Mũi tiến công hiểm hóc, bất ngờ

QĐND – Sau chiến thắng Phước Long, để chuẩn bị cho thời cơ chiến lược mới, Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập Binh đoàn 232, gồm các Sư đoàn chủ lực 3, 5, 9 và một số đơn vị binh chủng tác chiến tập trung trên chiến trường các tỉnh Tây Ninh, Kiến Tường, Long An, Mỹ Tho; tạo bàn đạp vững chắc phía Tây và Tây Nam Sài Gòn… Đây cũng là mũi tiến công sắc nhọn, hiểm hóc, hoàn toàn bất ngờ với hệ thống phòng thủ của địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh, nhanh chóng, thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong nội đô Sài Gòn.

Bộ đội Sư đoàn 5 đánh chiếm Tiểu khu Hậu Nghĩa. Ảnh tư liệu.

Trong hệ thống phòng ngự của địch ở Sài Gòn khi đó, hướng Tây-Nam có vị trí hiểm yếu, nhưng lại tương đối yếu. Hiểm yếu vì nơi đây sát nách Sài Gòn, nối Sài Gòn, Long An với Mỹ Tho là căn cứ Vùng IV chiến thuật của quân ngụy theo Đường số 1. Ở hướng này nếu khắc phục được sình lầy và vượt được sông sẽ là thời cơ lớn cho chiến dịch binh chủng hợp thành cơ động tiếp cận và triển khai đột phá thẳng vào Sài Gòn, tạo thế áp đảo, phá vỡ thế trận địch, nhanh chóng giành được thắng lợi triệt để. Đây cũng là chiến trường quen thuộc, phù hợp với khả năng tác chiến của các Sư đoàn 3, 5, 9. Chọn hướng này, ta đã chọn điểm đúng “huyệt” hiểm, để ra đòn quyết định.

Địch bố trí lực lượng hướng Tây-Nam Sài Gòn mỏng là vì cho rằng, ta khó có thể tổ chức một mũi tiến công mạnh có xe tăng và pháo binh, xe cơ giới vượt sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây đánh vào Sài Gòn. Song để khắc phục địa hình bất lợi, Bộ tư lệnh Binh đoàn phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với Tỉnh ủy Long An, Mỹ Tho, Kiến Tường với nòng cốt là lực lượng công binh kết hợp với bộ đội địa phương, du kích và nhân dân huy động mọi phương tiện, vật liệu tại chỗ tạo đường dẫn vượt sình lầy và cầu, phà dã chiến cấp tốc đưa phương tiện, xe tăng, pháo cơ giới vượt sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây tiến công Hậu Nghĩa, Tân An, Bến Lức. Nhờ có binh khí kỹ thuật tập kết đúng thời gian quy định, các đơn vị của Binh đoàn 232 triển khai tiến công địch rất thuận lợi, phối hợp với bộ đội chủ lực và các lực lượng bộ đội địa phương, du kích giải phóng toàn bộ các huyện dọc sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, đưa lực lượng thọc sâu vào thành phố Mỹ Tho, cắt đứt Đường số 4, cô lập Sài Gòn với vùng IV chiến thuật; phá sản âm mưu ứng cứu Sài Gòn hoặc rút chạy về Đồng bằng sông Cửu Long cố thủ của quân ngụy.

Trần Văn Toản
qdnd.vn

Mỗi xe thành một mũi tiến công

QĐND – Ngay sau thắng lợi trận mở màn Buôn Ma Thuột, Đại đội Xe tăng 5, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn Xe tăng 273) được giao nhiệm vụ phối thuộc với Trung đoàn Bộ binh 28 (Sư đoàn 10), bước vào chiến đấu tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 581 và trên Đường 21, đánh bại âm mưu phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột của địch ngày 15-3-1975.

Xe tăng thuộc Trung đoàn 273 đánh địch phản kích trong trận mở màn Buôn Ma Thuột. Ảnh tư liệu.

Đại đội Xe tăng 5 được biên chế 5 xe, tham gia chiến đấu trên hai hướng, quá trình chiến đấu mỗi hướng hình thành từ một đến hai mũi tiến công, mỗi mũi tiến công có một xe tăng. Trên hướng chủ yếu, đại đội sử dụng một trung đội (3 xe) cùng bộ binh tiến công điểm cao 581 từ phía tây bắc. Hướng thứ yếu sử dụng một trung đội (2 xe) tiến công địch trên Đường 21 từ khu vực ki-lô-mét số 9 đến cầu Ya Ích. Sau khi phát hiện từ ngày 11 đến ngày 14-3, địch liên tiếp dùng máy bay đổ quân xuống điểm cao 581 và các khu vực xung quanh. Đến 6 giờ 30 phút ngày 15-3, địch tiếp tục đưa thêm lực lượng đến tăng viện. Trước thủ đoạn của địch, đúng 7 giờ 30 phút, Đại đội Xe tăng 5 được lệnh xuất kích theo Đường 21, đến tuyến triển khai cách mục tiêu khoảng 500m thì dùng pháo bắn vào đội hình địch, sau đó xung phong lên đánh các mục tiêu theo nhiệm vụ.

Trên hướng chủ yếu, 3 xe tăng của trung đội hình thành hai mũi. Mũi thứ nhất gồm 2 xe tiến gần đến điểm cao thì bị địch bắn trả quyết liệt, buộc phải ra hiệu cho bộ binh xuống xe. Sau đó, một xe tăng tốc vượt lên dùng hỏa lực pháo, súng máy 12,7mm và trung liên chi viện cho bộ binh vòng sang hai bên xung phong lên chiếm điểm cao. Chiếc xe còn lại gặp chướng ngại vật phải dừng lại dùng hỏa lực chi viện. Mũi thứ 2 có một xe từ phía Bắc vòng về phía Đông đón đánh địch từ điểm cao chạy xuống và tiêu diệt địch ở các ấp 1, 2, 3. Trước sức tiến công của xe tăng và bộ binh, lực lượng địch còn lại vội rút khỏi điểm cao 581 chạy về phía Đông. Xe 983 dùng hỏa lực súng máy chi viện cho bộ binh truy kích địch. Đến 12 giờ, ta làm chủ hoàn toàn điểm cao 581. Trên hướng thứ yếu, hai xe tăng của trung đội tiến theo Đường 21, tiêu diệt chốt đầu tiên của địch ở ki-lô-mét 9, phát triển chiến đấu đến gần cầu Ya Ích thì bị địch dùng hỏa lực bắn mạnh vào đội hình làm một xe bị hư hỏng. Chiếc xe còn lại của trung đội tăng tốc vượt lên băng qua cầu, xông thẳng vào trận địa pháo và cùng bộ binh tiêu diệt toàn bộ quân địch, sau đó chốt giữ tại trận địa.

Trong trận đánh này, Đại đội Xe tăng 5 đã vận dụng sáng tạo nghệ thuật tiến công trong hành tiến, đánh đúng thời cơ, tiêu diệt địch nhanh gọn, ít tổn thất. Mỗi xe hình thành một mũi tiến công, chủ động hiệp đồng với bộ binh tiêu diệt địch trên các hướng và phối hợp chi viện cho nhau trong quá trình chiến đấu; kết hợp đột phá chính diện với tiến công bên sườn phía sau, táo bạo thọc sâu, chia cắt, cơ động hỏa lực linh hoạt; bảo đảm tốc độ chiến đấu nhanh, tiêu diệt gọn, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Vũ Xuân
qdnd.vn

Nhớ những ngày chặn địch ở Tây Nguyên

QĐND Online – Những ngày đầu tháng 3-1975, sau khi Buôn Mê Thuột thất thủ, địch cay cú hô hào tái chiếm, vì vậy, tối 13-3-1975, cánh lính chúng tôi thuộc Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66, Sư đoàn 10) nhận lệnh cắt hướng Phước An (thuộc tỉnh Đắk Lắk) đánh quân địch đổ bộ.

Chặng hành quân của chúng tôi toàn đi trên nương đồi, phía trước địch thả bom toạ độ, rồi từng chập pháo bắn rộ lên. Hai bên đường là những dải đen sẫm nên không thể nhận ra làng bản hay rừng cà phê. Một đồng đội đi sau đẩy vào lưng tôi: “Bám sát lên đi! Người đi trước lạc đường là kéo theo cả một đoàn quân đấy!”. Tang tảng sáng, đơn vị chúng tôi đến một cánh rừng thưa, cây cối lúp xúp. Có lệnh dừng lại, chúng tôi ngồi xuống mà hai mắt díp lại vì buồn ngủ. Bộ đội tản ra các ụ đá nhấp nhô tranh thủ ngủ lấy sức, còn bộ phận nuôi quân gạn nước từ các vũng lầy để nấu cơm.

Hoàng Kim Hậu (đứng thứ hai từ trái sang) chụp ảnh kỷ niệm trước khi vào chiến trường miền Nam (ảnh chụp tại Phú Bình, Thái Nguyên năm 1971)

Khoảng 19 giờ tối ngày 14-3, chúng tôi leo lên đường 14 phía bắc Buôn Mê Thuột. Đang hành quân chui luồn qua nương đồi, nay đi trên mặt đường nhựa rộng rãi, phẳng lì, ai nấy đều thấy thoải mái. Phía sau chúng tôi là Buôn Mê Thuột, ánh hoả mai và tiếng bom vẫn chưa dứt, hình như tất cả chiến tranh đang dồn vào thị xã…

Ðại đội 7 của chúng tôi dẫn đầu đội hình. Chúng tôi vừa đi, vừa nghỉ, cứ dừng lại ngồi xuống là ngủ gật. Quá nửa đêm, cơn buồn ngủ như không thể cưỡng lại. Gần nửa tháng hành quân liên miên, những ai ở trong hoàn cảnh này mới thấy sự kỳ diệu của con người: vừa đi, vừa ngủ, người sau gục vào ba lô người đi trước mà ngủ. Không hiểu chúng tôi ngủ kiểu gì, trong đầu thì mê đi mà chân vẫn bước lẹp kẹp theo đội hình. Gần sáng, có người kéo áo, tôi choàng tỉnh, chợt nhận ra anh Mão – Chính trị viên đại đội. Thì ra, đội hình Tiểu đoàn đang vượt qua một bãi lầy, bên phải đường là một khu ruộng cấy, có một con suối chảy ngang qua, bùn réo ùng ục dưới chân. Leo lên một vạt nương với những bụi chuối tối sẫm, anh Mão và tôi cố vượt lên đuổi theo đơn vị. Có tiếng hỏi của người chỉ huy:

-Này, còn Đại đội 8 đã vượt đường xong chưa?

-Báo cáo, còn hai trung đội nữa đang vượt qua bãi lầy.

-Khẩn trương dồn lên đi. Cần tổ chức cho bộ đội vượt nhanh trước khi trời sáng…

Tôi nhận ra Trung đoàn phó trực tiếp đi theo cánh quân của Tiểu đoàn chúng tôi (người mà đến nay, tôi vẫn chưa kịp nhớ tên). Khi trời sáng rõ, chợt có tiếng đại liên và súng cối nổ ngoài bãi lầy, bộ đội chen nhau vượt lên. Đại đội trưởng chạy ào đến:

– Báo cáo, trung đội 12,7mm của đại đội 8 chưa sang hết. Ðịch đang bắn vào đội hình của ta. Xin ý kiến thủ trưởng!

