiếu sót, một sơ hở đáng khiển trách. Lúc này do dự một chút, sơ hở một chút, ngại khó một chút, chậm trễ một chút là hỏng việc. Nếu để địch chạy thoát là một tội lớn mà đồng chí là người chịu trách nhiệm”.

Trong những lúc này, tôi không muốn cấp dưới trình bày những lý do này nọ để thiếu cố gắng mà chỉ muốn cấp dưới hoàn thành được nhiệm vụ của mình một cách nghiêm túc và trọn vẹn nhất.

Đã cùng nhau tham gia nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch, gặp những tình huống phức tạp và khẩn trương nhất, là Tư lệnh, tôi có những đòi hỏi nghiêm khắc đối với anh em và anh em cũng hiểu được tôi cho nên có lệnh rồi là các đồng chí kiên quyết thực hiện và thường là thành công.

Buông máy điện thoại ra, trong ký ức tôi hiện lên nhiều hình ảnh rút chạy của địch trong cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ: cảnh tháo chạy của Sáctông và Lơpagiơ trên đường số 4 hồi Chiến dịch Giải phóng Biên giới, cảnh tháo chạy của Trung đoàn thuỷ quân lục chiến Mỹ ở Khe Sanh năm 1968, của Sư đoàn 1, các lữ đoàn dù và lữ thuỷ quân lục chiến nguỵ ở Đường 9-Nam Lào năm 1971, của Sư đoàn 3 nguỵ ở Quảng Trị năm 1972. Địch đã nhiều phen rút chạy trước sức tiến công của ta và thường áp dụng những thủ đoạn nghi binh khác nhau khi rút.

Nhưng giờ đây, cả một quân đoàn chủ lực của nguỵ rút chạy hộc tốc, bỏ cả Tây Nguyên – một địa bàn chiến lược rất quan trọng thì vì sao? Theo lệnh ai? Hai đòn sấm sét ta đánh ở nam Tây Nguyên đã làm rung động quân địch đến thế kia ư? Đúng là đòn đánh trúng huyệt, địch bắt đầu ngấm, chỉ sau có mấy ngày. Đúng là địch đã choáng váng và rối loạn về chiến lược. Lại một sai lầm nữa rất lớn về chiến lược của chúng.

Lệnh rút Quân đoàn 2 phải do nguỵ quyền trung ương ở Sài Gòn phát ra, vậy thì vấn, đề đã vượt quá phạm vi chiến dịch và lên tới tầm chiến lược.

Lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương, trong phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch được trang bị hiện đại đã phải bỏ địa bàn chiến lược quan trọng rút chạy. Tình hình này sẽ dẫn đến nhiều sự kiện quan trọng khác, có thể dẫn đến việc ta kết thúc thắng lợi nhanh chóng cuộc chiến tranh.

Địch không dễ gì khoanh gọn vấn đề này được. Sự kiện này sẽ gây phản ứng dây chuyền cả về quân sự và chính trị, sẽ đụng đến cả Mỹ. Mỹ cũng không gỡ nổi cái rối loạn này.

Thời cơ lớn bắt đầu từ đây rồi. Muốn nắm chắc thời cơ, trước mắt phải tiêu diệt bằng được quân địch rút chạy, phải diệt chúng ngay trên chiến trường Tây Nguyên, không để chúng thoát về đồng bằng. Phải diệt cho nhanh, cho gọn để thúc đẩy sớm quá trình chuyển biến cục diện chiến tranh.

Nhớ lại chuyện đã qua và suy nghĩ chuyện hiện tại, chúng tôi vừa mừng vừa sốt ruột.

Suốt đêm 16 tháng 3, chúng tôi đôn đốc Sư đoàn 320 hành động khẩn trương, ra lệnh cho Bộ chỉ huy Tây Nguyên huy động thêm xe bọc thép, xe vận tải, thêm pháo và vật chất để bảo đảm cho Sư đoàn 320 truy kích tiêu diệt địch. Đồng thời, lệnh cho Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 5 ở Bình Định điều động bộ đội địa phương Phú Yên lên chốt đường số 7, không cho địch chạy thoát về Tuy Hoà. Sư đoàn 968 cũng được lệnh tiến nhanh vào Pleiku, vượt qua các vị trí dọc đường để bám sát đội hình rút chạy của địch và từ phía sau đánh tới. Bộ Tư lệnh 559 cho Sư đoàn 470 công binh tiến vào tiếp quản Kon Tum – Pleiku, dập tắt các đám cháy, đón nhân dân ra vùng an toàn, tiếp quản các kho tàng của địch để lại.

Từ khi ra lệnh cho đến lúc các đơn vị thực hiện được lệnh đó, nhất là lệnh truy kích tiêu diệt địch rút chạy, chúng tôi rất sốt ruột, mong tin và cảm thấy thời gian trôi chậm quá.

Thực tế thì Sư đoàn 320, sau khi nhận lệnh, đã hành quân cấp tốc trong đêm 16 tháng 3. Sáng 17 tháng 3, một đơn vị đã nhanh chóng băng rừng ra cắt đường số 7, chặn được quân địch ở phía đông Phú Bổn. Địch ùn lại ở cả phía tây và phía đông Phú Bổn.

Ngày 18 tháng 3, lực lượng lớn của ta đuổi kịp địch, tiến vào giải phóng thị xã Phú Bổn, tiêu diệt số quân địch bị ùn ở đây và tiếp tục đánh xuống Củng Sơn. Trong lúc đó hai tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Yên tiến ra cắt cầu Sơn Hoà và cùng với Sư đoàn 320 tiến vào giải phóng Củng Sơn.

Quân địch hoảng loạn tan rã, bị tiêu diệt gần hết 6 liên đoàn biệt động quân, 3 trung đoàn thiết giáp, chưa kể các cơ quan của Quân đoàn 2 và mất toàn bộ xe tăng, pháo binh, xe công binh, vận tải.

Đại tá nguỵ Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng biệt động quân thuộc Quân khu 2 khai với ta về cuộc rút chạy của quân nguỵ ở Tây Nguyên như sau:

“Chiều 14 tháng 3, lúc tôi đang đến các đơn vị xem lại tình hình phòng thủ Pleiku thì Bộ Tư lệnh Quân đoàn gọi đi họp tại văn phòng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn. Phú cho biết vừa đi họp tại Cam Ranh với Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên và Đặng Văn Quang. Phú thuật lại cuộc họp:

Thiệu hỏi Viên:

– Còn quân trù bị để tăng cường cho Quân đoàn 2 không?

Viên trả lời:

– Không còn.

Thiệu quay hỏi Phú:

– Nếu không có quân tăng viện, anh giữ được bao lâu?

