Chiến thắng mùa xuân 1975: Bản hùng ca không thể nào quên

(VnMedia)Sống giữa những bận rộn cuộc sống hàng ngày, nghe đâu đó một bài ca Cách mạng, mà đặc biệt là “Bài ca không quên”, tôi thấy thêm yêu mến những gì mình có, quý trọng những phút giây bình yên của cuộc sống để mà tiếp tục làm việc và biết cho đi nhiều hơn…

Chiến tranh! Nhắc đến từ đó người ta thường nói đến một quá khứ hào hùng trong lịch sử Việt Nam. Vì thế cũng có thể đơn giản hiểu tại sao cho tới bây giờ, nhiều người trên thế giới này mỗi khi nói đến “Việt Nam” lại nghĩ ngay đến “chiến tranh” – điều đó khiến bạn, một người Việt Nam thấy như thế nào: buồn hay tự hào? Tôi cũng từng được một người đặt ra cho mình câu hỏi đó…

Rất nhiều sách báo đã nói về một Việt Nam ghi dấu ấn trong lòng bè bạn thế giới là một Việt Nam anh hùng. Với mấy nghìn năm lịch sử dựng nước cũng là từng ấy thời gian dân tộc Việt Nam chống giặc giữ nước. Một lịch sử quá đậm nét sử thi từ thời các Hùng Vương cho tới khi giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Làm sao không nhắc đến chiến tranh cho được khi chính ở trong đó, người Việt Nam đã có nhiều bài học sâu sắc, trưởng thành và vững vàng cho đến ngày nay. Phải thế chăng mà người Việt sẽ còn nhắc mãi và không bao giờ quên niềm tự hào về những vết thương chiến tích còn sạm đen trên thân thể đất Việt.

Niềm tự hào ấy, lời nhắc nhở ấy đậm sâu được miêu tả rất nhiều lần trong thơ ca và những bài hát đi cùng năm tháng. Một trong số những tác phẩm đó có thể nói đến Bài ca không quên của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn. Nhạc phẩm này xuất hiện lần đầu tiên năm 1981 trong bộ phim cùng tên với sự thể hiện qua tiếng hát ca sĩ Cẩm Vân. Cũng kể từ đó, theo lời nghệ sĩ Cẩm Vân – ” Bài ca không quên không còn là của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn hay ca sĩ Cẩm Vân mà đã trở thành tác phẩm của công chúng” …

Chỉ riêng tựa đề của bài hát đã nói lên khá nhiều điều khiến ai cũng phải suy nghĩ. Đặc biệt khi nói đến nền độc lập và thái bình tự do tại Việt Nam thì không thể không tỏ lòng biết ơn đến những chiến công và sự hi sinh quên mình không chỉ của những chiến sĩ, đồng bào, những lãnh tụ sáng suốt mà còn của chính người mẹ lớn: Việt Nam – Đất nước đã sinh ra tâm hồn yêu nước thương nòi tha thiết, truyền thống dựng xây chung tay đoàn kết, tinh thần chiến đấu chiến thắng kiên trung và những tình cảm dạt dào niềm tin một ngày mai tươi sáng…

“Bài ca không quên” đặc biệt được yêu thích hơn 20 năm nay bởi chính sự giản dị trong ca từ, những giai điệu nhẹ nhàng da diết chất chứa trong đó lòng biết ơn và mong muốn đền đáp công ơn và sự hi sinh không vụ lợi. Tràn ngập trong bài hát là những hình ảnh rất đỗi bình dị như “lời mẹ ru con đêm đêm”, “những tháng ngày hành quân vất vả”, “đất rừng xứ lạ” .. nhưng cũng đẹp lạ lùng mà lại khiến người ta phải dừng lại nghĩ suy, một chút lòng thương và day dứt.

Ấy là người mẹ hậu phương trông ngóng tin con nơi chiến trường mà bạc tóc thời gian; là khi người chiến sĩ cả đêm trăng đứng gác mà vẫn ôm súng ngắm sao khuya; là bước đường hành quân đói lả nhưng điếu thuốc vẫn chia đôi, dù rừng lạnh sương giăng dồn bước hành quân trong cơn sốt rét vẫn gửi trọn niềm tin vào ngày độc lập; là chỉ một lần quen người em gái chống xuông vượt qua pháo nổ mà nên lời yêu không nói…

Ảnh minh họaCó thể nói ca sỹ Cẩm Vân là người thể hiện thành công nhất ca khúc này

Vẻ đẹp lãng mạn và sự bi tráng trong nhạc phẩm không những vẽ lên bằng hình ảnh về một quãng thời gian hào hùng của lịch sử, mà từ đó thêm nhắc nhở ý thức trách nhiệm về cuộc sống hiện tại của mỗi người, sống sao cho xứng đáng với những gian khổ và hi sinh của bao người đã giành độc lập cho Tổ quốc. Trong thời điểm hiện tại, điệp khúc cuối của bài hát vẫn như còn vang vọng mãi về những công ơn ấy:

Nhưng giờ đây có giây phút bình yên
Sao tôi quên
Có giây phút bình yên sao tôi quên sao tôi quên
Bài ca tôi đã hát
Bài ca tôi đã hát với em yêu , với đồng đội với cả lòng mình
Tôi không thể nào quên
Tôi không thể nào quên.

Bài ca không quên gắn liền với tên tuổi của ca sĩ Cẩm Vân từ thập niên 80, cho đến nay thì với chặng đường âm nhạc khá lâu bền, tác phẩm này cũng xuất hiện trong album cùng tên được phát hành thời gian qua. Với 8 ca khúc quen thuộc của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn: Bài ca không quên, Lối nhỏ vào đời, Thành phố tình yêu và nỗi nhớ, Đất nước, Khát vọng, Mùa xuân, Rừng gọi, Sao biển, tập hợp trong album “Bài ca không quên” – một album mà giọng hát không mới, hòa âm không mới, bài hát không mới nhưng đó dường như là sự thủy chung, là sự thương nhớ, là ký ức ngày xưa của chị dành cho những người yêu mến chị.

Sống giữa những bận rộn cuộc sống hàng ngày, nghe đâu đó một bài ca Cách mạng, mà đặc biệt là “Bài ca không quên”, tôi thấy thêm yêu mến những gì mình có, quý trọng những phút giây bình yên của cuộc sống để mà tiếp tục làm việc và biết cho đi nhiều hơn…

Có một lần, khi nói chuyện với một người bạn người Mỹ, người đó cũng đã hỏi tôi “Người ta nhắc đến Việt Nam thì không hay nói đến thành viên WTO hay thành viên dự bị Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, mà nhắc đến một Việt Nam đang phát triển hay thậm chí còn trong chiến tranh. Cậu thấy sao?” Và tôi đã trả lời rằng: tôi tự hào về quãng thời gian làm nên một Việt Nam lịch sử, chiến tranh đã qua đi và bây giờ tôi tưởng nhớ nó để thấy Việt Nam đã lớn lên rất nhiều, điều đó quan trọng hơn và làm thay đổi ấn tượng của mọi người về Việt Nam. Đó là “Bài ca không quên” trong trái tim tôi…

Nghe ca khúc “Bài ca không quên” do ca sỹ Cẩm Vân trình bày:

Gia Hoàng

vnmedia.vn

“Tiến về Sài Gòn” trong ngày 30/4

(VnMedia)Bài hát “để đời” của cố nhạc sỹ Lưu Hữu Phước có một vị trí đặc biệt trong lịch sử – là ca khúc mang nhiệm vụ chính trị, sáng tác “đón đầu” giải phóng Sài Gòn. Ngày 30/4/1975, ca khúc đã vang lên trên đài phát thanh như tin thông báo thắng lợi đến nhân dân cả nước.

Giai điệu trầm hùng và ca từ giầu hình ảnh như một cuốn phim tài liệu chiến tranh ấn tượng, cùng đoạn điệp khúc thúc giục đầy khích lệ. “Tiến về Sài Gòn” luôn nằm hàng đầu trong những ca khúc cách mạng tiêu biểu, mà người ta nhắc đến mỗi dịp thích hợp, nhất là vào các đợt kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù
Hướng về đồng bằng ta tiến về thành đô!
Nước nhà còn chờ trận cuối là trận này
Tiến về đồng bằng, giải phóng thành đô

Không chỉ là ca khúc hay đi cùng năm tháng, bài hát “để đời” của cố nhạc sỹ Lưu Hữu Phước còn có một vị trí đặc biệt trong lịch sử. Trưa 30/4/1975, vài phút sau lời đầu hàng của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh trên đài phát thanh, tiếng nhạc hào hùng – tình cảm đã vang lên như một thông báo tin thắng lợi đến nhân dân cả nước.

Sau này, người ta được biết, bài hát đã ra đời từ trước đó 8 năm – khi nhạc sỹ Lưu Hữu Phước được trung ương giao nhiệm vụ sáng tác ca khúc chào đón giải phóng Sài Gòn – vào dịp chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968.

Cuộc Tổng tiến công không đi đến thắng lợi cuối cùng và ca khúc khải hoàn (thu băng tại miền Bắc năm 1967) đã phải đợi 8 năm cho tới khi được vang lên.

Nhưng, trong thời gian chờ đợi, “Tiến về Sài Gòn” đã được cất lên ở nhiều nơi trên thế giới: Trung Quốc, Triều Tiên, Liên Xô, Đức, Hung-ga-ri, Ba Lan, Cu-ba… cùng tiếng hát của nghệ sỹ nhân dân Quang Hưng, người đầu tiên thu âm và thể hiện ca khúc. Trong chuyến biểu diễn nước ngoài khi đó của đoàn nghệ sỹ làm công tác đối ngoại, vận động cho phong trào chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, “Tiến về Sài Gòn” đã góp phần đẩy mạnh phong trào ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với Việt Nam.