– Sao các anh ngốc thế – Giọng Trung đoàn phó gay gắt – Hoả lực trong tay, địch bắn vào đội hình mà không kịp làm gì à? Cho bắn 20 quả cối 82mm!

Một bức ký hoạ chiến trường của Hoàng Kim Hậu.

Một lúc sau, tiếng cối của ta đáp lại thật đanh thép, súng 12,7mm quét hàng băng dài qua bãi lầy, địch tán loạn chạy vào trong bản, cối 82mm dồn theo.

Nắng bắt đầu gắt, từ mờ sáng đến trưa, chúng tôi chưa hề gặp một con suối nào. Đất đỏ ba zan ở đây tơi xốp thật, chúng tôi hành quân trong một nương chuối và đu đủ chín rục trên cây. Thỉnh thoảng qua một vạt nương khoai lang, chỉ cần đạp nhẹ một cái là dây và củ bật ra. Quá trưa, ai nấy khát cháy cổ, các bi đông nước đã dốc ngược mà vẫn không thấy một khe suối nào để kiếm nước nấu cơm. Chúng tôi phải dùng dao găm đâm vào gốc chuối để có nước uống, một thứ nước vừa chát, vừa hôi. Không có nước nấu cơm, chúng tôi đành phải lấy chuối chín và đu đủ ăn cho lại sức để tiếp tục hành quân.

Khoảng 13 giờ ngày 15-3-1975, chúng tôi được lệnh tản ra các bụi chuối thay nhau cảnh giới và ngủ lấy sức. Bỗng có tiếng B40 nổ, tiếng đạn cực nhanh loạn xạ, các trung đội nhận lệnh chuẩn bị xuất kích. Súng nổ một chập rồi im lặng, có một toán tàn binh địch gặp đội hình thu dung của ta và xảy ra cuộc đọ súng.

Chiều ấy, chúng tôi tiếp tục hành quân, tối mịt mùng vẫn không ra khỏi khu vườn đu đủ. Vừa đói, vừa mệt, các đại đội chia nhỏ ra từng tổ, thay nhau gác và ngủ qua đêm. Mãi 9 giờ sáng hôm sau, chúng tôi mới ra khỏi vườn cây và tìm được một khe suối bên vạt rừng le lưa thưa, cả đơn vị dừng lại nấu cơm…

Sau hơn 1 tuần hành quân trong rừng, chúng tôi ra tới một sườn đồi, phía trước là một thung lũng rộng với những dông đồi thoai thoải. Con đường 21 uốn lượn bên những sườn đồi xanh mát mắt. Tiếng súng từng chập lại rộ lên, các đơn vị bạn đang chuyển quân rầm rập, xe tăng, xe thiết giáp lấp ló trong cánh rừng thưa. Bất giác, tôi chợt thấy lòng mình rạo rực…

Hoàng Kim Hậu
qdnd.vn

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ 1)

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định cần phải phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ. Người nói: “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”.Dưới sự tổ chức và rèn luyện trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chỉ 15 năm sau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân – phong kiến, thành lập nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở đầu quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bàng hoàng và hoảng sợ trước ngọn đuốc giải phóng dân tộc trong thời đại mới đã được thắp sáng tại Việt Nam, thực dân Pháp và các thế lực phản động quốc tế phiêu lưu xâm lược Đông Dương một lần nữa. Sau nhiều cố gắng thương lượng bất thành, từ tháng 12 năm 1946, lãnh tụ Hồ Chí Minh một lần nữa lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam tiến hành trường kỳ kháng chiến và 9 năm sau kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Tiếp nối Điện Biên Phủ – Việt Nam là hàng chuỗi phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở không gian Á, Phi và Mỹ La tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Sau thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thế chân, nhảy vào miền Nam, âm mưu chiếm đóng, chia cắt lâu dài đất nước nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: hoàn thiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngay trong hoàn cảnh đặc biệt ấy, chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn ngày càng được củng cố, miền Bắc hoàn thành nghĩa vụ cao cả là hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ. Quân và dân miền Nam đã lần lượt làm thất bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tiến tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Lá cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân giương cao, biến Việt Nam thành lương tâm và khí phách của cả thờì đại. Chiến thắng năm 1975 của Việt Nam là chiến thắng của thời đại Hồ Chí Minh, chiến thắng của dân tộc chống đế quốc, của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản, của văn minh chống lại bạo tàn, góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về sự kiên định, trung thành với mục tiêu lý tưởng cộng sản; đồng thời, đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện Việt Nam, góp phần xứng đáng vào tăng cường sức sống cho hệ tư tưởng cộng sản trong thời đại mới. Chính vì vậy, Người không chỉ được kính trọng, ngưỡng mộ, mà còn là một tấm gương cần noi theo, một sự chỉ dẫn không thể thiếu đối với nhân dân Việt Nam và đông đảo lực lượng cách mạng, tiến bộ toàn thế giới trước kia, hiện tại và tương lai.
Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa cộng sản, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người trong một sự nghiệp cách mạng. Lập trường cộng sản của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở của một nhận thức đúng đắn, một ý chí sắt son với quốc gia dân tộc, một trình độ giác ngộ giai cấp sâu sắc qua thực tiễn hoạt động chính trị – xã hội phong phú của bản thân Người. Bởi vậy, ngay trong hoàn cảnh hoạt động bí mật hiểm nghèo, trong chốn lao tù khắc nghiệt, hay trong những thời điểm bị chính các đồng chí cộng sản hiểu lầm, đánh giá sai…, Người vẫn luôn luôn tự tin, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cộng sản.

Điều hết sức đặc sắc ở Hồ Chí Minh là Người đã duy trì sự kiên định, trung thành bằng cách vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận cộng sản chủ nghĩa một cách kịp thời, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như với bối cảnh mới của thời đại. Những luận điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi; về vai trò, vị trí của cách mạng vô sản ở thuộc địa đối với cách mạng thế giới nói chung và cách mạng vô sản ở chính quốc nói riêng; về khả năng, tiềm năng cách mạng của các lực lượng dân tộc chủ nghĩa ở Đông Dương; về giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; về quy luật ra đời của đảng cộng sản ở Việt Nam; về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa – phong kiến; về xây dựng nền văn hóa và con người mới xã hội chủ nghĩa; về khối đại đoàn kết toàn dân tộc như động lực của toàn bộ sự nghiệp cách mạng; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân với sức mạnh tổng hợp, chiến tranh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân; về xây dựng Nhà nước, xây dựng Đảng như tổ chức của những công bộc, những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; về nền đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, hợp tác và hội nhập quốc tế… là những cống hiến vô giá đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới.

Hệ thống lý luận do Mác, Ăngghen và Lênin xây dựng cách đây hàng thế kỷ vẫn có ý nghĩa thời đại sâu sắc một phần rất lớn là nhờ được nhiều lãnh tụ cách mạng, trong đó có Hồ Chí Minh của Việt Nam, bổ sung, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn sinh động của quốc gia và thế giới đương thời. Đối với những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn có giá trị soi sáng con đường cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội trước kia và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 25 năm đổi mới vừa qua cũng như những đóng góp của đổi mới đối với quá trình phục hồi, phát triển của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trên ý nghĩa hiện thực của nó, cũng chính là thành công và đóng góp của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là một chiến sĩ trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, có đóng góp to lớn cho tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân tất cả các nước, giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa vô sản và các dân tộc bị áp bức và giữa các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới với nhau. Chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh có nội dung phong phú: Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột; đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”; đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội; đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Từ năm 1912 đến năm l917, Người đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động. Thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ, sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa. Tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ I, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân như đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa. Người tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các diễn đàn này, Người kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh là một nhân cách cộng sản mẫu mực, suốt đời phấn đấu, hy sinh cho độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; sống cuộc đời giản dị, khiêm tốn, ham học hỏi, nói đi đôi với làm; thực hành nghiêm túc các nguyên tắc sinh hoạt của Đảng; gắn bó máu thịt với nhân dân, thường xuyên nhấn mạnh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Trọn đời, Người chỉ có một mục đích duy nhất là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Người “…chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t4, tr.161).

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, trong đó chứa đựng tinh hoa của đạo đức nhân loại, đạo đức dân tộc và đạo đức cộng sản mà Mác, Ăngghen, Lênin đã đặt nền móng. Nội dung hàng đầu của đạo đức Hồ Chí Minh là trung với nước, hiếu với dân, là tình yêu thương con người. Chữ “trung”, chữ “hiếu” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển lên tầm cao cộng sản, đó là trung thành với lợi ích quốc gia, với độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nghĩa cả, nghiệp lớn. Chính vì vậy, đạo đức Hồ Chí Minh là biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn cao cả nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người chỉ rõ: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t5, tr.252). Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, dốc trọn tâm can, nhiệt huyết cho dân, cho nước, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, không tơ hào lợi lộc, vinh hoa phú quý là nội dung rất quan trọng trong đạo đức Hồ Chí Minh, được vị lãnh tụ đề cập ngay từ đầu trong tác phẩm Đường cách mạng và nhấn mạnh trong Di chúc để lại cho đồng bào, đồng chí trước lúc đi xa.

Trong mọi hoàn cảnh, dù ở thủ đô hay trong rừng núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giản dị, thanh cao. Hình ảnh vị lãnh tụ với cháo bẹ, rau măng, lán rạ… trong núi rừng kháng chiến; hay đôi dép cao su, bộ ka ki khiêm tốn, ngôi nhà sàn bé nhỏ, đơn sơ… trên cương vị nguyên thủ quốc gia, mà khi đi vào cõi vĩnh hằng không để lại một chút tài sản riêng tư, đã tạc dấu ấn của một nhân cách cộng sản đích thực vào tinh thần thời đại ngày nay.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh còn tỏa sáng một cách mẫu mực từ việc làm, cách ứng xử và cuộc sống hàng ngày của Người. Khi kêu gọi toàn dân xây dựng hũ gạo kháng chiến, vị Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cũng mỗi bữa bớt lại một nắm gạo và 10 ngày nhịn ăn một bữa. Khi kêu gọi toàn dân rèn luyện thân thể, Người cũng “tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”. Để thực hiện nghiêm túc chủ trương tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn mang theo cơm nắm, muối vừng trong mỗi chuyến công tác,v.v… Suốt đời, Người thực hiện nói ít, làm nhiều, nói đi đôi với làm, cán bộ làm gương cho quần chúng noi theo, xây đi đôi với chống, lấy xây làm chính và thực hành tu dưỡng đạo đức thường xuyên như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh cũng tỏa sáng một cách độc đáo từ quan niệm Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Ngay sau khi thành lập nước, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, kiên trì đấu tranh phòng chống các căn bệnh, nguy cơ quan liêu, xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng nhân dân, đặc quyền đặc lợi, chủ nghĩa cá nhân… Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội chưa hẳn là đời sống vật chất cao, mà trước hết ở các giá trị nhân văn, đạo đức của nó, được thể hiện trong từng cán bộ cách mạng và đảng viên. Người nhấn mạnh: “Phong trào cộng sản quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh loài người chẳng những là do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành sức mạnh vô địch” (Hồ Chí Minh: Lênin và Cách mạng tháng Mười. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.160).
Thế giới ngày nay có biết bao đổi thay sâu rộng, khó lường. Sự nghiệp của những người cộng sản đã phải nếm trải không ít đổ vỡ, mất mát nhưng loài người không bao giờ quên, không bao giờ phủ nhận những đóng góp lịch sử vĩ đại của cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trong suốt thế kỷ XX. Loài người cũng mãi mãi tự hào về những chiến sĩ lỗi lạc, những lãnh tụ kiệt xuất đã từng xuất hiện và trưởng thành từ phong trào cộng sản, phong trào cách mạng sôi động ấy, trong đó có Hồ Chí Minh (Việt Nam).