Phú trả lời:

– Tôi có thể giữ được một tháng với điều kiện không quân yểm trợ tối đa, tiếp tế bằng không vận đầy đủ nhu cầu về vật liệu vũ khí, đạn dược, bổ sung quân số đủ bù số thiệt hại nặng vừa qua. Tôi sẽ ở lại Pleiku chiến đấu và tôi sẽ chết ở đấy.

Thiệu nói các điều kiện đó không thoả mãn được, mà Quân giải phóng thì đang đánh mạnh cho nên phải rút khỏi Kon Tum, Pleiku để bảo toàn lực lượng, lấy quân đưa về giữ đồng bằng ven biển, tiếp tế thuận lợi hơn.

Thiệu lại nói:

– Rút bằng đường số 19 được không?

Viên trả lời:

– Trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo đường số 19 mà không bị tiêu diệt.

Thiệu hỏi thêm:

– Thế thì đường số 14 ra sao?

Viên đáp:

– Đường số 14 lại càng không thể đi được.

Mọi người dự họp thấy chỉ còn con đường số 7, từ lâu không dùng đến, tuy xấu nhưng tạo được yếu tố bất ngờ.

Chuẩn tướng Tư lệnh phó Quân đoàn 2 Trần Văn Cẩm hỏi:

– Còn các tỉnh trưởng, lực lượng địa phương và dân chúng có tổ chức cho họ rút không?

Phú trả lời:

– Theo lệnh ông Thiệu, bỏ lực lượng này lại, không được thông báo cho các tỉnh trưởng, cứ để họ tiếp tục chống giữ. Khi chúng ta rút xong, ai biết thì biết. Địa phương quân toàn là người Thượng thì trả chúng về với cao nguyên.

Sau khi trình bày xong, Phú ra lệnh cho Cẩm và Lý, Tham mưu trưởng quân đoàn làm kế hoạch rút lui.

Sáng ngày 15 tháng 3, Phú và Bộ Tham mưu chính của Quân đoàn 2 rút bằng máy bay về Nha Trang lấy lý do là để thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột. Thế là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa. Những đơn vị chuyên môn rút về Phú Bổn mang theo gia đình họ. Việc này làm cho dân chúng thấy rõ ý định bỏ Pleiku. Từ đó sĩ quan binh lính khiếp sợ và gia đình họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay, gây nên sự hỗn loạn. Người nào không vào được sân bay thì dùng đủ các loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắc nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, chửi bới, đánh nhau ầm ĩ, gây thêm nhiều cảnh hỗn loạn trên đường.

Trong khi đó Liên đoàn biệt động quân 22 cũng rút khỏi Kon Tum. Tới Thanh An, Liên đoàn 25 bị Quân giải phóng đuổi kịp tập kích dữ dội, gây thiệt hại nặng.

Theo kế hoạch, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 và các đơn vị tác chiến phải lập tuyến phòng thủ tại Phú Bổn chờ các đơn vị cơ giới nặng và các bộ phận chuyên môn qua trước.

Khi các lực lượng này tới Phú Bổn ngày 16 tháng 3 thì họ mệt mỏi, chán chường quá, cho nên họ dừng lại không đi nữa. Họ không những ở trong thị xã mà người và xe cộ còn ngổn ngang cả trên đường quanh thị xã. Giao thông trong thị xã bị tắc nghẽn vì lính dồn về đông, trong lúc đó xe cộ cứ tiếp tục ùn về. Binh lính bắt đầu phá phách, cướp bóc trong phố, gây nên cảnh tượng rất hỗn loạn.

Ngày 16 tháng 3, Quân đội giải phóng bắt đầu tiến công một đơn vị của Tiểu đoàn 23 biệt động quân trên đèo Ban Blếch, gây thiệt hại nặng. Ngày 17 tháng 3, Quân giải phóng lại pháo kích vào Ban chỉ huy tiểu khu trong thị xã Phú Bổn, gây thiệt hại đáng kể cho Liên đoàn 23.

Lúc này các đơn vị địa phương quân thuộc Phú Bổn đã tan rã, tự động bỏ ngũ chạy làm cho tình hình thị xã rối thêm.

Quân giải phóng lại tiến công và chốt đoạn đường từ phía đông thị xã Phú Bổn đến đèo Tu Na, làm cho tình hình phòng thủ Phú Bổn suy sụp nhanh chóng. Chiều 17 tháng 3, Liên đoàn 7 gọi không quân yểm trợ. Một đoàn máy bay A.37 đến ném bom lại trúng vào quân của Liên đoàn, một tiểu đoàn gần như bị tiêu diệt. Sáng 18-3 lại bị Quân giải phóng đánh một trận nữa, liên đoàn này thiệt hại nặng, chỉ có một số rất ít vượt qua được điểm chốt. Quân giải phóng tiến vào chiếm Phú Bổn. Phú ra lệnh cho chúng tôi bỏ hết vũ khí nặng và quân dụng, chạy khỏi Phú Bổn. Tôi ra lệnh cho quân bỏ lại hết xe cộ, đại bác, đi bộ vòng rừng không qua đèo. Thiết đoàn 3 cũng bỏ hết xe chạy vào rừng sau khi bị Quân giải phóng chặn đánh nhiều lần.

Quãng đường từ đèo Tu Na đến quận Sơn Hoà, các tàn quân phải lẩn trốn, chui rúc trong rừng. Sỹ quan, binh lính lại mang theo gia đình, hàng trăm, hàng nghìn người kéo sau, ồn ào, lộ mục tiêu. Quân giải phóng truy kích sát cho nên chúng tôi bị tan tác, thiệt hại rất nhiều. Binh lính mệt mỏi, không có chỉ huy, bỏ cả vũ khí, máy móc trên đường chạy. Quân ở quận Phú Túc và các đồn địa phương đều ra hàng hoặc rã ngũ, và các nơi đó đều bị Quân giải phóng đánh chiếm.

Liên đoàn 6 biệt động quân là cánh quân đi sau cùng và có trách nhiệm hướng dẫn tàn quân các đơn vị khác về Sơn Hoà. Sáng 20 tháng 3, Quân giải phóng bắt đầu tiến công bất ngờ đơn vị đầu tiên của Liên đoàn 6, gây thiệt hại đáng kể. Những ngày kế tiếp, Liên đoàn rút chạy nhưng vẫn bị truy kích và bị đón đánh liên tiếp, chỉ còn một số rất ít chạy được về Tuy Hoà.

Quân giải phóng vận động nhanh qua phía đông thị xã Phú Bổn, chốt chặn con đường lên đèo Tu Na, đã quyết định sự thất bại cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn.