Nghệ sỹ nhân dân Quang Hưng sau này kể trên báo chí, tại Moscow, Bắc Kinh, Lahabana… “Tiến về Sài Gòn” cũng như Việt Nam đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt của khán giả và các vị lãnh đạo cấp cao các nước bạn. Ông cũng chia sẻ cảm giác “thót tim” khi nghe tiếng hát của mình trên đài phát thanh vào giờ phút giải phóng lịch sử, để trào nước mắt kêu to niềm vui thắng lợi của dân tộc.

Được góp mình trong một nhiệm vụ quan trọng như vậy và được trải nghiệm không khí – cảm xúc ấn tượng, tự hào như vậy hẳn là niềm hạnh phúc quý giá với các nghệ sỹ.

Nơi thành đô trong ánh điện quang
Tiếng nấc nghẹn câu cười

Ta về qua khi ánh bình minh
Đang hé rạng chân trời

Bao ngày qua tang tóc khổ đau
Đã biến thành căm hờn

Sài Gòn ơi! Ta đã về đây, ta đã về đây

Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, “Tiến về Sài Gòn” còn là tình cảm tha thiết từ đáy lòng của một người con yêu nước, còn là sự thôi thúc sáng tác tự thân của một nghệ sỹ tài năng. Vì thế, gần nửa thế kỷ sau khi ra đời, ca khúc vẫn luôn được hát – được nghe với tình cảm trang trọng, tự hào.

Lan Anh

www6.vnmedia.vn

Buổi phát thanh lịch sử tại Sài Gòn trưa 30/4/1975

Do tình thế khẩn cấp, chàng sinh viên Nguyễn Hữu Thái đã trở thành phát thanh viên “bất đắc dĩ” trong thời khắc lịch sử – tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Trong đám đông kéo đến đài phát thanh trưa 30/4 có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Ảnh: Tiến Dũng.

KTS Nguyễn Hữu Thái - nhân chứng lịch sử ngày 30/4/1975. Ảnh: Tiến Dũng.

Sinh ra trong gia đình có 10 người con, lại là cả nên Nguyễn Hữu Thái được bố mẹ đầu tư cho ăn học, với mong muốn con mình sẽ thành tài. Năm 1958, sau khi đỗ tú tài ở trường Thiên Hựu (Huế), cậu học trò Nguyễn Hữu Thái vào Sài Gòn học ngành Kiến trúc và là người trẻ nhất của khóa học này.

Từ khi trở thành sinh viên, Hữu Thái hăng hái kêu gọi bạn bè xuống đường biểu tình, đòi tự do, dân chủ và năm 1963-1964 được bầu làm Chủ tịch tổng hội sinh viên Sài Gòn. Do nhiệt tình đấu tranh nên năm 1964, chàng sinh viên 24 tuổi bị bỏ tù, và từ đó đến năm 1974, Thái luôn nằm trong “danh sách đen” của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Ba lần ra ngục vào tù đã lấy đi của Thái 4 năm tuổi trẻ, thời gian được chia đều cho nhà tù và nhà trường.

Nhờ những lần ngồi tù, được tranh luận với cán bộ “Việt cộng”, chàng sinh viên kiến trúc mới thấm thía thêm rằng, không chỉ có sinh viên, trí thức chống lại chế độ Sài Gòn mà khắp cả nước còn có cuộc đấu tranh của những người cộng sản. Và cũng từ đây, Nguyễn Hữu Thái càng quyết tâm theo cách mạng, dù từng nhận được lời đề nghị của một quan chức Mỹ rằng sẽ tạo điều kiện sang Mỹ học rồi về Việt Nam làm quan chức.

* Clip: Thời khắc cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập

“Năm 1971, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử Quốc hội và Tổng thống. Người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đề nghị tôi ra tranh cử với lập trường hòa bình trung lập, chuẩn bị cho ‘Thành phần thứ ba’ như trong Hiệp định Paris. Tôi được sự ủng hộ của tướng Dương Văn Minh, người sẽ ra tranh cử Tổng thống. Nhưng do bị nghi ngờ là người của quân giải phóng nên tôi đã thất cử. Tướng Minh vào giờ chót cũng rút lui khỏi cuộc tranh cử Tổng thống”, ông kể.

Một năm sau, Nguyễn Hữu Thái lại bị chính quyền Sài Gòn bắt giam trước ngày ký kết Hiệp định Paris về hòa bình Việt Nam, do bị tố cáo thuộc “Thành phần thứ ba” thân Cộng. Khi người đàn ông 34 tuổi được ra tù năm 1974, tình hình đã biến chuyển nhanh theo hướng chấm dứt chiến tranh…

Dương Văn Minh ủng hộ Nguyễn Hữu TháiDương Văn Minh và ông Nguyễn Hữu Thái.

Nhân chứng sống ngoài 70 tuổi này vẫn nhớ như in thời khắc lịch sử của 36 năm về trước. “Sáng tinh mơ ngày 30/4, từ cơ sở chuẩn bị nổi dậy của sinh viên ở ĐH Vạn Hạnh (gần chợ Trương Minh Giảng), tôi bàn với người thân cận của Thượng tọa Trí Quang rồi chạy vội lên chùa Ấn Quang (đường Sư Vạn Hạnh) gặp vị lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn tới nhóm Dương Văn Minh nhờ tác động gấp nhằm chấm dứt ngay cuộc chiến, tránh đổ máu và tàn phá Sài Gòn”, ông kể.

Khoảng 9h (thời đó giờ Sài Gòn chậm hơn Hà Nội một tiếng), khi ông Thái quay về trường thì nghe tướng Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn, với nội dung kêu gọi các binh lính Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng, ở đâu ở đó, để ông gặp Chính phủ Cách mạng thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong trật tự, tránh đổ máu. (Nghe tại đây)

Biết tin này, một nhóm sinh viên cầm vũ khí lên xe ca đến áp sát, chuẩn bị xâm nhập vào đài phát thanh. Còn ông Thái cùng nhà báo Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳnh Văn Tòng (giảng dạy báo chí) vào dinh Độc Lập thuyết phục những người quen biết trong chính quyền Dương Văn Minh bàn giao chính quyền cho phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Trong khi đó, ở bên ngoài, những chiếc xe tăng đầu tiên đang tiến về dinh Độc Lập. Xe tăng 390 chạy đầu tiên, xe tăng 843 chạy đến dinh đã húc thẳng vào cổng phụ bên trái, cổng không sập. Thấy vậy, lái xe tăng 390 liền húc sập cổng chính, và Bùi Quang Thận nhảy từ trên xe 843 xuống, giật lá cờ giải phóng gắn trên cần ăng ten xe tăng rồi tiến vào thềm dinh.

Xe tăng 390 húc đổ cổng để tiến vào dinh độc lập trưa 30/4/1975.Xe tăng 390 húc đổ cổng chính để tiến vào dinh độc lập trưa 30/4/1975. Ảnh tư liệu.

Do ông Thái và giáo sư Tòng đeo băng xanh đỏ của lực lượng quần chúng nổi dậy, nên khi ông đề nghị dẫn đường thì ông Thận liền đi theo. Đến nóc, cả 3 người phải leo thêm chiếc thang gỗ mới đến được chân cột cờ. Lá cờ giải phóng được kéo lên trong tiếng reo hò lẫn tiếng súng chỉ thiên chào mừng vang trời.

“Thật ngẫu nhiên, vào thời điểm lịch sử ấy trên nóc dinh Độc Lập có 3 chàng trai của 3 miền đất nước: anh bộ đội Thận từ đồng bằng sông Hồng, giáo sư Tòng quê Tây Ninh và tôi gốc ở một thành phố miền Trung. Anh em xúc động không cầm được nước mắt, vừa sung sướng vừa hãnh diện”, ông Thái nhớ lại khoảnh khắc chấm dứt 117 năm thống trị của thực dân đế quốc.

Có mặt tại dinh Độc Lập, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng đã nghĩ ngay đến việc phải buộc chính phủ của Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng sớm để đỡ đổ máu. Vì vậy, Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, Chính ủy Bùi Văn Tùng, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Văn Tòng, nhà báo Tây Đức Borries Gallasch… cùng lên xe tiến về phía đài phát thanh.

Tại đài, trong khi các sinh viên đi tìm nhân viên kỹ thuật cho đài phát sóng thì một cán bộ quân giải phóng cũng soạn vội lời đầu hàng của Dương Văn Minh. Do không có thiết bị thu âm nên nhà báo Đức đã cho mượn đài để thu lời đầu hàng của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của Chính ủy Bùi Tùng. Pin đài yếu nên các sinh viên lại phải chạy đôn đáo đi tìm pin thay thế.

“Việc thu băng lời tướng Minh phải thử đi thử lại mấy lần mới xong. Còn lời phát biểu của Thủ tướng Mẫu thì được nói trực tiếp. Khi Đài Phát thanh Sài Gòn phát đi lời đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, đồng hồ lúc này là 13h20 (Hà Nội là 12h20 phút)”, nhân chứng Nguyễn Hữu Thái tiếp tục câu chuyện.

Tướng Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975, tác giả thứ 2 (cầm tập giấy) kể từ phải

Tướng Dương Văn Minh (mặc áo đen, đeo kính) chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975. Nhà báo Đức ngồi cạnh ông Minh, còn ông Thái đứng thứ hai (cầm tập giấy). Ảnh do phóng viên ảnh hãng thông tấn AP thực hiện.<

Do tình thế khẩn cấp nên Nguyễn Hữu Thái đã trở thành phát thanh viên “bất đắc dĩ” của buổi phát thanh trực tiếp đầu tiên trong ngày lịch sử trọng đại: “…Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – TP HCM, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay được giải phóng… Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…”. (Nghe tại đây)

Tiếp đó, đến lượt Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam”. (Nghe tại đây)

Sau lời kêu gọi của Thủ tướng Vũ Văn Mẫn, Chính ủy Bùi Văn Tùng tuyên bố chấp nhận đầu hàng: “Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”.