Ở những thập niên đầu thế kỷ XXI hiện nay, nhân dân lao động toàn thế giới đang nỗ lực và sáng tạo đấu tranh vì một thế giới tốt đẹp hơn: một thế giới của hòa bình, độc lập dân tộc; một thế giới khác với thế giới tư bản chủ nghĩa, không còn áp bức, bóc lột, bất công. Tuy nội dung, hình thức đấu tranh có nhiều điểm khác trước, nhưng mục tiêu đấu tranh vẫn thống nhất với thời kỳ của các thế hệ tiền bối cách mạng. Bởi vậy, lá cờ của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và tấm gương của các chiến sĩ cộng sản lỗi lạc như Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị dẫn đường./.

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ 2)

TP – Năm 1965, dân chúng Mỹ bắt đầu nghi ngờ về việc Hoa Kỳ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến Việt Nam. Số lượng người phản đối ngày một tăng lên.

Sự phẫn nộ của những người yêu hòa bình

Nhiều thanh niên bất mãn đã tách khỏi xã hội Mỹ và thành lập những công xã như thế này

Các cuộc phản đối được thực hiện với nhiều kiểu thể hiện: Những buổi biểu diễn nhạc chống chiến tranh, tuần hành đòi ngưng ném bom, khẩu hiện dán trên xe máy: Tình yêu chứ không phải chiến tranh, và biểu ngữ “Chiến tranh có hại cho trẻ em và những sinh vật khác”.

Thanh niên Mỹ đốt giấy triệu tập nghĩa vụ quân sự và bao vây các trung tâm tuyển quân. Các cuộc biểu tình lan vào trường học, đặc biệt là sau khi việc hoãn triệu tập nghĩa vụ quân sự đối với sinh viên bị bãi bỏ.
Năm 1968, khoảng 10.000 người Mỹ đã di cư sang Canada để tránh phục vụ cho cái mà họ gọi là cuộc chiến tranh đồi bại.

Lý do để những người yêu hòa bình phản đối cuộc chiến này được đưa ra ngày càng nhiều. Một trong những lý do chính là họ cho rằng thực chất của cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là một cuộc chiến trong đó lực lượng Việt Cộng đã cố gắng để đánh bại một chính phủ tham nhũng và vô dụng ở Sài Gòn.

Những người yêu hòa bình tố cáo Chính phủ Hoa Kỳ đã hủy hoại cả đất nước và con người Việt Nam, đã làm cho hàng ngàn người Mỹ chết, bị thương, và cái giá của cuộc xung đột này còn thể hiện ở chỗ nạn lạm phát trầm trọng.

Phái hiếu chiến lại đồng ý với Johnson rằng cuộc chiến ở Việt Nam quan trọng đối với an ninh của nước Mỹ và cần chấp nhận sự chết chóc và tốn tiền của. Thậm chí còn có người đòi chiến tranh phải leo thang thêm nữa.

Họ tin sẽ có “ánh sáng ở cuối đường hầm” và chỉ có những nỗ lực hết cỡ của quân đội mới có thể mang lại chiến thắng trọn vẹn. Họ dẫn chứng từ những báo cáo của những nhà ngoại giao Mỹ và tư lệnh ở chiến trường Việt Nam rằng đối thủ của họ đã kiệt sức và đang đứng trước bờ vực chiến bại.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Tối thứ Ba ngày 30 tháng Chạp năm 1968, là ngày đón năm mới của người Việt Nam. Những ngày kế tiếp được gọi là Tết – những ngày bắt đầu một năm mới tính theo lịch mặt trăng.

Ở khắp các đô thị miền Nam VN, đường phố đông nghẹt những người trẻ tuổi trông như vừa mới từ ngoại ô lên để đón lễ. Ngoài ra còn có rất nhiều những đám tang bất thường với kèn sáo, và dĩ nhiên là cả quan tài.

Nhưng khi vỡ lở rồi mới biết, áo quan chứa toàn vũ khí, còn những người ngỡ như nông dân lại là Việt Cộng. Tối đó, Việt Cộng đã mở một cuộc tấn công kinh hoàng khắp cả trăm đô thị ở miền Nam, trong đó có Sài Gòn và 26 tỉnh lỵ.

Sau một tháng chống trả, quân đội Nam Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ giành lại được quyền kiểm soát, làm thương vong 42.000 quân Việt Cộng. Đó là một sự kiện chứng tỏ với Johnson rằng đối phương không hề đã bị đẩy đến bờ vực đầu hàng và cuộc chiến hãy còn dài lắm.

Johnson quyết định rút lui

Trước dấu hiệu có thể bị thất bại trong cuộc chạy đua tiếp theo vào Nhà Trắng bởi những đối thủ có chính sách hòa bình ở Việt Nam được đông đảo cử tri ủng hộ, mà một trong những người đó chính là anh trai của cố Tổng thống John Kennedy – ông Robert Kennedy, người đã đề nghị việc Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam từ đầu năm 1963 với phát biểu: “Chúng ta đang giết những người vô tội…”

Là một chính trị gia tinh quái, Johnson hiểu điều gì sắp xảy ra. Ngày 31/3/1968, ông tuyên bố trên tivi: “Tôi đang từng bước hạ màn chiến tranh ở Việt Nam. Tôi đã đề nghị không lực của chúng ta không tiếp tục oanh tạc Bắc Việt Nam”.

Sau một thoáng suy nghĩ, ông nói tiếp: “Đang có sự chia rẽ trong các gia đình người Mỹ. Do đó, tôi không mong muốn, và cũng không chấp nhận Đảng của tôi bổ nhiệm tôi làm tổng thống trong nhiệm kỳ tới”.
Bốn năm trước, Johnson nhận được sự ủng hộ của đông đảo cử tri Mỹ. Nhưng lúc này, ông đã phải tuyên bố giã từ sự nghiệp chính trị của mình.

Sau đó một tháng, một cuộc đàm phán sơ bộ giữa những người đại diện của ông Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ được tổ chức ở Paris. Bất chấp điều đó, chiến sự vẫn nổ ra.

Thời đại Nixon

Cuối những năm 1960, người Mỹ ngao ngán với những cuộc bạo động, biểu tình. Cuộc chiến ở Nam á vẫn không có được câu trả lời khi nào thì chấm dứt. Việc hai chính khách bị ám sát trong cuộc tuyển cử năm 1968 càng làm cho dân chúng lo lắng và thất vọng. Vì thế cử tri Mỹ đã bỏ phiếu cho ứng cử viên hứa hẹn đoàn kết đất nước lại.

Richard M.Nixon trở thành Tổng thống Hoa Kỳ tháng Giêng năm 1969. Năm 1972, ông tái đắc cử. Chính quyền Nixon thay đổi chính sách đối ngoại, tái lập mối quan hệ với Trung Quốc, và muốn chấm dứt sự liên lụy với cuộc chiến Việt Nam.

(Còn tiếp)
Hoàng Thiên Nga – Võ Phụng Hoàng
dịch và tổng hợp

>>Kỳ 1: Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam?

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ cuối)

TP – Nixon luôn phải nỗ lực quyết liệt để đạt được những thành tựu trong cuộc đời. Điều đó khiến ông ta có nhận định rằng thế giới chỉ là một đấu trường trong đó chỉ có chiến thắng mới là điều đáng quan tâm.

ảnh đăng trang 716 với ghi chú : "Vợ chồng Tổng thống Nixon đón nhận sự cổ vũ sau bài diễn văn ông đọc vào năm 1968 tại New York"

Nixon và kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh

Có vẻ như ông ta nhìn nhận những người không cùng quan điểm không đơn giản chỉ là người bất đồng với ông mà là kẻ thù của ông. Những người này đe dọa đến quyền lực của ông và họ cần phải bị tiêu diệt.

Nixon cư xử nếu không nói như một Hoàng đế, thì cũng giống một hoàng tử. Ông ta mua một biệt thự giá 250.000USD ở Key Biscayne– Florida, và một biệt thự khác ở San Clemente– California mà ông ta phong cho cái tên là Nhà Trắng miền Tây.

Chính phủ của ông chi hết 10,5 triệu USD trong hai nhiệm kỳ, một phần trong số đó là để trang bị vũ khí và thiết bị an ninh, còn phần lớn là để sắm sửa đồ đạc và xây dựng cảnh trí. Mười sáu phi cơ và mười sáu máy bay trực thăng luôn phải túc trực để ông sử dụng. Quản gia, người hầu, đầu bếp, thợ làm vườn, lái xe của Nixon gồm cả trăm người.

Trong một lần trả lời báo chí, Nixon cho rằng: “Tổng thống phải khác người, ông ta phải có một phong cách đặc biệt. Bởi dân chúng muốn như vậy. Họ không muốn Tổng thống cũng tham gia vào đám đông và nói : Nhìn này, trông tôi cũng giống với các anh”. Thế nên, người ta luôn thấy ông thắt cà-vạt và mặc áo choàng. Và thậm chí bạn thân của ông ta cũng không được gọi tên của ông, mà phải trân trọng gọi là Mr.Nixon hoặc ngài Tổng thống.

Với thái độ xa lánh dân chúng kiểu đó, dưới thời đại của ông rất ít có những cuộc họp báo và các thông tin quan trọng thường không đến được với dân chúng Mỹ. Một ví dụ là Nixon đã không nói về việc ông cho ném bom Campuchia mãi đến khi việc này đã xảy ra được hơn một năm.

Nhiều người lo ngại rằng Tổng thống đã bao trùm những luật lệ của riêng ông lên Chính phủ.

Tháng 6/1969, Nixon tuyên bố kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”. Có nghĩa là sẽ từ từ rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam và để miền Nam Việt Nam tự giải quyết cuộc chiến của họ. Cuối tháng 8/1969, nhóm 25.000 lính Mỹ đầu tiên trở về nhà. Thời điểm đó, ông tăng cường ném bom miền Bắc, và bí mật ném bom cả Lào và Campuchia.

Phong trào phản chiến tăng lên

Ảnh đăng trang 719 với ghi chú : “Gia đình Nixon thăm Vạn lý trường thành. Chuyến thăm Trung Quốc năm 1972 này đã đánh dấu một mốc chuyển biến quan trọng trong đường lối đối ngoại của Hoa Kỳ”

Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh chỉ thành công một phần. Số lượng binh lính Mỹ trở về nhà ngày một tăng lên, nhưng chính quyền tham nhũng và kém hiệu quả của Nguyễn Văn Thiệu không thể tuyển được đủ quân để lấp vào khoảng trống đó.