Thế là rõ. Trận Buôn Ma Thuột hiểm và mạnh quá, tiếp đến trận đánh diệt quân viện Sư đoàn 23 ở phía đông Buôn Ma Thuột nhanh và gọn quá làm cho địch hốt hoảng, rối loạn không những ở cấp sư đoàn, quân khu mà chính là động đến cơ quan đầu não của nguỵ quyền Sài Gòn. Từ sai lầm về chiến thuật, chiến dịch, bị ta đánh đau quá địch đi đến sai lẩm về chiến lược; nguỵ quyền Sài Gòn hoảng hốt ra lệnh rút chạy khỏi Tây Nguyên, đưa quân về đồng bằng hòng giữ lực lượng và giữ đất. Nhưng nào có đưa được lực lượng về đâu, có giữ được đất nữa đâu! Ta đã diệt chúng trên đường rút chạy.

Mà đã sai lẩm về chiến lược rồi thì thất bại trong chiến tranh là điều chắc chắn, không sớm thì muộn.

Chính chúng ta đã đưa địch đến sai lầm đó, biết tạo và nắm thời cơ, thúc đẩy quá trình thất bại của địch, tạo ra bước ngoặt của chiến tranh.

Ta nhanh hơn lên, quyết đoán hơn lên, táo bạo hơn lên, chủ động hơn lên, thừa thắng xông lên thì chắc chắn là ta thắng cuộc.

Hết: Chương 8, xem tiếp: Chương 9

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 9

Thừa thắng

Khi Mặt trận Tây Nguyên nổ súng thì ở Trị Thiên quân ta cũng mở đầu hoạt động phối hợp, tiến công địch ở cả giáp ranh và đồng bằng. Lực lượng vũ trang quân khu đã bao vây trên một diện rộng các căn cứ địch, diệt và bức rút một số đồn bốt, đồng thời đẩy mạnh đánh phá các hậu cứ, kho tàng, cắt đường giao thông của địch.

Lực lượng Quân đoàn 2 tiến công địch trên tuyến tây nam Huế ở khu vực Núi Bông, Núi Nghệ, diệt được một số căn cứ của chúng và liên tục đánh phản kích, tiêu diệt một bộ phận, kìm chân lực lượng cơ động, không cho chúng rút khỏi Trị Thiên.

Ở đồng bằng, 7 tiểu đoàn bộ đội địa phương của ta cùng với 100 đội vũ trang công tác thọc xuống vùng sâu cùng lực lượng vũ trang tại chỗ và nhân dân trong cả 8 huyện đồng loạt nổ súng tiến công địch, tiêu diệt quận lỵ Mai Lĩnh, diệt gọn 11 phân chi khu trong số 30 phân chi khu bị tấn công, tiến hành vũ trang tuyên truyền trên một diện rộng gồm 53 xã với trên 2 vạn dân, sau khi địch bị thất bại nặng ở Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương kịp thời chỉ đạo Mặt trận Trị Thiên và Quân đoàn 2 nhận rõ thời cơ nhanh chóng chuyển hướng tiến công.

Ngày 18 tháng 3, phán đoán địch có thể rút bỏ Huế, đưa Sư đoàn bộ binh 1 nguỵ vào Đà Nẵng và tổ chức phòng thủ từ đèo Hải Vân trở vào Nam, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Quân khu Trị Thiên do Thiếu tướng Lê Tự Đồng làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quan khu và Quân đoàn 2 phải táo bạo đưa lực lượng thọc qua tuyến phòng thủ bên ngoài cắt đứt đường số 1 và áp sát Huế, nhằm mục tiêu trước mắt là tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 1 không cho chúng rút về Đà Nẵng, giải phóng Huế và toàn bộ Trị Thiên.

Ngày 19 tháng 3, các lực lượng vũ trang địa phương Quảng Trị nắm kịp thời cơ chuyển sang tiến công giải phóng thị xã và toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Tuyến phòng thủ phía bắc của địch, bị vỡ một mảng lớn, địch co về phòng thủ tuyến nam sông Mỹ Chánh.

Trong lúc đó Ngô Quang Trưởng, Trung tướng Tư lệnh Quân khu 1 nguỵ huênh hoang trên đài phát thanh Huế: “Tôi sẽ chết trên đường phố Huế. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vô được cố đô này”, còn Thiệu thì ba hoa trên đài Sài Gòn: “Bỏ Kon Tum, Pleiku để bảo toàn lực lượng, còn Đà Nẵng, Huế, Quân khu 3, Quân khu 4 sẽ phải giữ đến cùng”.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, ngày 21 tháng 3, từ ba hướng bắc, tây và nam, các lực lượng Quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 đồng loạt tiến công vượt qua các tuyến phòng thủ của địch, hình thành nhiều mũi bao vây Huế, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 1 bộ binh nguỵ, Lữ 147 thuỷ quân lục chiến nguỵ, cắt đứt Huếvà Đà Nẵng trên đoạn đường số 1 ở Mũi Né – Bái Sơn. Hàng nghìn xe di tản từ Huế vào Đà Nẵng phải quay lại trong cảnh rối loạn.

Pháo binh tầm xa của ta chế áp căn cứ Đống Đa, Mang Cá, bắn phá sân bay Phú Bài. Đường bộ bị cắt, đường không bị triệt, địch chỉ còn một lối thoát là rút chạy ra biển theo cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Con đường Huế – cửa Thuận An là niềm hy vọng cuối cùng của chúng, nhưng thực tế đã biến thành con đường chết đối với chúng.

Nắm vững ý đồ muốn tẩu thoát của địch, pháo ta một mặt khống chế chặt cửa Thuận An và không cho tàu địch vào đón bọn rút lui, mặt khác, bắn tập trung vào đội hình dày đặc của địch còn lại ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền làm cho chúng bị thiệt hại nặng nề. Bộ đội đặc công cũng thả mìn phong toả cửa Thuận An. Xe tăng, xe bọc thép, xe vận tải và hàng chục nghìn lính địch kéo đi kín đường bị pháo ta bắn, đạp nhau mà chạy, bắn nhau để lấy đường chạy.

Ngày 25 tháng 3, các cánh quân của ta đã kịp hợp vây tiêu diệt và làm tan rã quân địch rút lui còn lại ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền, đồng thời từ nhiều hướng, quân ta tiến công vào thành phố. Đúng 10 giờ 30 phút, lá cờ cách mạng được kéo lên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn.

Thành phố Huế hoàn toàn được giải phóng, người dân Huế sau 7 năm chờ đợi kể từ Tết Mậu Thân năm 1968, nay lại được thấy lá cờ cách mạng hiên ngang tung bay trước gió.