Trong đám đông kéo đến đài phát thanh vào buổi trưa 30/4 có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Được mời phát biểu trực tiếp trên sóng, nhạc sĩ này run run: “Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được…”.

Hân hoan trong niềm vui giải phóng nên dù không mang theo đàn guitar, Trịnh Công Sơn vẫn cất vang lời bài ‘Nối vòng tay lớn’. Và đây cũng chính là bài hát đầu tiên được phát lên sóng của Đài Phát thanh Sài Gòn ngày 30/4. (Nghe tại đây)

“Chiều 30/4/1975, phần lớn người dân Sài Gòn đều túa ra đường để được tận hưởng bầu không khí hân hoan, phấn khởi của ngày thành phố được giải phóng. Những người nghe tin tức qua Đài Phát thanh Sài Gòn cảm thấy xúc động dâng trào khi nghe Trịnh Công Sơn hát ‘Nối vòng tay lớn’ trong giờ phút lịch sử của dân tộc”, 36 năm sau ngày lịch sử này, ông Nguyễn Hữu Thái vẫn xúc động khi kể lại.

Vào đại học năm 1958 nhưng phải đến năm 1976, một năm sau ngày giải phóng, ông mới có thể trở lại trường làm đồ án tốt nghiệp và trở thành kiến trúc sư. Sau nhiều năm công tác tại thành đoàn TP HCM, năm 1980 ông làm việc tại Viện Quy hoạch kiến trúc thành phố… Năm 1990 ông xuất cảnh sang Canada theo diện đoàn tụ gia đình và 5 năm sau lại trở về Việt Nam sinh sống, công tác.

Tiến Dũng

(Clip và Audio tư liệu).

vnexpress.net

Ký ức người chỉ huy xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập

Khi thấy xe 843 dừng lại ở cổng trái, lái xe Nguyễn Văn Tập hỏi: “Thế nào anh Toàn?”, ông Toàn dứt khoát “Cứ tông thẳng vào”. Ngay lập tức lái xe Tập nhấn ga, húc tung cánh cổng chính của dinh Độc Lập lao vào trong sân.

Điều trăn trở của Tướng Phạm Xuân Thệ

Trong bộ quần áo lính giản dị, người chỉ huy xe tăng 390 năm xưa Vũ Đăng Toàn vẫn toát lên vẻ nhanh nhẹn, minh mẫn dù mái tóc xanh đã nhuốm màu bạc trắng. Năm nào cũng thế, cứ cận ngày 30/4 ông lại bắt xe từ Hải Dương lên Hà Nội, đến nhà cậu em út Ngô Sỹ Nguyên để tụ họp cùng anh em đã kề vai sát cánh trong trận đánh cuối cùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

*Ông Toàn kể lại thời khắc tiến vào dinh Độc Lập

Nheo vầng trán rộng, ông chậm rãi kể lại thời khắc cách đây đã 36 năm, khi đại đội ông từ miền Trung vào tham gia chiến dịch mùa xuân năm 1975. Thời điểm ấy, ông thuộc Đại đội tăng 4, Tiểu đoàn tăng 1, Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2. Xe tăng 390 gồm có lái xe là trung sĩ Nguyễn Văn Tập; pháo thủ số 1 Ngô Sỹ Nguyên (trung sĩ); phó đại đội trưởng kỹ thuật kiêm pháo thủ số 2 Lê Văn Phượng (thiếu úy, lên thay pháo thủ số 2 bị thương) và ông Toàn là trung úy, chính trị viên đại đội.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc lập ngày 30/4.Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc lập ngày 30/4.

Sáng 10/4/1975 đơn vị ông bắt đầu hành quân từ Đà Nẵng vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trên đường đi, một tiểu đoàn trinh sát đã tham gia giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết. Đại đội của ông là lực lượng nòng cốt đi sau.

Ngày 26/4, toàn bộ lực lượng bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh. Ba ngày sau, đại đội 4 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong, trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu cho Quân đoàn 2.

Sáng 30/4, Tiểu đoàn tăng 1 do ông Ngô Văn Nhỡ làm Tiểu đoàn trưởng được giao nhiệm vụ chủ công mở đường vào Sài Gòn, Đại đội 3 có nhiệm vụ cắm cờ trên dinh Độc Lập. Mũi thọc sâu bắt đầu đánh từ tổng kho Long Bình, qua cầu Đồng Nai, ngã ba Thủ Đức, ngã ba Thủ Dầu Một, đến cầu Sài Gòn. Tại đây địch chống trả rất quyết liệt. Các loạt đạn từ xe tăng M48, M41, M113 bắn sang, tàu dưới sông Sài Gòn bắn lên, máy bay thả bom chặn bước tiến của quân giải phóng.

Bốn anh em trên chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Từ phải qua là các ông Vũ Đăng Toàn, Ngô Sỹ Nguyên, Lê Văn Phượng, Nguyễn Văn Tập. Ảnh: Hoàng Thùy.

“Chúng tôi đã dùng pháo cao xạ, súng M27 của xe tăng bắn lên, nhưng máy bay địch nâng độ cao và tiếp tục thả bom. Chúng tôi bị tổn thất nặng nề, xe bị cháy, xe bị sa lầy, mắc cạn, hỏng hóc, đại đội 2 và 3 mất sức chiến đấu bởi anh Nhỡ hy sinh, các chiến sĩ người hy sinh, người bị thương, băng bó cho nhau la liệt 2 bên cầu”, ông Toàn kể lại.

Ông cho biết, Đại đội tăng 4 lúc đó có 7 xe, ban chỉ huy đại đội gồm 3 người là trung úy Bùi Quang Thận (Đại đội trưởng), trưởng xe 843; thiếu úy Lê Văn Phượng, Phó đại đội trưởng Kỹ thuật và ông là chính trị viên, trưởng xe 390. Sau khi hội ý, Ban chỉ huy quyết định không thể chậm trễ, phải xốc lại đội hình, tổ chức đại đội tiến vào bên trong.

Trước khi hành quân, Đại đội 4 cùng đơn vị bạn đã dùng một số đạn pháo bắn sang bên kia để uy hiếp tinh thần và tiêu diệt địch. Bắn mấy loạt pháo thì địch tháo chạy, quân giải phóng tiến lên. Xe của trung đội trưởng Lê Tiến Hùng dẫn đầu, đến xe 390 rồi xe anh Thận, lần lượt đi. Đến ngã tư Hàng Xanh xe 390 bắn pháo tiêu diệt 2 xe thiết giáp N113 của địch sau đó rẽ trái, tiến về hướng dinh Độc Lập.

Đến cầu Thị Nghè thì xe của trung đội trưởng Lê Tiến Hùng bị địch bắn, ông và các chiến sĩ bị thương, một lính bộ binh hy sinh. Nhờ nhân dân đưa đồng đội đến bệnh viện, xe 390 vượt lên dẫn đầu đội hình gấp rút tiến về chiếm dinh Độc Lập. Khi đến gần dinh thì xe ông đi chậm lại, xe 843 vượt lên. Đến cổng trái, xe 843 lại dừng lại, tắt máy.

“Thấy vậy, lái xe Tập hỏi tôi “Thế nào anh Toàn?”. Tôi ra lệnh “Cứ tông thẳng vào”. Ngay lập tức lái xe Tập nhấn ga vọt lên, húc tung cánh cổng chính của dinh Độc Lập lao vào trong sân, đến trước tiền sảnh thì dừng lại”, ông Toàn hồi tưởng.

Bước ra khỏi xe, ông Toàn thấy Đại đội trưởng Thận đã ôm cờ nên vơ thêm một khẩu AK, chạy theo ông Thận hỗ trợ và sẵn sàng chiến đấu. Khi hai ông đến đầu nhà thì có người đứng chặn và giới thiệu “Tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá của Tổng thống Dương Văn Minh. Tổng thống mời các ông lên làm việc”.

“Có thêm người ra chỉ đường cho anh Thận lên nóc dinh cắm cờ, tôi theo Nguyễn Hữu Hạnh vào bên trong. Nội các của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ có hơn 50 người, ông Hạnh dồn hết vào phòng khánh tiết và sang phòng phía sau mời Dương Văn Minh lên”, ông Toàn kể.

Lúc này, Ngô Sĩ Nguyên cũng lên tới nơi, sau khi tham gia dồn nội các của Dương Văn Minh vào một chỗ, ông đứng gác ở cửa. Nguyễn Văn Tập ở lại giữ xe tăng còn Lê Văn Phượng thì ngồi trong xe giữ khẩu 12 ly 7 chĩa lên phía lá cờ trên nóc dinh để yểm hộ cho Bùi Quang Thận cắm cờ.

Ông Vũ Đăng Toàn sau khi xuất ngũ đã trở về làm mọi nghề để chèo chống gia đình. Ảnh: Hoàng Thùy.

Sau khi có chỉ huy đến nói chuyện với Dương Văn Minh và đưa ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng, ông Toàn cùng đồng đội ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ dinh. Khoảng một tiếng sau, Đại đội 4 của ông nhận lệnh ra cảng Bạch Đằng bảo vệ cảng, bảo vệ kho hàng của chính quyền Sài Gòn. Ở đó chừng 4-5 hôm, đại đội rút về tổng kho Long Bình, sửa chữa xe, lau chùi súng pháo, bổ sung đạn dược, xăng dầu… sẵn sàng chiến đấu nếu có tổ chức nổi dậy.

Sau chiến thắng vang dội đó, mỗi lữ đoàn lại cử một bộ phận hành quân giải phóng Tây Nguyên. Tháng 12/1978, lữ đoàn xe tăng và quân đoàn 2 được điều sang Campuchia tham gia giải phóng nước bạn.