Trong khi đó, các tổ chức phản chiến ở Mỹ ngày càng lớn mạnh. Ngày 15/5/1969 hàng trăm ngàn người Mỹ đeo băng đen trên tay áo đổ ra đường diễu hành.

Một cuộc xuống đường tương tự diễn ra vào ngày 15/10/1969. Rồi ngày 15/11/1969 tại Washington khoảng 40.000 người tham gia cuộc đi bộ “Phản đối sự chết chóc” , mỗi người cầm một tấm bảng có ghi tên một lính Mỹ chết ở Việt Nam.

Ông Nixon không chứng kiến các cuộc diễu hành này. Ngồi trong Nhà Trắng, ông bận xem trận bóng đá trên tivi. Ông ta cảm thấy việc rút quân khỏi Việt Nam một cách vô điều kiện là nhục nhã.

Và để có “Hòa bình trong danh dự” thì phải thông qua việc Việt Nam hóa chiến tranh. Một cuộc thăm dò dư luận Mỹ cho thấy 3/4 dân chúng Mỹ đồng tình với quan điểm này của Tổng thống.

Nhưng dần dần cách nhìn nhận của dân chúng Mỹ thay đổi. Tivi đã đưa hình ảnh về sự chết chóc và hủy hoại trực tiếp vào tận trong các gia đình người Mỹ. Báo chí đăng tải những sự kiện như lính Mỹ tàn sát cả một làng của người Việt ở Mỹ Lai.

Mùa xuân 1970, Nixon thông báo quân đội Mỹ đã xâm chiếm Campuchia để xóa sổ những địa điểm tiếp tế của Việt Cộng và Bắc Việt Nam. Dù cho binh lính đã rút khỏi đây vào tháng Sáu, nhưng phong trào phản chiến vẫn ngày càng sôi sục. Quốc hội có nghị quyết đòi việc ném bom Campuchia phải chấm dứt vào tháng Bảy.

Sinh viên đồng loạt biểu tình. Hơn 400 trường học đóng cửa. Từ ngày 9 đến 10/5/1970, khoảng 100.000 sinh viên tập trung trước Nhà Trắng. Thoạt đầu, Nixon gọi họ là những kẻ lười biếng vô công rồi nghề.

Sau đó ông ta tìm cách trò chuyện với họ trong trật tự và thân thiện. Nhưng thay vì nói về chiến tranh, ông chỉ đề cập đến bóng đá và lướt sóng. Một tờ báo viết về sự kiện này : “ Hai người Mỹ gặp nhau và ông nói gà bà nói vịt”.

Việc thương lượng hòa bình vẫn được tiến hành ở Paris. Ngày 8/10/1972, sau khi đã kiên nhẫn thảo luận, Kissinger tuyên bố một thỏa thuận ngừng bắn với Bắc Việt Nam chuẩn bị được ký kết. Hòa bình trong tầm tay. Ngày 23/10, ông ta lại nói việc ký hiệp ước bị trì hoãn vì có những điểm cần làm sáng tỏ.

Có một lý do mà Nam Việt Nam không chấp thuận. Đến tháng 11, việc làm sáng tỏ này vẫn chưa hoàn tất, Nixon ra lệnh huy động tổng lực không quân Hoa Kỳ tấn công Bắc Việt Nam. Thật không may, hầu hết doanh trại, kho hàng, nhà máy là những điểm chính của cuộc tấn công đều được đặt ở khu dân cư đông đúc. Nhà cửa, trường học, bệnh viện bị phá hủy ngoài chủ định, tổn thất trong người dân cũng rất cao.

Trước sự việc đó, nhiều đại biểu Quốc hội trước đó từng ủng hộ Nixon cũng đã lên tiếng đòi nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến. Cuối cùng thì ngày 27 tháng Giêng năm 1973, Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ cũng ký vào bản thỏa thuận này. Mỹ rút quân nhưng vẫn chi viện cho Nam Việt Nam. Còn Bắc Việt Nam thì thả tù binh Mỹ.

Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. 46.000 binh lính Mỹ tử trận, 300.000 bị thương, tiêu tốn hết 137 tỷ USD. Một hậu quả vô hình khác là sự chia rẽ trong các gia đình Mỹ và cảm giác bứt rứt của người Mỹ.

Sự tôn trọng chính quyền liên bang cũng bị giảm sút bởi sự che đậy các hành động của họ trước dân chúng. Trong đầu người Mỹ đã xuất hiện cảm giác không muốn có bất cứ một trường hợp Việt Nam tương tự nào nữa, nhưng họ vẫn mơ hồ về việc nước Mỹ có nên tiếp tục quan tâm đến những lục địa phía Tây bán cầu nữa hay không.

Một hệ quả của cuộc chiến này là sự hạn chế quyền hạn của Tổng thống trong chiến tranh. Tháng 11/1973, Quốc hội thông qua nghị quyết Quyền hạn trong chiến tranh, nêu rõ: Tổng thống gửi quân đội ra nước ngoài phải giải trình với Quốc hội trong vòng 48 giờ. Quốc hội có thể ra quyết định rút quân trong vòng 60 ngày. Nixon phủ quyết nghị quyết này, nhưng nó vẫn được thông qua mà không cần đến sự đồng ý của ông ta…

Thay lời kết

Người bạn gửi tặng chúng tôi cuốn sách này là Nguyễn- kỹ sư cơ giới hạng nặng đang làm việc tại một thành phố nhỏ phía Nam nước Mỹ. Gần 30 năm trước anh đã từng trải những ngày tháng kinh hoàng của thân phận vượt biên trái phép.

Vài năm trở lại đây cuộc sống riêng ổn định, vợ chồng anh vẫn dành trọn những ngày cuối tuần làm việc thêm ngoài giờ để có thêm tiền gửi về hỗ trợ nhiều hoàn cảnh khó khăn trên mọi miền đất nước mà báo chí Việt Nam kêu gọi giúp đỡ, đồng thời chuẩn bị tỉ mỉ về một kế hoạch mở lớp dạy nghề cơ khí miễn phí cho trẻ nghèo sau ngày hồi hương.

Nguyễn tâm sự: Anh chỉ là một trong hàng triệu Việt kiều luôn tha thiết thương nhớ quê hương, ước mong được đóng góp thật nhiều cho đất nước.

>>Kỳ 2 —->> Kỳ trước

Hoàng Thiên Nga – Võ Phụng Hoàng

5 cánh quân giải phóng Sài Gòn (Bài 1)

Quân đoàn 1 mở cửa hướng Bắc

Vượt chặng đường dài 1.700km, ngày 14-4-1975, các đơn vị của Quân đoàn 1 đã có mặt tại khu vực tập kết Đồng Xoài và sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu – tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh – trận đánh cuối cùng trong công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Gian nan đường hành quân

Ngày 31-3-1975, chấp hành nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Quân ủy Trung ương, tại Tổng hành dinh ở Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Thế Bôn, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 1: “Quân đoàn 1 (trừ Sư đoàn 308) có nhiệm vụ tổ chức hành quân gấp vào miền Đông Nam bộ, hiệp đồng với các đơn vị bạn tham gia trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn – Gia Định”.

Lữ đoàn xe tăng 202 phối hợp cùng Sư đoàn 320B, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy.

Chỉ trong vòng 16 ngày, Quân đoàn 1 đã tổ chức được các lực lượng tập kết tại Đồng Xoài – tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước). Bộ Tư lệnh Quân đoàn nhận định: Lúc này trên cả trục đường (đường số 1, đường Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn) đều có những khó khăn, thuận lợi.

Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định hành quân trên đường Tây Trường Sơn. Quân đoàn chia làm 2 khối, đi bằng ô tô (Bộ Tư lệnh Trường Sơn hỗ trợ thêm ô tô) và cơ động theo đường 9 qua Hạ Lào vào Tây Trường Sơn đến Đắc Tô rồi nhập vào đường 14 để vào tập kết ở Đồng Xoài. Ngày 3-4, toàn quân đoàn ra trận. Đội hình hành quân của quân đoàn kéo dài hàng trăm cây số.

Ông Ngô Viết Đông, chiến sĩ lái xe Sư đoàn 751, Bộ Tư lệnh Trường Sơn lúc đó cho chúng tôi biết: “Càng tiến về khu vực Hạ Lào, khí hậu khô bức. Đất bụi mịt mù. Tuy không nhìn rõ nhau, nhưng các xe vẫn cố bám đội hình hành quân. Bộ đội chúng tôi ăn ngủ ngay trên xe. Mỗi xe bố trí 2 lái xe đi liên tục cả ngày lẫn đêm. Mỗi xe là một phân đội nhỏ tự quản lý, giúp đỡ nhau về mọi mặt. Khi gặp địch thì từng xe là một phân đội chiến đấu. Nếu bị tắc đường, các xe phối hợp lại giúp nhau để giải tỏa nhanh chóng”.

9 giờ 30 phút ngày 7-4-1975, khi liên lạc với Bộ Tổng tư lệnh, Sở Chỉ huy Quân đoàn nhận được bức điện khẩn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Toàn văn bức điện như sau: “Gửi Bộ tư lệnh 559, Tiền phương 559. Các sư đoàn, các đoàn binh khí kỹ thuật trên đường hành quân. 559 chuyển Quân đoàn 1, Quân đoàn 2… Mệnh lệnh: Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”.

Trong lịch sử quân đội ta chưa bao giờ có một cuộc hành quân quy mô đến thế, thần tốc như thế. Khi xưa, vua Quang Trung tổ chức hành quân thần tốc từ Phú Xuân ra Thăng Long, chặng đường dài 700 km, ngày đi đêm nghỉ. Trong Chiến dịch giải phóng Sài Gòn này, đoàn quân với hàng ngàn phương tiện cơ giới đã vượt chặng đường dài 1.700km từ Bắc vào Nam, đi suốt ngày đêm không nghỉ.

Trong khi lực lượng cơ bản của Quân đoàn 1 đang thần tốc tiến về miền Đông Nam bộ thì Sư đoàn 308 cũng được lệnh rời doanh trại xuất phát tiến về Nam thực hiện cuộc nghi binh chiến lược. Các đơn vị thông tin vô tuyến của sư đoàn ở vị trí cũ vẫn đều đặn phát tín hiệu lên không trung vào các giờ quy định. Đối phương không thể ngờ, Sư đoàn 308 lặng lẽ hành quân bí mật vào chiếm lĩnh vị trí ở khu vực Tam Điệp – Bỉm Sơn (Ninh Bình) để sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và cơ động chi viện chiến trường.

  • Mở toang cửa phía Bắc

Ngày 25-4, tại Sở chỉ huy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn phổ biến quyết tâm chiến đấu của Quân đoàn, văn bản đã được Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh phê chuẩn và giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị. Sư đoàn 320B cùng một số đơn vị đảm nhiệm tấn công, thọc sâu vào Sài Gòn, chiếm Bộ Tổng tham mưu và chi khu Gia Định. Hướng thứ yếu, Sư đoàn 312 và một số đơn vị khác đảm nhiệm tiến công, chia cắt, ngăn chặn, bao vây cô lập tiến tới tiêu diệt Sư đoàn 5 ngụy không cho chúng co cụm hoặc rút chạy về Sài Gòn.