Trong quá trình bộ đội tiến hành bao vây chia cắt và truy kích địch, quần chúng đứng lên phối hợp hành động bằng cách dẫn đường cho bộ đội, chỉ đường địch chạy cho quân ta đuổi truy lùng địch lẩn trốn, giúp đỡ bộ đội vượt sông, diệt bắt tề điệp ác ôn làm cho địch càng nhanh chóng tan rã.

Sư đoàn 1 nguỵ từng được Mỹ coi là sư đoàn thiện chiến của quân nguỵ bị tiêu diệt và tan rã. Tiêu diệt Sư đoàn 1 bộ binh nguỵ, giải phóng thành phố Huế và toàn bộ Trị Thiên, ta đã giáng một đòn nặng vào âm mưu co cụm chiến lược của địch, làm suy yếu và uy hiếp nặng nề Quân đoàn 1 nguỵ.

Chiều ngày 26 tháng 3, trong nhà hầm chỉ huy, tôi đang xem xét lại kế hoạch thực hiện lệnh thành lập Quân đoàn 3 của Bộ Tổng tư lệnh và tổ chức lực lượng bảo vệ Tây Nguyên sau khi giải phóng, suy nghĩ về cách tiếp tục phát triển các binh đoàn Tây Nguyên và chuẩn bị cho kế hoạch di chuyển hậu cần, trinh sát đi vào miền Đông Nam Bộ, thì đồng chí Nguyễn Tuyến đến báo cho biết tin Huế được hoàn toàn giải phóng. Tôi không nén được xúc động. Huế được giải phóng vĩnh viễn rồi, không phải ta chỉ làm chủ quyết liệt được 25 ngày đêm như Tết Mậu Thân năm 1968.

Các đồng chí Trần Văn Quang, Lê Quang Đạo, Trần Quý Hai cũng như các anh em trong Bộ Tư lệnh, các đơn vị bộ đội, tham gia cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên mặt trận Huế, đường số 9, Khe Sanh, Quảng Trị mùa Xuân 1968 nghe được tin này chắc là cũng vui mừng khôn tả. Tôi châm lửa vào điếu thuốc. Tôi đã “cai” thuốc từ lâu, nhưng mỗi lần giải quyết được một vấn đề gì gai góc, giành được một thắng lợi gì lớn, được tin một chiến thắng xuất sắc thì hút một điếu cho vui.

Hoạt động phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang Quân khu 5, do đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân làm Tư lệnh và đồng chí Võ Chí Công làm Chính uỷ Quân khu, ngoài việc dùng Sư đoàn 3 đánh địch và cắt đường số 19, đã giải phóng Tiên Phước, Phước Lâm, đánh bại quân địch phản kích, buộc địch rút khỏi Sơn Hà, Trà Bồng, giải phóng gần hết vùng giáp ranh, đồng thời đẩy mạnh đánh phá bình định ở đồng bằng, nhất là ở Quảng Ngãi và Bình Định.

Sau khi ta giành thắng lợi lớn ở Tây Nguyên, Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, nhạy bén trước thời cơ mới, đã bỏ kế hoạch phát triển về phía nam, chuyển hướng tiến công về phía bắc nhằm tạo điều kiện cho việc giải phóng Đà Nẵng.

Sau ngày 18 tháng 3, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cũng chỉ thị cho Khu 5 nhận rõ thời cơ mới đang xuất hiện, đẩy mạnh tiến công với tinh thần khẩn trương và mạnh bạo, nhanh chóng phá vỡ tuyến giáp ranh, tiến xuống cắt đứt đường số 1, đoạn đường giữa Đà Nẵng và Tam Kỳ, tiêu diệt Sư đoàn bộ binh số 2 nguỵ, không cho chúng co cụm về Đà Nẵng, tổ chức pháo kích Đà Nẵng và chuẩn bị tích cực và khẩn trương cho trận đánh Đà Nẵng.

Chấp hành chỉ thị nói trên, ngày 21 tháng 3, một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 2 của ta đánh chiếm Tuần Dưỡng, cắt đường bộ từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 5 thuộc Sư đoàn 2 nguỵ, uy hiếp Tam Kỳ, kéo Sư đoàn 2 nguỵ từ Quảng Ngãi ra để tiêu diệt; nhân cơ hội đó dùng một lực lượng khác thọc nhanh, giải phóng Quảng Ngãi.

Ngày 22 tháng 3, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh lại nhận định: “Địch đang rút khỏi Huế và cũng không loại trừ khả năng chúng rút bỏ Đà Nẵng”, chỉ đạo Khu 5 chuẩn bị tích cực đánh Đà Nẵng theo phương án đã dự kiến.

Ngày hôm sau, trước tình hình Trị Thiên đang phát triển rất nhanh và quán triệt các chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Thường vụ khu uỷ Khu 5 họp mở rộng, hạ quyết tâm mới: “Động viên toàn đảng bộ, toàn dân trong Khu phấn đấu trong thời gian ngắn nhất, giải phóng hoàn toàn Khu 5”. Trong hai ngày 24 và 25 tháng 3, Sư đoàn 2 của quân khu phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt và làm tan rã Trung đoàn 4 và Trung đoàn 5 của Sư đoàn 2 nguỵ, giải phóng Tam Kỳ và Tuần Dưỡng. Lực lượng địa phương Quảng Ngãi phối hợp với quần chúng tiến công và nổi dậy giải phóng phía bắc tỉnh.

Ta phát triển tiến công chiếm căn cứ Chu Lai, đồng thời lực lượng vũ trang, chính trị Quảng Ngãi liên tiếp tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi. Việc giải phóng Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Tuần Dưỡng và tiêu diệt những sinh lực ở đây làm cho thế phòng thủ của địch ở Đà Nẵng bị uy hiếp thêm về phía nam. Thiệu ở Sài Gòn lại kêu gọi “tử thủ Đà Nẵng”, Mỹ – nguỵ cũng có ý định nếu chúng không giữ được thì cũng phải “trì hoãn” một – hai tháng để tranh thủ thời gian, bố trí lại thế phòng ngự chiến lược đang tan vỡ từng mảng lớn, đồng thời di tản một triệụ dân hòng gây tác động chính trị xấu cho ta, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao hòng gây sức ép để buộc ta ngừng tấn công. Tên Thiếu tướng Tham mưu phó Bộ Tổng Tham mưu nguỵ Nguyễn Xuân Trang được lệnh hoả tốc ra Đà Nẵng kiểm tra tình hình và chuyển từ tổng kho Long Bình ra Đà Nẵng 20.000 khẩu súng để bổ sung cho các đơn vị ở đây. Kế hoạch của địch phòng thủ Quảng Nam – Đà Nẵng được vạch ra nhằm thu hẹp phạm vi phòng thủ, tập trung Sư đoàn thuỷ quân lục chiến, Sư đoàn 3 bộ binh và các đơn vị quân chủng, binh chủng để cố thủ Đà Nẵng.