Đất nước hoàn toàn độc lập, ông Toàn lại về Hà Bắc xây dựng củng cố đơn vị. Năm 1981 lữ đoàn 203 cử cán bộ thành lập trường 900 ở Sơn Tây. Làm việc được vài năm, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông Toàn được đơn vị cho về nghỉ hưu với quân hàm đại úy.

“Lúc đó bà xã bị ốm, 2 con nhỏ nên khó khăn chồng chất. Hạ ba lô xuống tôi nghĩ cách làm kinh tế để chèo chống gia đình. Tôi đi học nghề tráng bánh đa, thái phở, thái mì rồi chăn nuôi gà, vịt. Cuối cùng cũng giải quyết được lương thực cơ bản cho gia đình và có điều kiện đưa vợ đi chữa bệnh”, vị chỉ huy năm xưa bùi ngùi. Hiện ba con của ông Toàn đều đã lập gia đình.

Ông Toàn cho biết, sau giải phóng, 4 anh em trên chiếc xe tăng 390 mỗi người một nơi, mãi đến năm 1995 mới có cơ hội gặp lại. Từ đó trở đi, năm nào cũng vài lần, 4 cựu chiến binh lại lặn lội đường xa, tìm đến thăm nhau. Các ông Tập, Phượng, Nguyên sau khi rời quân ngũ cũng có cuộc sống khó khăn, và hiện đều có con theo nghiệp bố.

Bốn chiến sĩ xe tăng năm xưa cho biết, niềm hạnh phúc nhất của các ông là được xả thân vì độc lập, tự do của dân tộc và được cống hiến sức lực xây dựng đất nước.

Hoàng Thùy

vnexpress.net

Gặp nhân vật trong bức ảnh về bom napalm

Phan Thị Kim Phúc, nhân vật trong bức ảnh về bom napalm ở Việt Nam năm 1972 nổi tiếng, đã đem đến thông điệp của hy vọng tới các nạn nhân bị bỏng nặng tại cuộc hội thảo mới đây tại New York (Mỹ).

Bà Kim Phúc, 46 tuổi, đang sinh sống tại Toronto (Canada), là người đã sống sót sau trận bom napalm hồi năm 1972 tại Trảng Bàng (Tây Ninh). Được chụp bởi phóng viên AP, bức ảnh về một cô bé 9 tuổi, trần truồng chạy trên đường do bị bỏng nặng, mang tính hình tượng về chiến tranh Việt Nam, đã góp một tiếng nói kêu gọi chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa.

Bức ảnh đã góp tiếng nói chấm dứt chiến tranh tại VN do phóng viên của AP chụp năm 1972.

Ngày 8/6/1972 đánh dấu sự kiện đã làm thay đổi cuộc sống của bà Kim Phúc. “Khi nghe thấy tiếng bom dội xuống, tôi thấy lửa bao vây quanh mình. Tôi đã rất sợ hãi, tất cả quần áo đều cháy hết và bắt vào người”, bà Phúc nhớ lại. “Sau khi được chữa trị, tôi vẫn bị đau vì các dây thần kinh bị tổn thương nặng. Những cơn đau còn lan ra khắp các nơi tôi bị bỏng trên thân thể”.

Để hạn chế ảnh hưởng của vết thương, tôi luôn cố gắng ăn uống điều độ, tập thể dục và có thái độ lạc quan, bà Kim Phúc chia sẻ. “Và hơn thế nữa, tôi biết trân trọng cuộc sống của mình và sống có ý nghĩa hơn”.

Bà Kim Phúc hiện sinh sống tại Canada.

Đến dự cuộc hội thảo gần đây dành cho các nạn nhân bị bỏng nặng tại New York (Mỹ), bà Kim Phúc đã kể lại cuộc đấu tranh dữ dội của mình cả về thể xác và tinh thần để gượng dậy. Bà kể: “65% cơ thể tôi bị bỏng nặng. May mắn là lửa đã không lan đến mặt, lưng và tay trái nhưng vẫn để lại những vét sẹo vĩnh viễn và những cơn đau dai dẳng. Lẽ ra tôi đã chết, tôi đã phải ghép da, hầu hết lấy từ phần chân”. Cũng theo bà, khi điều trị bằng phương pháp vật lý trị liệu, bà phải nằm viện 14 tháng với 17 ca phẫu thuật nhưng cuối cùng bà sống sót.

Là người rất tích cực trong các hoạt động xã hội, bà Kim Phúc hiện là nhà diễn thuyết, nhà hoạt động vì hòa bình, Đại sứ Thiện chí của Liên Hiệp Quốc. Bà mẹ 2 con này còn là niềm khích lệ với những người bị thương nặng do bỏng trên toàn thế giới.

Thông điệp của bà về hy vọng cho những nạn nhân bỏng nặng đã gây tiếng vang lớn trong hội thảo hồi đầu tháng 9 được tổ chức bởi Tổ chức Xã hội Phoenix, tổ chức hỗ trợ và biện hộ phi lợi nhuận lớn nhất dành cho nạn nhân bị bỏng nặng của Mỹ.

Phương Anh

Dấu chân Sư đoàn 367 anh hùng

Cuộc trường chinh của sư đoàn bắt đầu từ Điện Biên Phủ 1954 – chiến trường miền Nam 1973 – cùng đội hình chiến đấu vào giải phóng TP Sài Gòn 1975

Trong cuộc diễu binh ngày 1-5- 1975 tại TPHCM, có một đoàn xe chở tên lửa hùng dũng tiến qua lễ đài. Đó là lần đầu tiên người Sài Gòn được nhìn thấy loại vũ khí hiện đại của quân đội nhân dân Việt Nam. Đoàn tên lửa đó là Trung đoàn 263, Sư đoàn 367 anh hùng. Để có mặt trong ngày vui lớn này, năm 1973, Sư đoàn 367 đã hành quân vượt Trường Sơn, tác chiến trên chiến trường miền Nam. Hiện nay, đội hình của sư đoàn trải rộng các tỉnh miền Đông, miền Tây và TPHCM, bảo vệ vùng trời Nam Bộ.

Từ Điện Biên Phủ đến Điện Biên Phủ trên không

Sư đoàn 367 được thành lập vào tháng 3-1953, từ một trung đoàn pháo phòng không 37 ly đầu tiên của Việt Nam. Chiến công đầu của sư đoàn là những loạt đạn hạ máy bay Pháp ở Điện Biên Phủ. Giai đoạn đầu cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc, “dấu chân” và chiến công của sư đoàn trải khắp vùng rộng lớn phía Nam Hà Nội. Năm 1967, biết trước ý đồ của giặc Mỹ sẽ dùng B52 ném bom Hà Nội, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “muốn bắt cọp phải vào tận hang cọp”, Trung đoàn tên lửa 261 và 263 được Bộ Tư lệnh Phòng không – không quân điều vào tuyến lửa Nghệ An, Quảng Bình để phục kích, nghiên cứu phương pháp đánh B52. Với lòng quả cảm và không ít lần thất bại, Trung đoàn 263 cùng các đơn vị tên lửa đã trả lời được hàng loạt câu hỏi: Làm thế nào để bắt và xác định mục tiêu trên nền nhiễu, phương pháp bắn B52 trên nền nhiễu, phương pháp điều khiển, làm nổ đầu đạn tên lửa… góp vào kinh nghiệm quý báu cho chiến thắng Điện Biên phủ trên không. Năm 1972, khi giặc Mỹ điên cuồng dùng B52 đánh phá thủ đô Hà Nội, 2 trung đoàn 261, 263 đã bắn rơi 8 “pháo đài bay” B52. Ngay khi hiệp định Paris được ký kết, Sư đoàn 367 hành quân vào chiến trường miền Nam để thực hiện hai nhiệm vụ: Bảo vệ vùng giải phóng, giữ bí mật lực lượng để phục vụ mục tiêu chiến lược.

Đội ngũ chiến sĩ hôm nay

Đã 27 mùa tân binh kể từ ngày giải phóng, lớp cán bộ chiến sĩ hôm nay hầu hết đều là “hậu bối” của những người đã từng đánh B52. Ở đại đội 3, trung đoàn 230 pháo phòng không, binh nhất Vũ Hồng Tuyến, 21 tuổi, quê ở Hiệp Hòa, Bắc Giang, nhập ngũ tháng 3-2001, tâm sự: “Thế hệ chúng tôi sinh ra khi chiến thắng Điện Biên Phủ trên không đã đi vào lịch sử của dân tộc. Phát huy truyền thống với chúng tôi là rèn luyện, nắm chắc khí tài, không để bị bất ngờ. Cho dù kẻ địch có vũ khí hiện đại hơn, nhưng với ý chí, trí tuệ con người Việt Nam, chúng tôi sẽ phát huy được truyền thống của cha anh, chiến thắng mọi quân xâm lược”. Trung sĩ Đỗ Đức Bình, quê Tiền Hải, Thái Bình, nhập ngũ tháng 2-2001, khẩu đội trưởng khẩu đội 6 – một khẩu đội bắn giỏi của đại đội 23 – trung đoàn cao xạ 230, cho biết: Mặc dù khẩu đội gồm toàn tân binh nhưng qua một mùa huấn luyện đều đã thành những pháo thủ giỏi sẵn sàng thay thế được các vị trí chiến đấu trong khẩu đội.

Đại úy – đại đội trưởng Vũ Đức Thuấn, cho biết mùa huấn luyện năm nay, 100% cán bộ chiến sĩ của đại đội đạt yêu cầu, trong đó có 85% khá, giỏi. Kết quả này đã được chứng minh trong đợt thao diễn bắn đạn thật vừa qua, đơn vị đã “hạ” mục tiêu bay ở độ cao 400 m, tốc độ 40 m/giây, tầm xa hơn 1.000 m, được Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – không quân tặng cờ “Đơn vị bắn giỏi”; chi bộ đại đội được công nhận cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh; Chi đoàn TN được công nhận “Tổ chức Đoàn 3 đỉnh cao quyết thắng cấp quân chủng”.