Kế hoạch tác chiến này khẳng định cách đánh dùng lực lượng binh chủng hợp thành, tiến hành đồng thời giữa đột phá với thọc sâu chiến dịch, kết hợp với LLVT địa phương tạo nên sức mạnh tổng hợp của đòn tiến công và nổi dậy. Đây là lần đầu tiên quân đoàn tổ chức lực lượng sư đoàn tăng cường đánh thọc sâu vào thành phố. Nhờ được tập luyện trong cuộc diễn tập ở Sầm Sơn (tháng 1-1975), Quân đoàn đã tích lũy kinh nghiệm vận dụng đúng tại hướng Bắc Sài Gòn.

17 giờ ngày 26-4, Quân đoàn 1 đã chiếm lĩnh các vị trí ở hướng Bắc Sài Gòn và sẵn sàng xuất phát tiến công. Trong khi địch đang tăng cường sử dụng không quân, pháo binh ngăn chặn ta từ xa và điều thêm lực lượng chốt giữ các căn cứ vòng ngoài như Bình Mỹ, dốc Bà Nghĩa, quận lỵ Tân Uyên… (tỉnh Bình Dương) thì ta đã áp sát các căn cứ Chánh Lưu (Bình Dương) và Phước Vĩnh, Phước Hòa (tỉnh Phước Long) nay là Bình Phước; thực hiện nghi binh thu hút sự chú ý của địch; buộc Sư đoàn 5 của ngụy phải điều Trung đoàn 8 ra chặn đường 14.

Đêm 26-4, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh Chiến dịch đến kiểm tra lại các mặt chuẩn bị của Quân đoàn 1. Sau khi nghe đồng chí Nguyễn Hòa, Tư lệnh Quân đoàn 1 báo cáo tình hình, Đại tướng Văn Tiến Dũng thông báo: “Cánh quân phía Đông và Đông Nam đang phát triển nhanh. Các nơi đang kiềm chế trận địa pháo binh địch. Chính quyền Sài Gòn chưa phán đoán được ý đồ và cách đánh của ta nên đối phó rất bị động và lúng túng. Chiến dịch đang phát triển thuận lợi”.

Đại tướng nhấn mạnh, Quân đoàn 1 tăng cường theo dõi chặt chẽ tình hình sau khi ta đánh mở cửa, cài thế chiến dịch. Phải nắm chắc mọi động thái của Sư đoàn 5 ngụy, kịp thời tổ chức tiến công tiêu diệt khi chúng rút chạy, co cụm. Đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho mũi thọc sâu theo kế hoạch, kịp thời xử trí các tình huống bất trắc xảy ra.

16 giờ 30 phút ngày 27-4, Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn 1 ra lệnh cho Sư đoàn 312 nổ súng tiến công cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ (thuộc tỉnh Bình Dương). 18 giờ, ta đã tiêu diệt và làm tan rã quân địch, mở thông đường 16 tạo điều kiện cho quân ta di chuyển nhanh từ Chánh Lưu để đi nhanh về Lái Thiêu, tạo điều kiện cho lực lượng vào triển khai theo kế hoạch.

Với chủ trương đi đường vòng, bỏ qua các mục tiêu dọc đường để nhanh chóng tiến quân vào mục tiêu với tinh thần quyết thắng. Sáng 29-4, các cánh quân đồng loạt tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch tại Sài Gòn. Trong khi Sư đoàn 312 tổ chức tiến công, bao vây, chia cắt, cô lập Sư đoàn 5 ngụy thì Sư đoàn 320B tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tiến công.

Sau một ngày chiến đấu, Trung đoàn 209 đã cắt đứt hoàn toàn đường 13 và 14, không cho Sư đoàn 5 của ngụy ứng cứu cho nhau. 4 giờ 15 phút ngày 30-4, Trung đoàn 27 nổ súng tiến công Lái Thiêu. Sau 2 giờ chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ Lái Thiêu, mở toang cánh cửa phía Bắc Sài Gòn.

Theo đồng chí Vương Văn Vinh, Đại đội trưởng Đại đội 5, Tiểu đoàn 5, khi đó: “Trận đánh quá bất ngờ nên quân địch không biết. Tờ mờ sáng ngày 30-4, một đoàn xe của địch ở đâu tự nhiên tiến vào Lái Thiêu. Tiểu đoàn chúng tôi liền triển khai đội hình. Tốp đi đầu khoảng 20 xe có xe tăng bị ta tiêu diệt trên đường 13. Tốp sau hơn chục xe liều chết vượt qua đường 13 về phía Bắc Lái Thiêu để về Sài Gòn cũng bị ta tiêu diệt nhanh chóng”.

8 giờ 30 phút ngày 30-4, một cánh quân khác của Quân đoàn 1 là Trung đoàn 48 đã vượt qua cầu Bình Triệu và qua ngã tư Phú Nhuận, theo đường Võ Tánh vào đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy (nay là BTL QK7, đường Hoàng Văn Thụ). 9 giờ 30 phút, ba mũi tiến công từ ba cổng đã gặp nhau ở khu vực cột cờ trước sân trụ sở Bộ Tổng Tham mưu ngụy.

Trước sức tiến công áp đảo của ta, binh lính sĩ quan ngụy thuộc tiểu đoàn biệt kích dù, bảo vệ Tổng hành dinh và các đơn vị khác đã phải lột bỏ quân phục, vứt súng bỏ chạy thoát thân. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 là Đoàn Trưng và Chính ủy Lê Xuân Yến tiến vào phòng làm việc của tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân ngụy, thu nhiều tài liệu quan trọng. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, cờ giải phóng đã tung bay trên nóc trụ sở Bộ Tổng tham mưu ngụy trong tiếng hò reo chiến thắng!

Sáng 25-4, tại Nhà Văn hóa Thanh niên, hơn 500 bạn trẻ đã tham dự chương trình giao lưu “Thành đoàn – Viết tiếp bản hùng ca” do Thành đoàn TP Hồ Chí Minh tổ chức.

Với việc hình thành 5 cánh quân bộ đội chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn thì tại Sài Gòn, LLVT nội thành cũng đã xây dựng 5 cánh quân tại các khu vực: Ngã Bảy, Bàn Cờ, Vườn Chuối (quận 3); Xóm Chiếu, Khánh Hội (Quận 4); ngã tư Phú Nhuận (quận Phú Nhuận); Cầu Bông, Bà Chiểu (quận Bình Thạnh); Tân Phú, Tân Sơn, Bà Điểm (quận Tân Bình). Đây là lực lượng tại chỗ gồm nhân dân, sinh viên, học sinh, trí thức… do Thành đoàn TPHCM phát động và lãnh đạo quần chúng chuẩn bị nổi dậy.

Qua lời kể của bà Trương Mỹ Lệ (trực tiếp chỉ huy 5 cánh quân LLVT nội thành); bà Trần Thị Ngọc Hảo (phụ trách cánh quân tại quận 4) và ông Nguyễn Văn Ngọc (phụ trách cánh quân tại quận Tân Bình), lực lượng đặc biệt này đã tổ chức vận động nhân dân chuẩn bị lương thực, dụng cụ y tế, may cờ, băng rôn, khẩu hiệu… tổ chức thu gom vũ khí, bảo vệ an ninh trật tự nội đô suốt ngày 30-4-1975 và bàn giao lại cho chính quyền quân quản vào ngày hôm sau.

ĐOÀN HIỆP

_________________

(Trong bài có sử dụng tài liệu “Năm 1975, những sự kiện lịch sử trọng đại”, “Những chiến dịch có ý nghĩa quyết định thắng lợi trong Đại thắng Mùa xuân 1975” của Nhà xuất bản QĐND, xuất bản tháng 4-2010).

SGGP Online

5 cánh quân giải phóng Sài Gòn (Bài 2)

Quân đoàn 2 tiến về Sài Gòn từ hướng Đông Nam

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với ông ký ức hào hùng, oanh liệt về những ngày cuối cùng của tháng 4 lịch sử cách đây 35 năm và những trận đánh tốc chiến tốc thắng của Quân đoàn 2 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vẫn như còn rất mới. Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam, chúng tôi được trò chuyện với ông – Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, hiện là Chủ tịch Hội Nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam để nghe ông kể về những kỷ niệm đáng nhớ của tháng tư năm xưa.

Quân đoàn 2 còn gọi là “Binh đoàn Hương Giang”, được thành lập ngày 17-5-1974 tại tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên – Huế).

Quân đoàn 2 ban đầu gồm các sư đoàn bộ binh: 325, 304, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn đặc công 116, Sư đoàn pháo cao xạ 673. Tổng số xe chở hàng và chở người của Quân đoàn 2 lên tới 2.267 chiếc.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 2 do Thiếu tướng Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Linh là Chính ủy đã được giao nhiệm vụ tiến công đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu Long Bình, căn cứ Long Bình, chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ… cảng và bến phà Cát Lái, đánh chiếm Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa, pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhất, quận 9 và quận 4 và hợp điểm tại Dinh Độc Lập.

Chiếc xe tăng số hiệu 390 của Đại đội 4, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Quân đoàn 2 là chiếc tăng đầu tiên đã húc đổ cánh cổng sắt lạnh lùng của Dinh Độc Lập và đại úy Bùi Quang Thận đã cắm lá cờ chiến thắng lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975 trên nóc Dinh Độc Lập kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

T.L.

Một buổi sáng sớm cuối tháng 4, trong căn phòng trang trí giản dị của Hội Nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh hào hứng kể cho chúng tôi nghe về những ngày oanh liệt của Quân đoàn 2 trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Theo ông, chiến dịch Hồ Chí Minh dù chỉ diễn ra trong vòng 5 ngày (từ 26-4 đến 30-4-1975) nhưng là một chiến dịch điển hình về nghệ thuật quân sự Việt Nam trong sự phối hợp hiệp đồng tấn công của các binh chủng tạo thành một sức mạnh tổng hợp để tiêu diệt quân thù.

Theo Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh (khi ấy là Tham mưu phó Sư đoàn 325), các lực lượng của Quân đoàn 2 không chỉ có nhiệm vụ đánh chiếm nhiều vị trí quan trọng của địch trong nội đô Sài Gòn mà còn ngăn chặn, chia cắt đường rút của quân địch qua sông Lòng Tàu và căn cứ hải quân Cát Lái. Hơn nữa, vùng Đông Nam Sài Gòn địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều đồng lầy lớn và sông ngòi chằng chịt nên trong quá trình đánh chiếm các vị trí của địch Quân đoàn 2 phải cố gắng bảo vệ các cây cầu trên đường tiến quân, không để địch phá hoại nhằm tránh gây khó khăn cho những trận đánh vào nội đô của quân ta. Vì vậy Quân đoàn 2 được Bộ chỉ huy chiến dịch cho lệnh “khai hỏa” sớm hơn một ngày so với các hướng tấn công khác để đảm bảo thời gian hiệp đồng cùng với các cánh quân khác đánh vào nội đô Sài Gòn cùng một lúc.

17 giờ ngày 26-4-1975, các sư đoàn, binh đoàn trong Quân đoàn 2 bắt đầu tấn công trên mặt trận phía Đông và Đông Nam Sài Gòn. Tiếng pháo của Lữ đoàn pháo binh 164 cùng các sư đoàn, tiểu đoàn khác của quân đoàn đồng loạt nã vào các mục tiêu trên đường tấn công. Địch kháng cự rất quyết liệt, chúng dùng pháo binh bắn vào đội hình của ta, dùng xe tăng – thiết giáp để cố bịt các cửa vừa bị quân ta mở ra.