Ngày 25 tháng 3, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, trên cơ sở nhận định: “Sau khi mất Huế, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Chu Lai, địch dù có muốn giữ Đà Nẵng cũng không thể được”, quyết định mở trận tiến công Đà Nẵng với tư tưởng chỉ đạo “kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng”, và chỉ thị cho Quân đoàn 2 và Khu 5 “hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay, tập trung lực lượng diệt sinh lực lớn của địch ở Đà Nẵng, chủ yếu là Sư đoàn thuỷ quân lục chiến và Sư đoàn 3 nguỵ, giành thắng lợi lớn trong trận quyết chiến này, tạo điều kiện cho trận quyết chiến chiến lược sau”.

Để chỉ huy trận đánh quan trọng này, ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, gồm các đồng chí Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân làm Chính uỷ. Đồng chí Lê Trọng Tấn đáp máy bay từ Hà Nội vào Gio Linh. Lúc đó đồng chí Chu Huy Mân đang chỉ huy một cánh quân ở rất xa, giữa Quảng Tín và Quảng Ngãi. Muốn chỉ huy đánh Đà Nẵng phải lập sở chỉ huy ở phía tây Đà Nẵng. Đồng chí Lê Trọng Tấn tới Quảng Trị liền rẽ lên A Lưới theo đường phía đông Trường Sơn rồi vòng về phía tây Đà Nẵng. Đồng chí dùng tổng trạm điện thoại giữa đường để bắt liên lạc với các cánh quân. Thấy tình hình rất gấp, đồng chí dùng điện đài làm việc với đồng chí Chu Huy Mân, thống nhất cách tác chiến. Bộ Tư lệnh và Đảng uỷ Mặt trận Quảng Đà như thế là vẫn chưa gặp mặt nhau.

Trong những ngày này, tôi cũng rất nóng ruột về tình hình Khu 5. Ở xa, không nắm được tình hình cụ thể, tôi điện cho đồng chí Hoàng Văn Thái, Phó Tổng Tham mưu trưởng, nên chỉ thị cho Quân đoàn 2 gồm các Sư đoàn 304, 324, 325 triển khai ngay pháo tầm xa khống chế sân bay và cảng Đà Nẵng, nhanh chóng cùng với lực lượng Quân khu 5 tiêu diệt tập đoàn địch co cụm ở Đà Nẵng. Làm được như thế thì sẽ đỡ cho chiến trường Nam Bộ trong bước tới. Cũng cần tăng cường chỉ huy đối với trận đánh quan trọng này.

Từ ngày 25 tháng 3, thành phố Đà Nẵng trở nên hỗn loạn. Các lực lượng của ta tiến nhanh áp sát thành phố. Địch buộc phải bỏ kế hoạch co cụm ở Đà Nẵng và bắt đầu dùng máy bay Boeing 727 và máy bay lên thẳng di tản bọn cố vấn Mỹ và một phần lực lượng nguỵ. Chúng tranh nhau lên máy bay, gây ra cảnh huyên náo, ẩu đả ở sân bay. Có những tên bị bánh máy bay đè nát trên đường băng hoặc mắc kẹt trong càng máy bay lên thẳng. Binh lính, sĩ quan nguỵ cùng gia đình chen nhau chạy. Sư đoàn thuỷ quân lục chiến địch trước khi rút chạy gây ra nhiều vụ cướp bóc, bắn nhau và hãm hiếp phụ nữ. 3.200 tân binh địch ở trung tâm huấn luyện Hoà Cầm nổi dậy đấu tranh bỏ ngũ chạy ra với cách mạng hoặc về nhà.

Pháo lớn của ta bắt đầu bắn vào sân bay Đà Nẵng, căn cứ Hoà Khánh, nơi Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 nguỵ đóng, cảng Sơn Trà, Sở chỉ huy Sư đoàn ở Non Nước làm cho địch trong thành phố càng hoảng loạn. Anh em ta bị địch bắt giam ở nhà lao Non Nước vùng dậy phá nhà lao, thoát ra ngoài. Sư đoàn 2 của Quân khu 5 do đồng chí Đại tá Nguyên Chơn – Anh hùng lực lượng vũ trang – làm Sư đoàn trưởng, sau khi giải phóng Tiên Phước, Phước Lâm, Tam Kỳ, tiến đánh phía nam Đà Nẵng. Ngày 29 tháng 3, bộ binh và xe tăng thuộc Quân đoàn 2 cùng lực lượng vũ trang của Quân khu 5 từ bốn hướng bắc, tây bắc, tây nam và nam nhanh chóng đánh thẳng vào thành phố, chiếm sân bay Đà Nẵng, các vị trí quan trọng khác, nhất là bán đảo Sơn Trà. Trong khi đó một trung đoàn độc lập của quân khu cũng đánh chiếm Non Nước và sân bay Nước Mặn. Một số cơ sở cách mạng và quân biệt động ta ở trong thành phố chiếm cầu Trịnh Minh Thế, cắm cờ ở toà thị chính, tự vệ và nhân dân dẫn đường cho bộ đội chiếm nhanh chóng các vị trí địch và đuổi bắt tàn quân địch.

Trong vòng 32 giờ ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 100.000 quân địch ở Đà Nẵng, chiếm được một căn cứ quân sự liên hợp mạnh, giải phóng Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai ở miền Nam. Với việc giải phóng Đà Nẵng, ta đã kết thúc quá trình tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ Quân đoàn 1, xoá bỏ Quân khu 1 của nguỵ, tạo điều kiện thúc đẩy quân nguỵ nhanh chóng đi tới chỗ sụp đổ hoàn toàn.

Ngô Quang Trưởng, sau khi thoát chết tại cuộc họp ở căn cứ hải quân Sơn Trà, dùng máy bay lên thẳng bay ra tàu chiến chạy một mạch về Sài Gòn, vào nằm ở Tổng y viện cộng hoà.

Chiến dịch Huế – Đà Nẵng thắng lớn có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng. Cùng với chiến thắng Tây Nguyên, chiến thắng Huế, Đà Nẵng làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng về mặt chiến lược hoàn toàn có lợi cho ta, trực tiếp đánh bại âm mưu co cụm chiến lược của địch, làm cho Sài Gòn suy yếu, tạo điều kiện cho ta tập trung lực lượng áp đảo trong trận quyết chiến cuối cùng.