Đẹp tình quân dân

Đại tá Đào Xuân Thọ, Phó Tư lệnh chính trị, cho biết: Phong trào thi đua năm 2002 với các hoạt động kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không của sư đoàn đã đạt thành tích trên nhiều mặt. Trung đoàn 261 anh hùng có những tiến bộ vượt bậc trong huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật được Bộ Tư lệnh quân chủng tặng cờ xuất sắc khối các đơn vị tên lửa, trung đoàn ra – đa được bằng khen 10 năm xây dựng môi trường văn hóa.

Xây dựng môi trường văn hóa với các tiêu chí đẹp con người, đẹp tình quân dân, đẹp trận địa cũng đồng nghĩa với công tác dân vận. Theo thượng tá Đào Ngọc Tuấn, Phó Chủ nhiệm chính trị sư đoàn, đến nay 100% đầu mối đơn vị đóng quân ở TPHCM đều có hoạt động kết nghĩa. Khối Sư đoàn bộ với quận Tân Bình, cụm trung đoàn tên lửa 276 với quận 12, trung đoàn 263 với quận 9. Từ các hình thức kết nghĩa phối hợp hoạt động với các tổ chức địa phương, các trường học, đến nay đã tổ chức các hoạt động kết nghĩa toàn diện giữa cơ quan, đơn vị với Đảng bộ chính quyền, các ban ngành đoàn thể, nhân dân cấp phường, cấp quận, trong đó có sự phối hợp hoạt động tích cực của các tổ chức chính trị như Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Phụ nữ… Nội dung hoạt động đúng hướng, sát với tình hình địa phương, đơn vị; cùng với nhân dân tích cực triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”; phòng ngừa, phát hiện tố giác tội phạm, cảm hóa giáo dục người phạm tội tại gia đình và cộng đồng dân cư, tham gia các hoạt động xóa mù chữ, phổ cập giáo dục… Trong thời gian qua, đã quyên góp xây dựng 4 căn nhà tình nghĩa, sửa 6 căn nhà tình thương; phụng dưỡng 8 bà mẹ Việt Nam anh hùng…

An Bình Minh – Nam Dương

Người tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

Nguoi tham muu truong Chien dich Ho Chi Minh lich su

Tướng Hiền Ảnh: B.K

Ông là Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, người được Đại tướng Văn Tiến Dũng giao chủ trì việc soạn thảo kế hoạch tác chiến giải phóng miền Nam để trình Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.

Trong cuộc đời binh nghiệp 50 năm của mình, Thượng Tướng Lê Ngọc Hiền có phân nửa thời gian làm công tác tác chiến. Bạn bè vẫn thường gọi ông là Hiền “tác chiến”.

Chọn mặt gửi vàng

Chúng tôi đến “phố nhà binh” vào dịp cả nước đang tưng bừng hướng về lễ kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nơi gia đình ông đã gắn bó từ nhiều năm nay. Ngôi nhà vẫn vậy, giữa thủ đô nhưng vẫn giữ được nét quê, cánh cổng to hé mở, vợ ông, bà Lương Ngọc Thư, đã chấp chới sang tuổi 70 nhưng vẫn còn đậm nét của người con gái “mỏng mày hay hạt năm nào”.

Lão tướng Lê Ngọc Hiền tiếp chúng tôi tại phòng khách của gia đình ở phố Lý Nam Đế. Với vóc dáng cao lớn, tác phong nhanh nhẹn, khó ai có thể biết ông đã ở tuổi gần 80 và có trên 50 năm tuổi quân.

Sau khi Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trong hai năm 1974-1976, Bộ Tổng Tham mưu được lệnh xây dựng kế hoạch tác chiến phù hợp.

Tướng Lê Ngọc Hiền nhớ lại: “Tháng 4 năm 1974, tôi được Bộ Tổng tham mưu lệnh ra Bắc gấp. Ra đến Hà Nội, Đại tướng Văn Tiến Dũng (khi đó là Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN) gọi lên nói “cho cậu về nghỉ phép 1 tuần”. Mừng quá, sau 4 năm ở chiến trường được nghỉ một tuần gặp gỡ vợ con, định bụng dành mấy ngày cả nhà về Sơn Tây thăm quê.

Nào ngờ, chưa kịp thực hiện ý định riêng, mới nghỉ được 5 ngày, Đại tướng Văn Tiến Dũng lại cho gọi lên nói “giao quyết định quân hàm thiếu tướng cho cậu và từ nay cấp trên quyết định cậu giữ chức Phó tổng Tham mưu trưởng và giao nhiệm vụ đặc biệt cùng với Cục Tác chiến làm gấp kế hoạch tác chiến chiến lược trong 2 năm để giành thắng lợi lớn giải phóng miền Nam”.

Nguoi tham muu truong Chien dich Ho Chi Minh lich su

Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (ngoài cùng, bên trái) cùng BCH Chiến dịch HCM tại Lộc Ninh tháng 4/1975 Ảnh Tư liệu

Tôi vừa mừng nhưng cũng vừa lo. Mừng vì 11 năm với quân hàm đại tá giữ chức Cục trưởng Cục Tác chiến nay vừa được thăng quân hàm, vừa lên chức, vinh dự quá nhưng nhiệm vụ được giao nặng nề như vậy, tôi không lo sao được”.Kế hoạch tác chiến chiến lược được ông cùng Cục Tác chiến chuẩn bị từ tháng 5 năm 1974 đến cuối tháng 10 năm 1974, tương đối hoàn tất. Kế hoạch được chuẩn bị khá tỷ mỷ về tình hình địch, ta, diễn biến trên khắp các chiến trường từ sau khi ký Hiệp định Paris bằng những bản đồ, biểu đồ, bảng so sánh các số liệu…

Ông kể: “Sau khi kế hoạch tác chiến được hoàn thành, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tổ chức hội nghị bàn. Điều chúng tôi mừng nhất là Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhất trí với bản kế hoạch, chỉ yêu cầu bổ sung chi tiết hơn. Điểm mấu chốt của kế hoạch tác chiến chọn chiến trường Tây Nguyên làm chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp năm 1975 được các đồng chí trong Bộ Chính trị đánh giá cao”.

Từ tháng 10 đến tháng 12/1974, Kế hoạch tác chiến được bổ sung chi tiết đến từng chiến dịch. Từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp thông qua kế hoạch tác chiến.

Với quan điểm thông suốt là dự kiến giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng miền Nam. Ngoài kế hoạch tác chiến này, Bộ Chính trị còn dự kiến: Nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Tướng Lê Ngọc Hiền kể rằng, kế hoạch tác chiến chiến lược là công sức của tập thể, một sự cố gắng hết mức, hết sức căng thẳng trong suốt nửa năm liền của cán bộ Cục Tác chiến. “Những ngày đó, cán bộ tác chiến chúng tôi chỉ được nghỉ lúc ăn, hầu hết thời gian dốc sức để hoàn thành kế hoạch.

Nhiều khi chúng tôi làm việc đến nửa đêm, thậm chí là 1, 2 giờ sáng. Chúng tôi phải theo dõi diễn biến các chiến trường, mỗi ngày có đến hàng trăm bức điện từ khắp nơi gửi về, mình phải đọc rồi phân tích, đánh giá tình hình địch-ta”, ông kể

Từ khi bắt tay vào xây dựng kế hoạch tác chiến cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, vợ và các con ông không hề hay biết ông đang làm gì. Thâm trầm, ít nói, ngày sang cơ quan, đến bữa ông lại về ăn cơm cùng gia đình. “Vợ chồng nhưng tôi cũng chẳng dám hé răng hỏi đến công việc của ông ấy”, bà Thư, vợ ông kể. Ngồi bên cạnh, ông nắm tay bà như tìm sự thông cảm: “Điều đặc biệt nhất khi làm công việc tuyệt mật này là chúng tôi phải tuyệt đối giữ bí mật, không được tiếp xúc, không được hở ra điều gì với bất kỳ ai, kể cả người thân. Đó là một kỷ luật đối với người làm tác chiến”.

Lê Ngọc Hiền sinh Năm 1928, tại xã Đại Đồng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Năm 1944, ông tham gia cách mạng. Tháng 5 năm 1945 ông nhập ngũ, cùng năm đó ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, năm 1980 được phong hàm Trung tướng. Ông được phong hàm Thượng tướng năm 1986. Chức vụ cao nhất là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, Tham mưu trưởng chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975…

Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Tướng Hiền được giao trọng trách Tham mưu trưởng chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông có nhiệm vụ vạch kế hoạch tác chiến cho chiến dịch lịch sử. Đồng chí Phạm Hùng là Bí thư Trung ương Cục chủ trì cuộc họp kế hoạch tác chiến chiến dịch do Tướng Lê Ngọc Hiền trình bày. Kế hoạch gồm 2 bước: Bước 1, từ ngày 8/4, tiến công chia cắt chiến lược và bao vây đánh trận “rúng động”, đánh vùng ven và 8 mục tiêu trong nội thành, chuẩn bị cho tổng tiến công.

Nếu thuận lợi, địch tan rã thì phát triển thọc sâu ngay, phối hợp với quần chúng nổi dậy đánh chiếm thành phố; Bước 2, dự kiến từ ngày 15 đến ngày 20/4/1975 thực hiện đột kích Sài Gòn trên 5 hướng. Lực lượng sử dụng từ 3-5 sư đoàn chủ lực, 7 đoàn đặc công, 60 tổ biệt động, cùng với lực lượng du kích khoảng 50 ngàn quần chúng nổi dậy tại chỗ. Nếu địch co cụm thì chuẩn bị thêm lực lượng nhưng phải giải quyết xong trong tháng 4/1975. “Cách đánh của ta là táo bạo, kiên quyết tiến công đánh thẳng vào đầu não địch, đè bẹp ý chí đề kháng của địch”, Tướng Hiền nhớ lại.