Trước hỏa lực mạnh của chúng ta, cùng với sự quyết tâm, quả cảm của các lực lượng bộ binh, xe tăng, pháo binh mà các cụm quân địch nằm trên tuyến phòng ngự vòng ngoài như căn cứ Nước Trong, Trường Thiết giáp, chi khu Long Thành, thành Tuy Hạ đã không thể cầm cự lâu hơn chờ viện binh mà lần lượt bị đập tan.

Chiều ngày 29-4, tất cả mục tiêu của địch ở phía vòng ngoài để bảo vệ nội đô Sài Gòn ở hướng Đông Nam đều bị Quân đoàn 2 tiêu diệt. Sau khi chiếm được khu vực Nhơn Trạch, sáng sớm ngày 29-4, theo đúng kế hoạch đã định pháo 130mm của Lữ đoàn 164 đã nã liên tục vào sân bay Tân Sơn Nhất nhằm khống chế sân bay, không cho quân địch chạy thoát.

Các đồng chí chỉ huy Quân đoàn 2 và Sư đoàn 304 trên đường tiến quân vào Sài Gòn. Ảnh: TƯ LIỆU

Lúc này, sân bay Tân Sơn Nhất chìm ngập trong biển lửa, nhiều đoạn đường băng và máy bay của địch bị phá hỏng. Tiếng pháo của các đơn vị thuộc Quân đoàn 2 gầm vang khắp nội đô Sài Gòn, khiến quân địch khiếp đảm.

Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh cho biết, trong những giờ phút mà khí thế chiến thắng của quân ta đang lên như nước vỡ bờ thì chúng tôi nhận được mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc thần tốc hơn nữa, táo bạo táo bạo hơn nữa, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng”.

Mệnh lệnh này đã tiếp thêm sức mạnh khiến toàn bộ anh em chiến sĩ tham gia chiến dịch thêm quyết tâm chiến đấu để sớm giải phóng miền Nam. Cùng với việc quân ta tiêu diệt nhanh các cứ điểm vững chắc bảo vệ vòng ngoài của địch đã khiến lực lượng ngụy quân còn lại ở trong nội đô Sài Gòn lúc đó vô cùng hoang mang, dao động, tạo thuận lợi cho các mũi tấn công thọc sâu vào nội đô Sài Gòn đánh chiếm những mục tiêu quan trọng một cách nhanh, gọn.

Sau những trận đánh ác liệt diễn ra tại căn cứ Nước Trong, cầu Xa Lộ, Tổng kho Long Bình, Thủ Đức… cho tới trưa ngày 30-4 thì chiếc xe tăng số hiệu 390 cùng với xe tăng số hiệu 843 của Quân đoàn 2 đã húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh và nội các chính quyền ngụy Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện.

Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh kể – trong ngày 30-4-1975 Sư đoàn 325 của ông có nhiệm vụ vượt phà Cát Lái đánh vào Bộ Tư lệnh Hải quân, cảng Sài Gòn, Nhà Bè… Khi chúng tôi nhận được thông tin Dinh Độc Lập đã hoàn toàn bị khống chế, cờ giải phóng đã tung bay trên nóc cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, lúc đó ai cũng rưng rưng, vui mừng khôn xiết, bởi chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng, kết thúc những năm tháng kháng chiến vẻ vang và oanh liệt của dân tộc. Miền Nam đã được giải phóng, non sông đất nước đã thống nhất.

Những ngày cuối tháng 4 này, chúng tôi đã gặp khá nhiều nhân chứng lịch sử. Nhưng, có lẽ ấn tượng nhất là những nhân chứng lịch sử – các chỉ huy và chiến sĩ Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Tăng thiết giáp 203 – đã lái xe tăng húc đổ cổng và cắm cờ tại Dinh Độc Lập.
Nhằm phát huy sức mạnh của binh khí kỹ thuật, nhất là xe tăng thiết giáp, trong trận quyết chiến cuối cùng này Quân đoàn 2 đã quyết định tổ chức lực lượng hỗn hợp đánh thọc sâu vào nội đô, lấy Lữ đoàn xe tăng 203 làm nòng cốt, khi có thời cơ sẽ đánh thẳng vào trung tâm đầu não của địch ở Dinh Độc Lập.

Khi vào đến cửa ngõ Sài Gòn, xe tăng của Đại đội 4 bị quân địch chặn đánh quyết liệt. Đến ngã tư Hàng Xanh, chiếc xe tăng của đại úy Bùi Quang Thận bắn cháy 2 chiếc M41 tại cầu Thị Nghè rồi cùng về đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Đến ngã tư Nguyễn Bỉnh Khiêm, đại úy Bùi Quang Thận chỉ đạo xe tăng quẹo trái đến trước cổng Sở Thú, đang băn khoăn tìm đường thì anh gặp được một phụ nữ người Sài Gòn chỉ đường đến Dinh Độc Lập. Xe tăng của Chính trị viên Vũ Đăng Toàn, sau khi bắn cháy 2 chiếc M113 đã đi theo hướng đường Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ) và cũng đến được Dinh Độc Lập.

Trong khi xe tăng của đại úy Bùi Quang Thận số hiệu 843 mắc kẹt ở cổng phụ thì Chính trị viên Vũ Đăng Toàn đã cho xe tăng số hiệu 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Đại úy Bùi Quang Thận rút cây ăng ten cao 4 mét trên xe (bên trên có lá cờ giải phóng) và tiến thẳng vào trong dinh. Anh yêu cầu một sĩ quan ở trong Dinh Độc Lập dẫn lên chỗ cột cờ và hạ lá cờ ba sọc đỏ xuống, treo lá cờ Mặt trận giải phóng. Lúc đó là 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975.

Đại tá Bùi Quang Thận (khi ấy là đại úy, Đại đội trưởng Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Tăng thiết giáp 203) – người đầu tiên cắm cờ tại Dinh Độc Lập, kể: “Anh em chúng tôi đã may mắn tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Càng may mắn và tự hào khi chúng tôi tham gia đợt hành quân thần tốc của xe tăng, xe thiết giáp về thủ đô của ngụy quân, ngụy quyền. Vì đây là cuộc hành quân có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới. Theo đánh giá tổng kết thì đó là cuộc hành quân bằng xe tăng dài nhất mà lại hành quân bằng bánh xích vận hành ngoài quốc lộ chứ không phải do xe hay tàu kéo!”.

Đại úy Vũ Đăng Toàn (nguyên Trung úy, Chính trị viên Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, trưởng xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập), cho biết: “Chúng tôi được lệnh thần tốc hành quân. Nhưng, theo chỉ đạo nếu gặp địch không chống cự thì vẫn tiếp tục hành quân. Vì việc tiêu diệt địch đã có bộ đội địa phương. Chúng tôi phải thần tốc hành quân về điểm tập kết theo lệnh của cấp trên. Tinh thần anh em lúc đó quyết tâm lắm. Vừa dừng xe thì anh em kỹ thuật lo bảo dưỡng xe. Máy móc nóng bỏng, nhưng anh em vẫn kiểm tra, mồ hôi tuôn như mưa lên máy. Bằng mọi giá phải vượt qua khó khăn, đảm bảo đúng cung độ, cung đường”.

KHÁNH NGUYỄN – ĐOÀN HIỆP

>> Bài 1: Quân đoàn 1 mở cửa hướng Bắc

SGGP Online

5 cánh quân giải phóng Sài Gòn (Bài 3)

“Quả đấm thép” – ngày ấy… bây giờ

Được mệnh danh là “Quả đấm thép”, trong những ngày tháng 4 lịch sử, hòa chung với khí thế hừng hực của quân đội nhân dân Việt Nam, Binh đoàn Tây Nguyên – mũi tiến công thứ 3 trong 5 mũi tiến công của quân ta – đã đánh thẳng vào Bộ Tổng tham mưu của ngụy và phi trường Tân Sơn Nhất, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

  • Chuyện kể của vị Đại tá

Tuy đã bước vào tuổi 62 nhưng Đại tá Phạm Chào – nguyên Cục trưởng Cục Chính trị – Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) vẫn rất nhanh nhẹn, hoạt bát. Gương mặt ông như sáng bừng lên khi nghe chúng tôi hỏi về những ngày cùng với các đơn vị thuộc Binh đoàn Tây Nguyên tham gia vào các trận đánh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

9 giờ 30 ngày 30-4-1975, quân Giải phóng chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh tư liệu

Tháng 3-1975, chúng ta mở chiến dịch Nam Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột. Bằng nghệ thuật lừa địch, ta đã cắt rời địch thành hai mảng Nam và Bắc Tây Nguyên với các chiến trường khác, Quân đoàn 3 đã bí mật và bất ngờ tấn công Buôn Ma Thuột, tiêu diệt Sư đoàn 2, Sư đoàn 3 và toàn bộ lực lượng địch ở Buôn Ma Thuột; tiếp đó giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa và một phần tỉnh Bình Định. Ngày 10-3-1975, Buôn Ma Thuột hoàn toàn được giải phóng, chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng. Tây Nguyên được giải phóng hoàn toàn vào ngày 25-3-1975.

Sau khi chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi, Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam. Để đáp ứng yêu cầu, hoàn thành sứ mệnh cách mạng, ngày 26-3-1975, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Binh đoàn Tây Nguyên, từ những đơn vị chủ lực của Mặt trận B3. Ngày 12-4-1975, Binh đoàn Tây Nguyên hành quân về Đông Nam bộ mở chiến dịch mới.

Đồng chí Phạm Chào cho biết, dẫu sau chiến thắng ở chiến trường Tây Nguyên quân ta chưa được nghỉ ngơi, nhưng tất cả chiến sĩ của binh đoàn rất hồ hởi, khi được đóng góp sức mình vào chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch cuối cùng thống nhất đất nước, tất cả cùng hô to khẩu hiệu truyền miệng: “Thời cơ thôi thúc, nhiệm vụ vinh quang, xốc tới vươn lên, quyết giành toàn thắng”. Ngày 18-4-1975, Sư đoàn 470, 471 (thuộc Binh đoàn Tây Nguyên) hành quân đến Dầu Tiếng, vào rừng cao su củng cố lực lượng, chuẩn bị quân trang, quân dụng sẵn sàng chiến đấu. Ngày 24-4-1975, Binh đoàn Tây Nguyên được phổ biến chuẩn bị mở chiến dịch và sẽ đảm nhận một mũi thọc sâu vùng Tây Bắc Sài Gòn.

5 giờ 30 phút sáng 29-4-1975, từ vị trí tập kết ở rừng cao su Củ Chi, các đơn vị thuộc Binh đoàn Tây Nguyên đi vòng theo các đường 1 và đường 15 tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất theo 2 mũi, quân địch chống cự rất ác liệt nhằm ngăn chặn thế tấn công của bộ đội ta. Suốt một ngày chiến đấu (từ 5 giờ 30 phút sáng đến 14 giờ chiều), chúng ta với khí thế chiến đấu cao, vừa đi vừa đánh đã bắn cháy 5 xe tăng, 1 tiểu đoàn của địch, quét sạch hết mọi kháng cự của địch ở, trại huấn luyện Quang Trung, cầu Bông, kênh Xáng.