Chúng tôi cũng nhận được tin về chiến trường Nam Bộ qua thư của đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh bộ đội Nam Bộ và Khu 6 (còn gọi là B2) gửi ra. Ở hướng Long Khánh – đường số 20, sau khi giải phóng Định Quán, Hoài Đức, Gia Rai, ta đưa phần lớn Sư đoàn 7 có pháo và xe tăng đi cùng, nhằm tiến công và giải phóng Lâm Đồng.

Sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn 4 nắm vững thời cơ, lần đầu tiên sử dụng binh chủng hợp thành tiến theo đội hình xe bọc thép đi trước, rồi xe tăng, bộ binh, pháo binh, hậu cần đi sau, thẳng đường số 20 tiến quân, gặp địch đâu đánh đấy với khí thế chưa từng thấy. Bọn địch dọc đường ngơ ngác, hoảng sợ, đứa bỏ trốn, đứa chạy lên đồi đứng xem quân ta tiến. Sư đoàn 7 phát triển nhanh, giải phóng tỉnh Lâm Đồng và thị xã Bảo Lộc.

Đồng chí Trần Văn Trà tiếc rằng không có thêm lực lượng để sau khi giải phóng xong Lâm Đồng tiến lên giải phóng Liên Khằng – Đrăng và Đà Lạt.

Ở hướng Dầu Tiếng – đường số 22, sau khi tiêu diệt địch ở chi khu Dầu Tiếng, các vị trí Bến Củi, suối Ông Hùng, Cầu Khởi, ngã tư Đất Sét trên, đường 26, ta cắt đường số 22, cô lập Tây Ninh và kéo quân chủ lực nguỵ ra để diệt, tạo điều kiện cho quân ta có thời cơ sẽ tiến đánh giải phóng Tây Ninh. Ở hướng Sư đoàn 5 và Sư đoàn 3 của ta, quân ta đã mở xong hành lang thông với Khu 8 đồng bằng sông Cửu Long, đang chuyển hướng nhằm tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 9 và Lữ đoàn thiết giáp 4 nguỵ ở Mộc Hoá, sau đó chuẩn bị đánh tiếp tiểu khu Mộc Hoá. Ta đã mở rộng khu vực bắc Cái Bè (Mỹ Tho) và đông Kiến Phong, kênh Nguyễn Văn Tiếp.

Ở hướng Khu 9 miền Tây Nam Bộ, Vĩnh Long đánh tốt nhưng Hậu Giang đánh còn hơi sượng. Nhìn chung, địch ở Nam Bộ còn đông, tinh thần đã bị ảnh hưởng lớn trước thất bại lớn ở hai quân khu 1 và 2. Song ta chưa có những trận thắng lớn rung động, do đó, địch chưa có hiện tượng tan rã.

Muốn tạo được thời cơ, cần có những trận đánh tịêu diệt lớn, những đòn bất ngờ gây rung động lớn, đẩy địch vào con đường tan rã, không còn gì để co cụm và cũng không còn chỗ để co cụm. Một trong những quy luật cơ bản của chiến tranh là tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, cả sinh lực lẫn phương tiện chiến tranh. Địch có nhiều loại quân, nhiều loại lực lượng. Ta chọn đúng đối tượng, đánh gục những lực lượng chủ yếu của chúng thì mới làm cho địch tan rã nhanh chóng, thay đổi so sánh lực lượng càng lợi cho ta và tạo ra một sự nổ chuyền liên tục, ngày càng lan rộng. Lúc này đối tượng chủ yếu của quân ta là đội quân chủ lực nguỵ, nhất là các cơ quan chỉ huy đầu não của chúng. Đập trúng thì từ đó sẽ kéo theo sự tan rã của toàn bộ hệ thống phòng thủ và nguỵ quyền ở từng chiến trường. Địch không tan rã bỏ chạy nếu ta không giáng cho chúng đòn chí tử, đánn nhanh, đánh mạnh, đánh liên tục.

Tại Sở chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên, ngày 18 tháng 3 giữa lúc địch đang rút chạy khỏi Tây Nguyên, chúng tôi cũng đã bàn tới phương hướng phát triển của bộ đội Tây Nguyên.

Chúng tôi phân tích kỹ tình hình địch và ta.

Thắng lợi của ta ở Tây Nguyên tác động rất mạnh đến sự bố trí chiến lược và tinh thần của địch. Ta tiến công mạnh, phát triển nhanh làm cho địch tan rã mau. Để tránh thế cô lập, bị bao vây không tiếp tế nổi, sớm muộn sẽ bị tiêu diệt hết, địch buộc phải vội vã rút khỏi Tây Nguyên. Ý định của địch rút lực lượng ở Tây Nguyên về là để bảo vệ các tỉnh đồng bằng Quân khu 2 đang rất sơ hở.

Ở Bình Định, địch có Sư đoàn 22, còn các tỉnh khác chúng chỉ có bảo an, dân vệ. Chung quanh Sài Gòn, địch vẫn giữ lực lượng như cũ hoặc có thể tăng cường thêm. Trên toàn miền Nam, Quân đoàn 2 của địch là quân đoàn bị tiêu diệt nhiều sinh lực nhất và phải bỏ một địa bàn chiến lược trọng yếu là toàn bộ Tây Nguyên gồm năm tỉnh. Đây là vấn đề chưa từng có từ trước đến nay trong lịch sử chiến tranh ở Việt Nam. Quân đoàn 2 nguỵ cũng là quân đoàn bị mất tinh thần nhiều nhất. Trước mắt, Quân đoàn 2 nguỵ ít có khả năng tổ chức những cuộc phản kích lớn khác lên Tây Nguyên nói chung và Buôn Ma Thuột nói nêng. Thất bại của địch ở Tây Nguyên và các chiến trường khác đẩy thêm chính quyền Thiệu vào thế suy yếu, sa sút.

Nếu chúng thất bại về quân sự thêm nữa thì sẽ dẫn tới khả năng chính quyền Thiệu sụp đổ.

Thắng lợi của ta ở Tây Nguyên là hết sức to lớn, được thực hiện vượt mức kế hoạch. Ta còn nhiều điều kiện tốt để tiếp tục phát triển thắng lợi. Địch đang hoang mang, rối loạn và bị ta đuổi sát. Lực lượng ta qua chiến đấu càng trưởng thành. Tinh thần của bộ đội ta mạnh lên gấp nhiều ỉần. Hậu cần vẫn bảo đảm, không những chỉ mới dùng hết một phần số lượng đạn dược đã dự tính trong kế hoạch mà lại còn lấy thêm được khá nhiều của địch. Đường chiến lược cho xe tải chạy thông và nhanh hơn trước. Thời tiết mùa khô còn khoảng tháng rưỡi để ta tiếp tục hoạt động.

Các chiến trường của ta trên toàn miền Nam đều đã hoạt động phối hợp tốt.