Chuyện tình anh lính trẻ và cô bác sỹ

Dong dỏng cao, nét mặt đôn hậu, nghe ông kể chuyện, bà lặng lẽ như những ngày tháng lặng lẽ chờ chồng khi ra trận. Khó ai đoán được bà đã ở tuổi ngoài 70. Sáu mươi năm về trước, ấy là năm 1950, hồi đó lão tướng Lê Ngọc Hiền mới 22 tuổi, và đang là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48.

Cứ mỗi khi bạn bè nhắc đến chuyện lấy vợ, Hiền lại đỏ mặt vì xấu hổ. “Thì đã bao giờ mình cầm tay con gái đâu…Hồi ấy chúng tôi chỉ nghĩ đến chuyện ra trận thôi”, ông nhớ lại. Nhưng rồi một lần gặp người bạn cũ Trần Quang Thường, người cùng tham gia hoạt động thanh niên Cứu quốc, tham gia khởi nghĩa ở Sơn Tây, rủ Hiền đến chơi một gia đình quê ở Hoà Bình, làm nghề y, có 4 cô con gái xinh đẹp ở độ tuổi lấy chồng, chàng trai 22 tuổi Lê Ngọc Hiền như bị vật vô hình níu kéo.

“Nhìn tấm ảnh trên tường nhà, tôi đã “chấm” bà ấy ngay”, ông tâm sự. Chả là hồi đó, Thư còn đang đi học y nên vắng nhà. Nhưng “trời xui, đất khiến thế nào”, một lần hành quân qua Thanh Hóa, ông lại gặp cô bác sỹ trong mộng Lương Ngọc Thư. Mối tình của chàng Trung đoàn trưởng và cô bác sỹ Thư nẩy nở. “Bạn bè khen chúng tôi thật đẹp đôi”.

Vị tướng già bồi hồi nhớ lại: “ở bên nhau được mấy ngày, tôi phải tiếp tục lên đường”. Hôm chia tay, Thư chỉ nói: “Em sẽ chờ!”. Nói thế mà hóa ra Thư đợi thật. “Tôi chỉ nhớ là sau chiến dịch Điện Biên mấy ngày, chúng tôi tổ chức đám cưới”, bà Thư tủm tỉm cười. Thế rồi sau cái ngày ấy, ông về công tác tại Cục Quân huấn của Bộ Tổng tham mưu còn bà về công tác ở Sở y tế Hà Nội.

Hỏi những ngày ông đi biền biệt, bà xoay xở cuộc sống thế nào? Bà kể: “Khổ lắm các cháu ạ. Khi ông đi chiến trường, một mình tôi với một đàn con, đứa lớn mới hơn 10 tuổi. Dạo đó, máy bay địch bắn phá Hà Nội dữ dội. Cả nhà phân tán mỗi người một nơi. Con gái đi sơ tán theo trường học, con trai thứ hai gửi theo trại của Bộ Tư lệnh Thông tin, con trai út mới 1 tuổi gửi một bà má miền Nam trông giúp tại nơi sơ tán thuộc làng Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, quê của anh Lê Trọng Tấn…”.

Một nách ba đứa con, cứ chủ nhật bà lại lóc cóc đạp xe, mỗi tuần đi thăm một đứa. Quay sang bà, vị tướng già vỗ về: “50 năm chung sống, bà thật là người vợ hiền đảm. Tôi cứ đi biền biệt, mọi việc một mình bà lo. Bà vừa làm mẹ, vừa làm cha những khi tôi vắng nhà, nuôi các con khôn lớn, nên người. Nay 3 con trưởng thành (một gái, hai trai) đều là nhờ công bà ấy cả”.

Đại tá Nguyễn Văn Vĩnh – B.Kiên – Trần Dương

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người rất yêu mến Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, bởi tính tận tuỵ và kiên định của ông. Về nghỉ hưu, tướng Hiền tặng bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nhiều kỷ vật, duy chỉ có bức thư viết tay của anh Văn gửi ông trong những ngày chiến đấu ở miền Nam, do thiếu tướng Võ Quang Hồ, Cục phó Cục Tác chiến cầm vào là ông giữ lại.

Được sự đồng ý của ông, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc toàn văn bức thư này để bạn đọc thấy sự dân dã và sự thân tình của vị Đại tướng Tổng tư lệnh đối với các cán bộ, sỹ quan của mình:

“Cậu Hiền-nhân dịp anh Sáu và cậu Võ Quang Hồ vào, viết thư Văn thăm chúng mày, chào mừng quân ta ra quân đại thắng trên hướng Tây Nguyên. Chúc mày và anh em khoẻ hăng, đánh giỏi sắp tới góp phần cống hiến xứng đáng vào cuộc quyết chiến chiến lược lịch sử giành lại thắng lợi. Mình vẫn khoẻ. Võ Quang Hồ đi ở nhà cũng vất vả thêm chút ít, mong nó về sớm. Có ý kiến gì Hồ sẽ nói lại”. Văn – Hà Nội, 7/3/1975

Việt Báo

vietbao.vn

Ngày 29/4/1975

Tổng tiến công trên toàn bộ mặt trận

(VOV) – Trong ngày 29/4/1975, ta đã giải phóng Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An và Vũng Tàu

Ngày 29/4/1975, tổng tiến công trên toàn bộ mặt trận, ngăn chặn và tiêu diệt các tập đoàn chủ lực bên ngoài, thọc sâu vào bên trong, cùng lực lượng tại chỗ đánh chiếm các địa bàn quan trong ở vùng ven, làm tê liệt hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất.

Bộ đội Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất (Ảnh: Báo ảnh Việt Nam)

Ở hướng đông, ta tiếp tục phát triển tiến công căn cứ Nước Trong, nam căn cứ Long Bình, đánh chiếm phần lớn thị xã Vũng Tàu. Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến tới cầu xa lộ Đồng Nai.

Quân đoàn 4 đánh chiếm căn cứ Yên Thế, tranh chấp Hố Nai, sân bay Biên Hòa.

Ở hướng bắc và tây bắc, Quân đoàn 1 tiến tới Bắc Lái Thiêu, Quân đoàn 3 chiếm căn cứ Đông Dù, Trảng Bài phát triển tiến công trại huấn luyện Quang Trung, Bà Quẹo.

Ở hướng tây nam và nam, Đoàn 232 chiếm chi khu Đa Huệ thị xã Hậu Nghĩa, có đơn vị tiến vào được Bà Quẹo, Bà Lác.

Trong ngày 29/4/1975, ta đã giải phóng Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An và Vũng Tàu./.

Theo Ngày này năm xưa, NXB Lao Động 1998

VOV News

30/4/1975 và những mốc sự kiện lịch sử

(VOV) – 5h30 sáng 30/4, quân ta từ 4 hướng đồng loạt tổng tiến công vào Sài Gòn. Cả thành phố rung chuyển. 13h30 cùng ngày, Chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng không điều kiện, chấm dứt chế độ Việt Nam cộng hòa.

>> Cột mốc vàng lịch sử

Hai ngày sau khi chúng ta đã giải phóng toàn bộ thành phố Đà Nẵng, sáng ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị họp mở rộng. Đây là cuộc họp lịch sử bàn về đòn chiến lược thứ ba, đòn cuối cùng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Hội nghị nhất trí nhận định: Ta hơn hẳn địch cả về thế chiến lược lẫn lực lượng quân sự, chính trị. Dù Mỹ có tăng viện cũng không thể cứu vãn sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn. Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm thực hiện tổng công kích, tổng tiến công trong thời gian sớm nhất. Tốt nhất kết thúc trong tháng 4/1975. Phải hành động “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ”.

Với quyết định trên, các cánh quân của ta thần tốc đổ vào chiến trường trọng điểm. Từ hậu phương lớn miền Bắc, Quân đoàn 1 tiến vào miền Nam không kể ngày đêm. Hậu phương miền Bắc huy động tối đa sức người sức của cho trận đấu cuối cùng – tấn công đầu não quân ngụy, giải phóng Sài Gòn. Sư đoàn 3 chủ lực Quân khu 5 và Sư đoàn 968 cơ động theo đường số 19 đập tan các chốt phòng ngự của Sư đoàn 22 ngụy, phối hợp lực lượng địa phương giải phóng thị xã Quy Nhơn và toàn tỉnh Bình Định vào ngày 31/3/1975.

Đại biểu học sinh, sinh viên Sài gòn – Gia Định tại cuộc mít tinh chào mừng giải phóng Sài gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam

Ngày 1/4/1975, Sư đoàn 320 tiến quân theo đường số 7, cùng lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên giải phóng thị xã Tuy Hòa.

Ngày 2/4/1975, quân ta giải phóng thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, tiến ra tấn công Đà Lạt.

Ngày 3/4/1975, thành phố Đà Lạt được giải phóng.

Ngày 2 và 3/4/1975, thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa và Quân cảng Cam Ranh được giải phóng.

Ngày 5/4/1975, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh củng cố khẩn cấp các tuyến phòng thủ. Tuyến phòng ngự từ xa Phan Rang – Xuân Lộc – Tây Ninh và tuyến phòng ngự ngoại vi Sài Gòn được địch hết sức chú trọng.

Lúc này, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, các cánh quân của ta hành quân thần tốc ngày đêm đến các điểm tập kết để thực hiện trận đánh cuối cùng vào sào huyệt địch. Trên trục đường số 1, quân ta đã tiến gần Phan Rang. Trên trục đường 20 quân ta sau khi giải phóng Lâm Đồng, Đà Lạt, Tuyên Đức đã tiến xuống gần Kiệm Tân.