21 giờ 30 phút ngày 29-4-1975, ta chiếm luôn ngã tư Bảy Hiền, tiến sát đến cổng số 5 của sân bay Tân Sơn Nhất. 7 giờ sáng ngày 30-4-1975, quân ta với 2 mũi tấn công: Trung đoàn 24 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, Trung đoàn 28 đánh thẳng vào Bộ Tổng tham mưu của ngụy, đến 9 giờ sáng chiếm Sở Chỉ huy không quân và Sư đoàn 5 không quân của địch, bắt sống được 3 đại tá. 11 giờ 30 phút, Trung đoàn 24 chiếm được toàn bộ sân bay Tân Sơn Nhất và Trung đoàn 28 phối hợp cùng đơn vị bạn chiếm Bộ Tổng tham mưu của địch. Sư đoàn 10 với nhiệm vụ thọc sâu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần cùng cả nước hoàn thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

  • Binh đoàn Anh hùng

Hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Binh đoàn Tây Nguyên tiếp tục giúp các địa phương vùng giải phóng giữ vững chính quyền, khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân khu vực Sài Gòn – Gia Định, Thủ Dầu Một, Củ Chi. Tháng 6-1976, binh đoàn về đứng chân ở miền Trung – Tây Nguyên làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tham gia xây dựng củng cố cơ sở chính trị tại địa phương và truy quét lực lượng Ful-rô, giữ vững an ninh, chính trị vùng giải phóng.

Đất nước vừa yên tiếng súng, hòa bình chưa được bao lâu thì chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra, từng bộ phận và sau đó cả đội hình của Binh đoàn Tây Nguyên lên đường ra biên giới. Binh đoàn đã tổ chức nhiều chiến dịch, đánh hàng trăm trận, trừng trị và tiêu diệt nhiều đơn vị chủ lực của tập đoàn phản động Pôn Pốt – Iêngxari, bảo vệ chủ quyền biên giới Tây Nam của Tổ quốc, đồng thời giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Tháng 6-1979, binh đoàn hành quân ra phía Bắc làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Liên tục từ tháng 9-1985 đến tháng 7-1986, binh đoàn tiếp tục chiến đấu ở Vị Xuyên. Gần 10 năm ở đất Bắc, binh đoàn đã nỗ lực phấn đấu và đã trưởng thành về nhiều mặt.

Chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc kết thúc, năm 1987 từ miền Bắc, binh đoàn nhận nhiệm vụ trở lại Tây Nguyên. Vượt lên những khó khăn riêng tư, 100% cán bộ, chiến sĩ chấp hành mệnh lệnh lên đường. Đã 23 năm kể từ ngày trở lại Tây Nguyên, được sự đùm bọc, sẻ chia của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ binh đoàn đã nêu cao phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, truyền thống bộ đội Tây Nguyên, đoàn kết một lòng, chủ động, sáng tạo vượt qua mọi khó khăn thử thách, xây dựng binh đoàn tiến bộ toàn diện.

ĐỨC TRUNG

Sau khi Sở Chỉ huy Quân đoàn 3 từ Tây Nguyên chuyển về Củ Chi, ngay trong đêm 28-4, Bộ Tư lệnh quân đoàn do Thiếu tướng Vũ Lăng làm Tư lệnh và Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm chính ủy đã đề ra kế hoạch tấn công. Bộ Tư lệnh quân đoàn đã quyết định – đánh chiếm Cầu Bông, cầu Xáng và bàn đạp Hóc Môn để Sư đoàn 320A siết chặt vòng vây căn cứ Đồng Dù, nhốt chặt Sư đoàn 25 ngụy và bắt đầu cuộc tiến công của Binh đoàn Tây Nguyên theo hướng Tây Bắc vào Sài Gòn và hiệp điểm cùng các đơn vị khác tại Dinh Độc Lập.

Theo hiệp đồng chung, Sư đoàn 320A chỉ được phép dứt điểm căn cứ Đồng Dù trong thời gian từ 5 giờ 30 đến 10 giờ 30. Đồng Dù là một căn cứ lớn được Sư đoàn 25 ngụy, một đơn vị mạnh của địch trấn giữ nên để thực hiện yêu cầu – chỉ được phép đánh thắng trong thời gian ngắn là không dễ nên Bộ Tư lệnh quân đoàn phân công đồng chí Nguyễn Kim Tuấn, Phó Tư lệnh Quân đoàn trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Đúng 5 giờ 30 ngày 29-4, Sư đoàn 320A nổ súng tiến công căn cứ Đồng Dù. Trong thời điểm Sư đoàn 320A đánh Đồng Dù thì Sư đoàn 316 đã tiến công chiếm chi khu Trảng Bàng.

Các cánh quân khác của Quân đoàn 3 đã liên tiếp chiếm các vị trí chiến lược theo kế hoạch: Sau 50 phút đánh áp sát, Tiểu đoàn 20 Đại đội 10 đã tiêu diệt địch đánh chiếm Cầu Bông. Sau 30 phút chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn đặc công 198 và Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 64) đã làm chủ cầu Xáng. Trong ngày 29-4, theo tiêu lộ do công binh cắm sẵn hai trục đường 5 và 6, xe ủi đất đi trước húc tung các bờ ruộng, ụ đất mở đường cho xe tăng và xe chở quân đi vào Sài Gòn. 347 xe các loại chở Sư đoàn 10 tươi lá ngụy trang, cắm cờ Tổ quốc, cờ hai màu xanh – đỏ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo đội hình hàng dọc nối nhau băng băng đi qua những cánh đồng Củ Chi, theo hướng Sài Gòn mà xốc tới.

17 giờ ngày 29-4, đội hình thọc sâu binh chủng hợp thành Trung đoàn 24 vượt cầu Tham Lương và tiến về áp sát ngã tư Bảy Hiền. Đến 21 giờ ngày 29-4, Trung đoàn 24 là mũi thọc sâu vào Sài Gòn sớm nhất của cánh quân hướng Tây Bắc.

Ngày 30-4-1975. 9 giờ 30 Sư đoàn 10 đã đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. 11 giờ đại đội 1 (Tiểu đoàn 1) và Đại đội 6 (Tiểu đoàn 2) Trung đoàn 48 đã làm chủ Sở Chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy trong căn cứ Đồng Dù. Các điểm khác, Quân đoàn 3 đã tiến chiếm theo kế hoạch và họ cùng tiến về Sài Gòn.

Sau 1 ngày tiến công quyết liệt, Quân đoàn 3 đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở hướng Tây Bắc Sài Gòn với chiều dài 40km.

Đường vào Sài Gòn từ hướng Tây Bắc đã mở.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Hải – Tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên cho biết, ra đời và lớn lên từ cao nguyên hùng vĩ, mang sức mạnh của Tây Nguyên, binh đoàn đã làm nên những chiến công hiển hách, những chiến thắng vang lừng từ Nam ra Bắc. Từ ngày trở lại Tây Nguyên, Binh đoàn Tây Nguyên đã phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương chủ động triển khai nhiều hình thức, biện pháp dân vận đạt hiệu quả tốt. Binh đoàn đã đưa hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ, hàng ngàn tổ, đội công tác về với các buôn, làng tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giúp nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống mới. Từ đây mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân dân ngày càng bền chặt, tô thắm thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng người dân Tây Nguyên, như lời câu thơ:

Tây Nguyên ai một lần qua đó
Suốt cuộc đời nghĩ lại vẫn thương nhau.

Bài 1: Quân đoàn 1 mở cửa hướng Bắc
Bài 2: Quân đoàn 2 tiến về Sài Gòn từ hướng Đông Nam

SGGP Online

5 cánh quân giải phóng Sài Gòn (Bài 4)

Những bước chân thần tốc

Chấp hành chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị, từ 5 hướng, quân ta rầm rập tiến về bao vây cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn – Gia Định. Những binh đoàn từ Bắc, Trị Thiên đến Tây Nguyên và Khu 5 nườm nượp lên đường. Từng binh đoàn xuất phát từ nhiều địa bàn và những thời điểm khác nhau, đi trên nhiều trục đường và bằng nhiều phương tiện nhưng tất cả đều hành quân về Sài Gòn với tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa”. Có đơn vị vừa đi vừa đánh địch để mở đường, có đơn vị vượt cung tăng trạm; tất cả đều thi đua tiến nhanh về Sài Gòn.

Ở hướng Đông, Quân đoàn 4 với các Sư đoàn 6, 7, 341, Lữ đoàn bộ binh 52, một tiểu đoàn pháo 130mm, một trung đoàn và một tiểu đoàn phòng không hỗn hợp cùng 3 tiểu đoàn xe tăng – thiết giáp với quân số khoảng 30.000 người, đã tiến về Sài Gòn bằng những bước chân thần tốc.

Từ hướng Tây Nam, Đoàn 232 do đích thân đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Miền trực tiếp chỉ huy không chỉ thực hiện nhiệm vụ tiến chiếm các mục tiêu trước khi tiến vào đánh chiếm Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng nha Cảnh sát Quốc gia… mà Đoàn 232 còn thực hiện nhiệm vụ – cắt đứt đường 4 (ở Bến Lức, ngã 3 Trung Lương) chiếm Tân An, Mỹ Tho để chia cắt hoàn toàn Sài Gòn với miền Tây Nam bộ, không cho quân ngụy ở Sài Gòn rút về đồng bằng sông Cửu Long, đập tan kế hoạch “tử thủ” tại Quân khu 4 của quân đội VNCH.

Và từ 5 hướng, các đoàn quân Giải phóng như 5 cánh sao đã tiến về giải phóng Sài Gòn, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước Việt Nam.

  • Quân đoàn 4: 80 giờ tiến vào Sài Gòn

Trung tướng Hoàng Nghĩa Khánh, khi đó là Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 rất xúc động khi nói về cánh quân phía Đông đánh vào Hố Nai, Biên Hòa rồi tiến công giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử cách đây tròn 35 năm. Ông nhớ lại: Nhiệm vụ của Quân đoàn 4 là đánh chiếm khu vực Biên Hòa-Hố Nai (gồm cả Sở Chỉ huy Quân lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và sân bay Biên Hòa), tiến về Sài Gòn chiếm các quận 1, 2, 3, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH, Bộ Quốc phòng VNCH, Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH, Đài Phát thanh Sài Gòn.

Muốn về Biên Hòa-Hố Nai thì phải đi qua chi khu Trảng Bom để mở đường số 1, Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Quân đoàn 4 quyết định cử Sư đoàn 341 đánh chiếm Trảng Bom, sau đó mới đánh không quân ngụy và sân bay Biên Hòa; cử Sư đoàn 6 đánh chiếm căn cứ Quân đoàn 3 ngụy và Tiểu khu Biên Hòa. Hai sư đoàn trên làm nhiệm vụ mở cửa cho Sư đoàn 7 thọc sâu đánh thẳng Sài Gòn, chiếm Dinh Độc Lập!

4 giờ 7 sáng 27-4, khi chúng tôi phát lệnh tấn công Trảng Bom, Suối Đỉa và Long Đạt thì tướng Lê Minh Đảo (Tư lệnh Sư đoàn 18 ngụy) đã điều Chiến đoàn 52 (có 8 xe tăng yểm hộ) đánh vào đội hình tấn công của Sư đoàn 7 nhưng lại bị Sư đoàn 341 tấn công lại. Các pháo thủ bắn cháy 4 xe tăng địch.