Trước mắt, vấn đề đặt ra là lực lượng Tây Nguyên nên phát triển hướng nào cho liên tục nhất, nhanh nhất, lợi nhất, phát huy được sức mạnh nhất và còn nhiều thời gian để hoạt động nhất. Sự phát triển đó nhằm mục đích tiêu diệt nhiều sinh lực địch, chia cắt chiến lược cả về quân sự và về hành chính lãnh thổ do chính quyền Thiệu tạm kiểm soát ở miền Nam, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược và tình thế chiến lược của địch, thúc đẩy thêm sự tan rã về quân sự và sự suy sụp về chính trị của Thiệu.

Nếu dừng lại, tiến công vào một hướng khác, thì địch sẽ co cụm.

Sau khi thảo luận sôi nổi, chúng tôi nhất trí hướng phát triển chiến dịch của lực lượng Tây Nguyên là tiến về phía đông. Cụ thể là chúng tôi phát triển xuống ven biền cùng với bộ đội Quân khu 5 giải phóng tỉnh Bình Định, Phú Yên và một phần tỉnh Khánh Hoà, tiéu diệt nhiều sinh lực địch và giải phóng hơn một triệu dân. Lúc này bộ đội ta đang náo nức muốn thừa thắng tiến nhanh về đồng bằng.

Nhân dân vùng ven biển cũng đang tấp nập đi chữa đường, đắp đường, tải gạo, tải đạn, mong đón bộ đội chủ lực về.

Như vậy, ta sẽ chiếm giữ cả ba đường chiến lược số 7, số 19 và số 21 nối thông vùng rừng núi với đồng bằng, vùng ven biển Khu 5 đông dân với vùng Tây Nguyên thưa dân. Cuộc tiến quân về đồng bằng này còn nhằm tiêu diệt nốt Sư đoàn 22 nguỵ là lực lượng còn lại của Quân đoàn 2, các lực lượng biệt động quân và quân địa phương ở ba tỉnh Bình Định, phú Yên, Khánh Hoà, sẵn sàng tiêu diệt hai hoặc ba trung đoàn địch ở Quân khu 1 hoặc ở Quân khu 3 kéo tới tiếp viện. Làm được như vậy thì cơ bản ta tiêu diệt được Quân đoàn 2 của địch, giải phóng Quân khu 2, cắt rời toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch ở miền Nam ra làm đôi cô lập Quân khu 1 của địch ở phía bắc.

Về sau chúng tôi lại bổ sung vào ý định nói trên: ở phía đường số 21, khi giải phóng Khánh Dương xong, phát triển xuống đèo Mơ Đrắc, tạo điều kiện thọc xuống giải phóng Ninh Hoà, rồi tiến vào giải phóng Nha Trang, Cam Ranh.

Lúc này, cần phải giải quyết hai vấn đề: một là nhanh chóng củng cố bộ đội, trang bị thêm vũ khí cho các đơn vị, hai là hướng dẫn cách đánh địch. Còn vấn đề hậu cần thì không lo, vì ta có ba con đường chiến lược xuống đồng bằng, vận chuyển bộ đội và vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm hoàn toàn bằng cơ giới. Tổng cục Chính trị đã đưa nhiều cán bộ vào, không những để tăng cường sức chiến đấu cho bộ đội mà còn góp phần tích cực vào việc xây dựng chính quyền cơ sở ở các địa phương vừa mới giải phóng. Tổng cục Kỹ thuật điều tới mặt trận thêm 300 kỹ sư và công nhân để dồn lắp và sửa chữa hàng trăm xe tăng, xe vận tải và pháo địch.

Ngày 19 tháng 3, tôi làm việc với các đồng chí Bùi San, Nguyễn Tuấn Tài, Thường vụ khu uỷ Khu 5, và đồng chí Huỳnh Văn Mẫn, uỷ viên khu uỷ Khu 5 kiêm Bí thư tỉnh uỷ Đắk Lắk. Tình hình trong thị xã và vùng ven dần dần ổn định. Hầu hết nhân dân thị xã ở lại với cách mạng.

Chợ họp, bệnh viện hoạt động trở lại. Sau hai ngày, thị xã đã được cung cấp nước. Các tầng lớp nhân dân họp míttinh mừng quê hương giải phóng. Hăng hái nhất là giới công nhân và thanh niên học sinh, nhiều người tự nguyện xung phong đi làm vệ sinh đường phố, sửa chữa đài phát thanh, Bửa chừa điện nước, tham gia giữ gìn trật tự, an ninh.

Trong các cuộc họp, nhân dân thị xã nêu nhiều câu hỏi. Bây giờ dân tiếp tục làm ăn thế nào? Có được đi làm ruộng nương suốt ngày đến tối mới về không? Có được vào rừng xẻ gỗ không? Tiền gửi ngân hàng có được lấy ra không? Công chức, nhà giáo dục có được lĩnh lương không? Các trường học có mở lại không và học theo chương trình nào?

Tôi góp ý kiến với các đồng chí lãnh đạo địa phương và chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Tây Nguyên giúp đỡ giải quyết mấy vấn đề lớn: xây dựng chính quyền cơ sở, lực lượng vũ trang địa phương, thi hành các chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục, tổ chức tiếp tế cho 100.000 dân ở thị xã và vùng ven Buôn Ma Thuột cùng hơn 50.000 nhân dân di cư ở các vùng phụ cận, chấp hành đúng các chính sách đối với các dân tộc, các nhà tư sản, các ngoại kiều. Địa phương thiếu nhiều cán bộ và mong các cán bộ người dân tộc đang học ở trường dân tộc ngoài Bắc trở về ngay để công tác, cũng như cán bộ trong cả nước đến giúp. Ta bước đầu lập một quân khu vừa làm nhiệm vụ quân quản vừa lãnh đạo các mặt đối với ba tỉnh ở Tây Nguyên. Thành phần Quân khu uỷ gồm cả cán bộ quân sự và cán bộ dân, chính Đảng; tổ chức này không ra công khai nhưng trực tiếp chỉ đạo việc bảo vệ, khôi phục và xây dựng kinh tế ở Tây Nguyên. Anh em ước tính ở đây có thể khai thác thêm hàng trăm nghìn hécta đất trong một số năm. Có chiến sĩ vui vẻ nói: Đi qua Buôn Ma Thuột nhìn xem đất đai, trời ơi là trời, sướng quá anh ạ. Đất nước mình như thế này mà bảo là nhỏ và nghèo thì không đúng nữa rồi.