Ngày 6/4/1975, tại chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị công bố quyết định thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch Sài Gòn- Gia Định: Đại tướng Văn Tiến Dũng là Tư lệnh; đồng chí Phạm Hùng, Chính ủy; Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện là Phó Tư lệnh. Đồng chí Lê Đức Thọ tham gia Trung ương Cục và Đảng ủy mặt trận.

Trong dịp này, Trung ương Cục phân công Phó Bí thư Trung ương Cục Nguyễn Văn Linh đặc trách phong trào nổi dậy của quần chúng, nhất là ở Sài Gòn. Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục Võ Văn Kiệt chỉ đạo việc tiếp quản thành phố. Đảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch Sài Gòn – Gia Định khẩn trương bắt tay vào việc.

Ngày 7/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điện khẩn vào chiến trường: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút. Xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”.

Trên hai trục chính là đường số 1 và đường Trường Sơn, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, Đoàn 559 tổ chức khẩn trương với sự hỗ trợ của Quân khu 5 đảm bảo công tác hậu cần cho chiến dịch, mặc dù địch ở trên bộ, trên không và ngoài biển ra sức ngăn chặn, bắn phá suốt đêm ngày. Quân no, xe pháo đủ nhiên liệu, đạn dược, bộ đội được nhân dân động viên, giúp đỡ, tốc độ hành quân lại càng tăng nhanh. Cùng ngày, Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền thông qua kế hoạch tiến công quân sự trên mặt trận Sài Gòn.

Ngày 8/4/1975, một chiếc máy bay F5 của không quân ngụy đã đánh bom xuống Dinh Độc Lập. Địch ngỡ ngàng tưởng đảo chính ra lệnh giới nghiêm. Tinh thần ngụy quân và ngụy quyền khắp nơi xao động vì ngay đầu não đã bị tấn công. Tinh thần của chúng càng suy sụp khi được biết Trung úy không quân Nguyễn Thành Trung – người đánh bom vào Dinh Độc Lập – quê Bến Tre, vốn thực mang họ Đinh, một đảng viên của ta hoạt động từ lâu trong không quân ngụy.

Ngày 14/4/1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận được điện số 37 TK với nội dung: Bộ Chính trị đặt tên cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Thiếu tá Mai Hoa Thám là một trong những người đã mã dịch bức điện ngày 14/4 trên chiến trường. Ông xúc động kể lại: “Lúc chúng tôi mã dịch bức điện đó, rồi báo tin xuống các đơn vị, các đơn vị mừng lắm. Chiến dịch mang tên Bác, chúng tôi hiểu chiến thắng đã gần kề, thắng lợi đã đến gần. Lúc này không ai còn nghĩ đến sự hi sinh, người này ngã xuống người khác tiến lên, chỉ với quyết tâm và niềm tin chiến thắng”.

Ngày 15/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư cho Cục Cơ yếu Bộ Tổng Tham mưu, trong đó viết: Trong những ngày chiến dịch khẩn trương vừa qua, cán bộ và chiến sĩ nhân viên cơ yếu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cuộc chiến đấu hiện đang tiếp tục và càng gần đến toàn thắng, càng khẩn trương quyết liệt. Nhiệm vụ đảm bảo bí mật chính xác, kịp thời nội dung của các mệnh lệnh… có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện quyết tâm giải phóng miền Nam.

 Ngày 18/4/1975, giải phóng thị xã Phan Thiết và toàn tỉnh Bình Thuận. Đại sứ Mỹ Martin mật báo tình hình tuyệt vọng về Washington: “Các đơn vị đối phương đang hội tụ về khu vực Sài Gòn từ mọi hướng với một lực lượng hậu bị to lớn hơn lực lượng chính phủ (ngụy quyền Sài Gòn) rất nhiều…” Trước tình hình đó, chính quyền đế quốc Mỹ ra lệnh di tản người Mỹ ở Sài Gòn với một lực lượng lớn hải quân và không quân gồm 35 tàu chiến, có 4 tàu sân bay và 100 máy bay bắt đầu rút từ ngày 21/4/1975.

Trong khi rút chạy, đế quốc Mỹ còn có kế hoạch đưa hàng ngàn trẻ em Việt Nam về Mỹ với mục đích gây xúc động dư luận, về lâu dài làm cho số trẻ em này quên Tổ quốc, chống lại Tổ quốc sau này. Chúng còn kích động hàng chục ngàn người Việt Nam tỵ nạn theo chúng.

Đêm 24/4/1975, Bộ chỉ huy chiến dịch hành quân đến Căm Xe, ở tây-bắc Bến Cát, xây dựng Sở chỉ huy tiền phương của chiến dịch. Đến ngày 26/4 đơn vị cuối cùng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh đã vào đến vị trí tập kết, sẵn sàng chờ lệnh tiến công vào Sài Gòn.

Tối 28/4 Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn họp đánh giá tình hình trên toàn mặt trận, bàn cách đánh sao cho thật nhanh, chắc thắng, đập tan ngay hệ thống tổ chức ngụy quân, ngụy quyền đồng thời phải bảo đảm thành phố ít bị tàn phá, nhân dân thành phố ít bị thiệt hại về người và của. Cuối cuộc họp Đại tướng- Tư lệnh chiến dịch Văn Tiến Dũng ra lệnh “Tổng công kích trên toàn mặt trận vào 5h sáng ngày 29/4/1975”.

Đúng giờ, pháo ta ào ạt dội lửa xuống các căn cứ quân sự ngụy trong thành phố. Ta đang đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, Trảng Bàng, địch phản kích quyết liệt. Lui xuống tây-nam, Sư đoàn 9 đã vượt sông Vàm Cỏ Đông từ đêm 28 rạng sáng 29/4, vào lúc 5h30 ngày 29/4 đã chiếm được ngã ba Vĩnh Lộc, Bà Lác trên đường tiến công. Đúng 5 giờ, pháo ta ở Nhơn Trạch cũng đã bắt đầu nhả đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất.

Suốt đêm 29/4, tin chiến sự từ khắp các mặt trận báo về. Tin tức được xác nhận, tập thể lãnh đạo phân tích, bàn bạc nhanh chóng. Rồi các chỉ thị, mệnh lệnh, các biện pháp cụ thể được truyền xuống các binh đoàn.

5h30 sáng ngày 30/4, quân ta từ 4 hướng đồng loạt tổng tiến công vào Sài Gòn. Cả thành phố rung chuyển. Tất cả các cầu và đầu mối giao thông quan trọng trong thành phố đã được các đơn vị đặc công đánh chiếm trước và khống chế. Địch chống cự phản kích yếu ớt, thậm chí có những căn cứ án binh bất động, như chờ quân Giải phóng tới tiếp quản. Các đơn vị xe tăng, thiết giáp và xe cơ giới quân ta ào ào tiến vào như vũ bão, đi tới đâu cờ đỏ sao vàng và cờ của Mặt trận giải phóng dân tộc tung bay tới đó.

Mũi thọc sâu của Quân đoàn 2 nhanh chóng qua cầu Thị Nghè, tiến thẳng vào dinh Độc Lập. Xe tăng ta húc đổ cổng sắt dinh Độc Lập. Trung úy Bùi Quang Thận cùng một số chiến sĩ nhanh chóng lao lên ban công tầng thượng của tòa nhà giật bỏ lá cờ ngụy và kéo lá cờ giải phóng lên cột cờ cao nhất của dinh Độc Lập vào lúc 11h30’ ngày 30/4/1975. 13h30 cùng ngày, Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện chấm dứt chế độ Việt Nam Cộng hòa. Đây cũng là giờ phút báo hiệu khoảnh khắc cuối cùng về cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ kéo dài 21 năm ở Việt Nam./.

Nguyễn Viết Chính

VOV News

Dinh Độc Lập ngày 30/4

Những thước phim, tấm ảnh định mệnh

Giadinh.net – Sau khi độc lập, người dân Sài Gòn ùa ra đường để xem mặt những người lính cộng sản như thế nào, có người còn sờ vào mông bộ đội để xem có đúng là họ “mọc đuôi” không…

Nhà báo Phạm Việt Tùng:

Tôi đã vào Dinh Độc Lập như thế nào?

Một trong những may mắn định mệnh của nhà báo Phạm Việt Tùng là đã quay được những thước phim cực kỳ quý giá về giải phóng miền Nam và quang cảnh Dinh Độc Lập ngay sau khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Hơn 30 năm sau, ông cũng là người thực hiện bộ phim tài liệu vô cùng xúc động về những người lính từng húc đổ cổng Dinh Độc Lập trong “Người lính xe tăng 390 ngày ấy”.

Bức ảnh lịch sử do nhà báo Kỳ Nhân chụp tại thời điểm Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở Đài phát thanh Sài Gòn.

Bức ảnh lịch sử do nhà báo Kỳ Nhân chụp tại thời điểm Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở Đài phát thanh Sài Gòn.

Như người lính vào chiến trường

Dù đã không còn công tác tại Đài Truyền hình Việt Nam hơn 10 năm nhưng nhìn nhà báo Phạm Việt Tùng không ai nghĩ ông đã hơn 70 tuổi. Khi được hỏi về những thước phim mà ông quay năm đó, giọng ông trở nên hào sảng vô cùng. Ông kể: “Tháng 4/1975, Đài Truyền hình Việt Nam cử 3 đoàn phóng viên vào chiến trường miền Nam để quay chiến thắng của quân giải phóng. Lúc đó tôi 37 tuổi, cũng là một người từng trải trong nghề rồi.