Giằng co đến 8 giờ 30 sáng, quân ta chiếm được chi khu Trảng Bom và bắt gần 500 sĩ quan, binh sĩ VNCH làm tù binh. 9 giờ sáng, số quân còn lại của địch rút từ Trảng Bom về Suối Đỉa lại bị quân ta phục kích hai bên đường. Hơn 2.000 quân và gần 100 xe các loại bị Sư đoàn 341 của ta tiêu diệt-bắt giữ.

Trung đoàn 24, Quân khu 8 làm chủ Bộ Tư lệnh cảnh sát ngụy

Trên hướng thọc sâu, Sư đoàn 7 (Quân đoàn 4) phát triển đến Hố Nai thì phải dừng lại để phối hợp với Sư đoàn 341 và Sư đoàn 6 thực hiện đòn tấn công tổng hợp vào các lực lượng của Lữ đoàn 3 thiết giáp và Lữ đoàn dù 4 – của quân đội VNCH… Chiều 28-4, bộ phận thông tin của ta bắt được mẩu đối thoại của địch: “Đường 15 bị cắt rồi, Việt cộng chiếm Trảng Bom, Long Thành, pháo kích Long Bình, tôi định di chuyển về Gò Vấp”, Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy nói.

Từ tình hình trên, Tư lệnh Quân đoàn 4 Thiếu tướng Hoàng Cầm ra lệnh dồn sức đánh mạnh các điểm địch co cụm trong khi Sư đoàn 7 tranh thủ tiến sát Hố Nai. Tuy nhiên tàn quân địch vẫn lẩn trốn, trà trộn vào dân và dùng tiểu liên M.16, M.79, M.72 bắn thẳng vào đội hình của quân ta khiến Sư đoàn 7 phải mất thêm thời gian tổ chức chiến đấu tiêu diệt địch.

Ngày 29-4, khi nhận được tin Sở Chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy chạy về Gò Vấp, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 thống nhất chỉ đạo Sư đoàn 6 bỏ các vị trí ở Hố Nai, chiếm cầu và chốt giữ đầu cầu sắt; Sư đoàn 341 đánh chiếm sân bay Biên Hòa còn Sư đoàn 7 phải đột phá đi qua ngã ba Tam Hiệp, đưa đội hình vượt sông Đồng Nai trong đêm.

4 giờ sáng 30-4, Sư đoàn 7 tiến đến được cầu sắt xe lửa Biên Hòa nhưng xe tăng của sư đoàn không qua được vì cầu yếu. Vì vậy, Thiếu tướng Hoàng Cầm đã xin ý kiến Bộ Chỉ huy chiến dịch và chỉ đạo Sư đoàn 6 làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch và tiếp quản thị xã Biên Hòa. Sư đoàn 341 chuyển quân lên xe tải để vượt cầu sắt xe lửa vào chiếm các mục tiêu theo kế hoạch (quận Gò Vấp, quận 3, quận 10). Riêng Sư đoàn 7 quay trở ra đường xa lộ tiến vào mục tiêu quận 1.

8 giờ sáng 30-4, 4 xe tăng của Sư đoàn 7 tiến vào Sài Gòn. Một cán bộ cách mạng của ta (vừa được Sư đoàn 7 giải thoát khỏi nhà tù Tam Hiệp) ngồi trên chiếc xe đi đầu, chỉ đường cho quân ta tiến vào Sài Gòn. Đoàn xe tăng của Sư đoàn 7 theo đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và đi tới Dinh Độc Lập lúc 12 giờ 30. Tất cả chúng tôi đều hạnh phúc rơi nước mắt sau 80 giờ tiến công nghẹt thở vào Sài Gòn!

  • Đoàn 232 – Kế hoạch cuối cùng

Đoàn 232 được thành lập vào tháng 2 năm 1975, gồm Sư đoàn 3, Sư đoàn 5 và Sư đoàn 9 cùng một số đơn vị binh chủng khác hợp thành. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh đoàn là đồng chí Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà); Chính ủy đoàn là đồng chí Lê Văn Tưởng (Hai Chân); đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Miền, trực tiếp chỉ huy các lực lượng trên hướng Tây và Tây Nam tiến vào Sài Gòn, trong đó Đoàn 232 là lực lượng chủ yếu.

Nói về những ngày sôi động này, Thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng, Sư đoàn phó Sư đoàn 5, cho biết: “Khoảng 22 giờ ngày 26-4, Sư đoàn 5 mở đầu chiến dịch bằng đòn đánh chia cắt đường số 4 tại khu vực Rạch Chanh, ngã ba Nhị Thành, ấp Bình Yên, Phú Mỹ và áp sát thị xã Tân An, chi khu Thủ Thừa tỉnh Long An. Ngày 27-4, Sư đoàn 5 đã cắt hẳn đường số 4 tại 2 đoạn từ Bắc Tân An đến Bến Lức và từ Nam Tân An đến Tân Hiệp. Tiểu khu Hậu Nghĩa và các chi khu Đức Hòa, Đức Huệ đã bị quân ta đánh chiếm. Các trung đoàn đặc công đã tập kích các chốt Bà Hom, Vĩnh Lộc, căn cứ ra đa Phú Lâm”.

Cùng lúc này, lệnh nổi dậy của Ban Chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo đến lực lượng bộ đội địa phương “Xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện và tỉnh giải phóng tỉnh”. Dọc sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, bộ đội địa phương đã đưa một lực lượng thọc sâu, tấn công thành phố Mỹ Tho, cắt đứt hoàn toàn đường số 4, cô lập Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long.

Trước sức tấn công như vũ bão của quân ta, Tỉnh trưởng tỉnh Long An gọi điện cho tướng Nguyễn Khoa Nam xin lệnh phá cầu Tân An và Bến Lức, nhưng tướng Nam không đồng ý do các cây cầu này dùng cho kế hoạch – nếu mất Sài Gòn thì Bộ Tổng Tham mưu Quân lực VNCH sẽ rút qua cầu về đồng bằng sông Cửu Long.

Đô đốc Chung Tấn Cang cũng dành riêng một chiến hạm để di tản Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về Cần Thơ bằng đường biển. Các tướng ngụy Lê Văn Hưng, Lê Minh Đảo cũng đặt hy vọng vào việc biến Vùng 4 chiến thuật thành căn cứ để kéo dài cuộc chiến tranh. Nhưng, kế hoạch đó đã hoàn toàn bị phá sản.

  • Chiến dịch không có đêm ngày!

Nhắc về sự sôi động của các cánh quân thần tốc tiến về Sài Gòn trong những ngày tháng 4 lịch sử, Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cho biết: “Lúc đó, tôi là Trưởng phòng Tác chiến của B2 mà sau đó khi chuyển qua chiến dịch Hồ Chí Minh thì tôi cũng là Trưởng phòng Tác chiến của chiến dịch. Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh đóng tại Căm Xe. Thú thực không khí lúc đó tại Phòng Tác chiến rất căng thẳng và sôi động. Với quyết tâm của Bộ Chính trị – 20 ngày bằng 20 năm – thì lúc đó tại Bộ Chỉ huy không có khái niệm đêm hay ngày mà phải làm sao đảm bảo cho chiến dịch thành công. Từ ngày 26-4 trở đi không khí càng thêm căng thẳng.

Tại Sở Chỉ huy nhưng chúng tôi lúc nào cũng di chuyển, di chuyển liên tục trên bản đồ theo sự di chuyển của bộ đội ngoài chiến trận. Nói thì rất dễ, nhưng thực hiện khó khăn lắm. Chúng ta phải làm sao đánh thắng từng cửa, từng trận. Và, chiến thắng đường 4 đã cắt đường rút chạy của địch về đồng bằng sông Cửu Long cũng như chặn cửa không cho quân địch từ miền Tây lên tiếp ứng là thành công mang tính chiến lược!”.

Sự phối hợp các lực lượng, quân binh chủng, quân chủ lực và quân dân địa phương đã tạo hiệu quả bước đầu. Ngày 27-4, đồng chí Bùi Văn Trữ (tức Sáu Nhẫn), Phó Phòng Công binh Miền đã chỉ huy CB-CS kết hợp cùng đồng bào địa phương huy động phương tiện tại chỗ tạo đường dẫn vượt sình lầy và làm cầu phà dã chiến đưa phương tiện cơ giới, xe tăng, pháo của Đoàn 232 vượt sông Vàm Cỏ Đông tấn công vùng Mỹ Hạnh, Đức Hòa để theo lộ 10 tiến về Sài Gòn.

Tại một khu vực khác, đơn vị do đồng chí Phan Trung Kiên (nay là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) chỉ huy đã giải phóng Đồn Trường học ở Đức Lập Hạ, Đồn Giồng Dầu ở Mỹ Hạnh Bắc (tỉnh Long An) mở đường cho Đoàn 232 tiến về giải phóng Sài Gòn.

Đồng chí Phan Trung Kiên, cho biết: “Sau khi chiếm các đồn nêu trên thì cánh quân của ông tiếp tục qua đường số 9, rừng Bà Dụ đánh chiếm Đồn Nhà Tô, Phân chi khu Xuân Thới Thượng, một phần chi khu Xuân Thới Sơn. Bằng mọi giá phải đón đánh ngụy quân tháo chạy và không cho chúng qua kênh Thầy Cai về Sài Gòn”.

Khoảng 3 giờ 40 ngày 29-4, đơn vị của đồng chí Phan Trung Kiên nổ súng tấn công Phân chi khu Xuân Thới Thượng. Địch kháng cự quyết liệt và chạy dồn vào Đồn Nhà Tô cố thủ. Đơn vị tiếp tục vây ép, dùng loa kêu gọi địch đầu hàng, bọn biệt động quân thoát ra, lọt vào trận địa phục kích của ta và bị tiêu diệt gần hết. Trận đánh kết thúc lúc 14 giờ 40, ngày 29-4 ta làm chủ hoàn toàn khu vực.

Trong thời gian này, Sư đoàn 9 đảm nhận mũi tiến công chủ yếu của Đoàn 232 theo đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám) tấn công Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô. Các ngã đường dẫn đến Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô đã bị quân giải phóng bao vây. Không còn con đường nào khác, khoảng 10 giờ 30 ngày 30-4-1975, tướng Lâm Văn Phát, Tư lệnh Biệt khu thủ đô dẫn các thuộc cấp ra đầu hàng và kêu gọi sĩ quan, binh sĩ thuộc quyền hạ vũ khí đầu hàng.

M.ANH – Đ.HIỆP

Bài 1: Quân đoàn 1 mở cửa hướng Bắc
Bài 2: Quân đoàn 2 tiến về Sài Gòn từ hướng Đông Nam
Bài 3: “Quả đấm thép” – ngày ấy… bây giờ

SGGP Online

Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh khẳng định: trong thế giới bây giờ chỉ có kách mệnh Nga là thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc, tự do bình đẳng thật sự. Kách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công nông các nước và các dân tộc bị áp bức, các thuộc địa làm kách mệnh để lật đổ tất cả đế quốc và tư bản chủ nghĩa trên thế giới.