Trận tiến công phát triển về hướng đồng bằng ven biển miền Trung từ đầu tháng 3 sang đầu tháng 4 năm 1975 theo các trục đường số 19, số 7 và số 21 mở màn trong khí thế mãnh liệt. Trên đường số 19, Sư đoàn 968 tiến xuống tỉnh Bình Định, cùng với Sư đoàn 3 của Quân khu 5 tiêu diệt và làm tan rã Sư đoàn 22 nguỵ ở Phú Phong, Lai Nghi, Phù Cát. Nhân dân trong thị xã Quy Nhơn nổi dậy cùng lực lượng vũ trang địa phương giải phóng thị xã, giải phóng bán đảo Phước Lý, Phước Hải, làm cho tàu biển địch không vào bờ bốc bọn tàn quân được Cùng ngày, ta đánh chiếm sân bay Gò Quánh, bắt 1.000 tên địch, thu 30 máy bay còn nguyên. Thế là ý định của địch tháo chạy khỏi Quy Nhơn, đưa một bộ phận trung đoàn 41, 42 xuống tàu để vào tăng cường phòng thủ Nha Trang bị phá vỡ. Tại bãi biển Quy Nhơn, hàng nghìn tên không kịp lên tàu đã bị bắt và đầu hàng. Toàn tỉnh Bình Định được giải phóng.

Trên đường số 7, Sư đoàn 320 giải phóng Củng Sơn rồi tiến nhanh xuống giải phóng luôn thị xã Tuy Hoà, Tuy An, Sông Cầu và giải phóng hoàn toàn tỉnh Phú Yên.

Tại khu vực Nha Trang, Bộ chỉ huy biệt động quân nguỵ Quân khu 2 và trung tâm huấn luyện biệt động quân Dục Mỹ được chỉ thị gấp rút tổ chức lại 2 liên đoàn trong đó Tiểu đoàn 72 mới tổ chức xong đã được lệnh tăng cường cho Lữ đoàn 3 dù ở Khánh Dương. Một bộ phận tàn quân các nơi về mới đổ quân lên Cam Ranh buổi sáng thì được lệnh của tên Trung tướng nguỵ Lê Nguyên Khang, Tổng Tham mưu phó, sắp xếp đưa lên tăng cường cho Khánh Dương bị tiến công mạnh. Tên tướng nguỵ Phạm Văn Phú chỉ huy Quân khu 2 lại gào “tử thủ Nha Trang” trong khi lãnh sự quán Mỹ ở đây lo di tản. Bọn sĩ quan, binh lính nguỵ lo thu vén cho vợ con chạy, 3.000 lính nguỵ ở trung tâm huấn luyện Lam Sơn, trường hạ sĩ quan bỏ chạy về thị xã, cảnh sát gác trại giam cũng bỏ chạy. 2.000 lính nguỵ bị tù thoát ra, cướp súng bắn lung tung, cướp bóc bừa bãi, làm cho thị xã thêm hỗn loạn.

Giữa lúc đó trên đường số 21, đồng chí Vũ Lăng và đồng chí Nguyễn Hiệp cùng Sư đoàn 10 đuổi địch chạy về phía ven biển. Đồng chí Vũ Lăng nóng ruột muốn được về giải phóng Ninh Hoà, nơi 29 năm về trước, trong hàng ngũ bộ đội Nam tiến, đồng chí đã chiến đấu gian khổ chống giặc Pháp xâm lược. Khi tới đèo Phượng Hoàng thì đồng chí Vũ Lăng được lệnh phải quay về Sở chỉ huy đại diện Bộ Tổng tư lệnh để nhận nhiệm vụ mới. Sư đoàn 10, sau khi giải phóng Khánh Dương, Ninh Hoà, tiến vào thị xã Nha Trang.

Nhân dân thị xã và một số cảnh sát đi xe máy ra đón bộ đội ta, dẫn đường vào chiếm các vị trí quân sự và các trụ sở chính quyền địch. Bộ đội ta xông vào nơi ở của tên Phạm Văn Phú, mâm cơm mới bày ra, hắn chưa kịp ăn đã bỏ chạy. Một số địch ở Nha Trang chạy thoát về Cam Ranh, một mạch chạy tiếp về Phan Rang. Trong lúc đó, 15 giờ 20 phút ngày 2 tháng 4, Thiệu gửi cho Tư lệnh Quân khu 2: “Giao việc phòng giữ Cam Ranh cho Tư lệnh duyên hải đảm trách”. Thừa thắng, Sư đoàn 10 đánh tiếp và tiến vào giải phóng Cam Ranh, một trong những quân cảng lớn và quan trọng, và như thế là giải phóng toàn bộ tỉnh Khánh Hoà.

Phạm Văn Phú chạy về Phan Thiết thì gặp tên Phó Tư lệnh Quân khu 3 ra báo cho biết: Thiệu sáp nhập hai tỉnh cực Nam của Quân khu 2 là Ninh Thuận và Bình Thuận vào Quân khu 3, nhằm phòng thủ Sài Gòn từ xa. Toàn bộ Quân khu 2 nguỵ không còn trên bản đồ.

Cần nói thêm rằng khi thấy lực lượng dự bị của ta ở Tây Nguyên còn đông, chúng tôi đã giao nhiệm vụ cho một đơn vị tiến đánh giải phóng Đà Lạt. Giải phóng Đà Lạt sẽ tạo điều kiện mở đường đưa bộ đội xuống đánh chiếm sân bay Thành Sơn (Phan Rang), một căn cứ không quân quan trọng của địch án ngữ đường tiến của quân ta vào Nam Bộ ở phía đông. Chúng tôi lấy trung đoàn bộ đội đặc công đi làm nhiệm vụ này. Đà Lạt không chỉ là một nơi nổi tiếng về sản xuất rau và hoa quả mà còn là một thành phố nghỉ mát, một trung tâm văn hoá và khoa học. Ở đây có một cơ sở nghiên cứu nguyên tử và một số trường, viện. Phải giáo dục bộ đội tiến công Đà Lạt về tinh thần kỷ luật và tổ chức tốt việc tiếp quản thành phố, giữ gìn và bảo quản tốt mọi thiết bị, phương tiện, mọi cơ sở. Trung đoàn đặc công 198 do đồng chí Thiếu tá Trần Kình chỉ huy được trang bị xe pháo vượt qua tỉnh Quảng Đức và thị xã Gia Nghĩa vừa được quân chủ lực miền Đông Nam Bộ giải phóng để cùng bộ đội Khu 6 tiến về giải phóng Đà Lạt.

Cán bộ cơ quan tham mưu ở mặt trận lúc này phải thốt lên: “Vẽ bản đồ không kịp bước quân đi”.

Tất cả các chiến trường đang thừa thắng xốc tới.

Hết: Chương 9, xem tiếp: Chương 10

vnthuquan.net