Ngày 24/4 chúng tôi bắt đầu lên đường, dẫn đầu đoàn đi là nhà báo Huỳnh Văn Tiểng – Phó chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. Trong đoàn còn có chị Tú Uyên, là vợ của anh Tiểng. Vừa cưới nhau xong thì anh chị cũng đồng thời lên xe cùng với đoàn chúng tôi để thực hiện nhiệm vụ. Chuyến đi đó cũng coi như là “tuần trăng mật” của hai vợ chồng. Còn vợ chồng tôi chia tay nhau ở 58 phố Quán Sứ, cũng bịn rịn như những người lính lên đường đi chiến đấu vậy.

Nhà báo Phạm Việt Tùng

Là nhà báo nhưng chúng tôi được Ban Thống nhất TƯ cấp đầy đủ vật dụng, quân trang gồm quần áo, súng và đạn để tự vệ. Chúng tôi mặc quần áo bộ đội, tư trang găm nặng người. Và có một thứ không thể thiếu được đó là tấm nilon rất rộng và dày vừa làm võng nằm, vừa có thể làm “áo quan” nếu chẳng may có nằm xuống. Nói như thế để thấy rằng dù không phải là người lính trực tiếp chiến đấu nhưng mỗi chúng tôi đều ý thức rất rõ sự nguy hiểm của chuyến đi đó. Vì thế, nỗi sợ khi bước chân đi là có thật, bởi chiến trường tên bay đạn lạc, ai biết sẽ sống chết như thế nào?

Tôi vẫn còn nhớ khi quay cảnh đánh nhau ở rừng cao su trong vách núi (giữa rừng cao su ở Đồng Nai), chị Tố Uyên run ôm chầm lấy tôi bảo: “Tùng ơi, kiểu này thì chết mất thôi”. Chúng tôi cũng sợ không kém nhưng rồi lại nghĩ: “Chết thì chết, nhưng vẫn tự hào là người Hà Nội đóng góp một phần nhỏ bé cho chiến trường miền Nam”.

Chúng tôi bắt đầu quay từ Huế trở vào, quân giải phóng chiến thắng ở đâu thì chúng tôi quay đến đó. Đoàn chia ra làm 3 mũi, đoàn của tôi đi theo đường 1. Dù đi theo đoàn nhưng mỗi người đều phải tự nghĩ ra trong đầu mình một cái tứ nào đó, nếu cứ quay tùy tiện, ngẫu hứng thì lấy đâu ra phim.

Suốt chặng đường từ Bắc vào Nam, lúc nào tôi cũng ôm khư khư cái máy trong người cho đỡ xóc chứ không dám để trong thùng. Nhiều khi tôi cứ hay nói đùa la: “Vợ có khi không quý bằng cái máy quay”, bởi để có được những thước phim đó chúng tôi đã phải tốn rất nhiều công sức và cả sự mạo hiểm. Lúc nào cũng chỉ sợ đúng lúc đánh nhau mà máy giơ lên không quay được, vì thế cái máy lúc đó là quý hơn người.

Để vào Sài Gòn lúc đó là rất khó khăn bởi quang cảnh đổ nát vì cuộc chiến và đâu đâu cũng ngổn ngang các vật dụng, ba lô của lính Mỹ, ngụy chất thành đống cao ngất. Rồi người dân kéo ra đường để đón tiếp quân giải phóng, đường sá lúc đó tắc kinh khủng. Hơn nữa, làm báo trong điều kiện khi đó không giống như bây giờ vì muốn đi phải có sự đồng ý của địa phương đó thì mới được đến. Đi phải theo đoàn chứ không phải ai muốn tác chiến thế nào là tuỳ đâu, có khi còn bị bắt ấy chứ”.

Gặp may

Đúng sáng 1/5/1975 nhà báo Phạm Việt Tùng có mặt ở Sài Gòn. “Sài Gòn lúc đó như một đống rác khổng lồ, thứ được tìm mua nhiều nhất là cờ giải phóng. Nhưng vào đến nơi, chúng tôi cũng không ý thức được là phải vào Dinh Độc Lập đâu. Ai cũng nghĩ, qua sông Bến Hải là vào đến miền Nam, quay được cảnh giải phóng ở đó là ổn chứ có ai nghĩ đến việc là phải vào Dinh Độc Lập để quay đâu. Với lại, vào Sài Gòn lúc đó chắng khác gì nhà quê ra tỉnh, có muốn đi cũng không biết đường mà vào. Chỉ có thằng láu cá và khôn như tôi thì mới nghĩ ra là vào Dinh Độc Lập, mà ngẫm ra cũng là “ăn may” thôi vì lúc đó, các đồng nghiệp của tôi đều vào đài Sài Gòn, có người còn vào tận Vũng Tàu để quay. Tôi lớ ngớ thế nào lại bỏ đoàn để đi theo đoàn sinh viên Vạn Hạnh và được họ chỉ đường rất nhiệt tình”.

Chứng kiến những gì đang diễn ra ở Sài Gòn khi đó, nhà báo Phạm Việt Tùng ngẫm đến câu nói của Bác Hồ: Cuộc chiến tranh của chúng ta là chiến tranh nhân dân. “Lúc đó tôi mới thấm nhuần được rằng đó là dân tộc ta thắng Mỹ chứ không phải chúng ta thắng ngụy đâu. Ngay cả một bộ phận lính ngụy cũng bỏ súng xuống và đi theo mình. Sinh viên Sài Gòn lúc đó là lực lượng ủng hộ quân giải phóng nhiệt tình nhất”.

Khi được hỏi về điều gì khiến ông xúc động nhất khi đến Sài Gòn, nhà báo Phạm Việt Tùng nói: “Có 2 điều khiến tôi xúc động đó là: Sau khi độc lập, người dân Sài Gòn ùa ra đường để xem mặt những người lính cộng sản như thế nào, có người còn sờ vào mông bộ đội để xem có đúng là họ “mọc đuôi” không. Có người thốt lên: Ô hô, Việt cộng làm gì có đuôi như tuyên truyền xuyên tạc của ngụy. Mừng nhất là các sư sãi, sinh viên, kể cả những người lính của phía bên kia họ cũng ra để xem cộng sản thế nào. Có người còn đổi đôla sang tiền Việt Nam Dân chủ cộng hòa để chiêm ngưỡng dung mạo Cụ Hồ như thế nào.

Điều thứ 2 là tâm thế của Tổng thống Dương Văn Minh khi trả lời phỏng vấn báo chí trong và nước ngoài. Ông ấy cười rất tươi và nói: “Hôm nay tôi rất mừng vì tôi đã được 60 tuổi và được là người dân độc lập của nước Việt Nam” (sau này được chữa lại là “của nước Việt Nam độc lập”). “Tức là ông ấy chúc mừng thắng lợi của nước Việt Nam chứ không nghĩ đến số phận và tâm thế của một kẻ thất bại”, nhà báo Phạm Việt Tùng nói.

Nhà báo Đậu Ngọc Đản – Tổng biên tập tạp chí truyền hình (nguyên phóng viên chiến trường của Tổng cục chính trị):

Đó là may mắn lớn của tôi

Hồi đấy tôi mới 24 tuổi, là phóng viên mang quân hàm thiếu uý của Tổng cục chính trị. Vào Sài Gòn khi đó có rất nhiều phóng viên báo chí trong và ngoài nước nhưng có người vào muộn, có người vào sau vì nhiều lý do khác nhau.

Sở dĩ tôi có mặt tại Dinh Độc Lập vào sáng ngày 30/4/1975 để chứng kiến cảnh Tổng thống Dương Văn Minh bị bắt là bởi tôi có 2 may mắn lớn đó là: Tôi là phóng viên của quân đội, lại được đi theo tiểu đoàn 4 của Lữ đoàn xe tăng 203, là cánh tiến thẳng vào Sài Gòn. Trong đó, chiếc xe tăng thứ 4 mà tôi được đi cùng là chiếc tiến vào Dinh Độc Lập.

Các chiến sĩ Quân đoàn 2 đưa Tổng thống Dương Văn Minh ra đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng.

Các chiến sĩ Quân đoàn 2 đưa Tổng thống Dương Văn Minh ra đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng.

Khi quân giải phóng tiến vào Dinh, tôi cũng đã nhanh tay chụp được bức hình trung uý Phạm Xuân Thệ đưa Dương Văn Minh đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng.

Nhà báo Đậu Ngọc Đản

Khi chụp xong bức hình này, trong đầu tôi chỉ nghĩ đến việc làm thế nào đó để nhanh chóng đưa nó về Hà Nội để kịp thời đưa tin đến nhân dân cả nước. Vì thế mà tôi không đến đài phát thanh để chứng kiến những gì xảy ra ở đó nữa. Tôi nghĩ đến việc nhờ một cảnh sát của Việt Nam cộng hoà (vì họ có xe ô tô) và nói: “Tôi là phóng viên, bây giờ tôi đang cần đưa tin bài gấp về Hà Nội, ai trong số các anh có thể giúp tôi được không?”.

Lúc đó khoảng vài người xung phong đưa chúng tôi đi và tôi đã chọn một người tên là Võ Cự Long, một cảnh sát chuyên dẫn đường cho xe của tổng thống. Anh này đưa tôi và anh Hoàng Thiểm chạy từ Dinh Độc Lập ra Đà Nẵng để lên chuyến máy bay đầu tiên trở về Hà Nội. Còn tôi thì trở lại Bộ Tổng tham mưu (vì là phóng viên quân đội) để nghi lại những hình ảnh ở đó.

Ra đến sân bay Tân Sơn Nhất, tôi lại gặp một may mắn nữa khi hình ảnh nữ biệt động thành Trung Kiên (tên thật là Cao Thị Nhíp) tự nguyện dẫn đường cho xe tăng của quân đoàn 3 vào Sài Gòn. Sau này đó cũng được coi là một bức ảnh đẹp của tôi và được nhiều người biết đến.

Nữ biệt động thành Trung Kiên dẫn đường cho xe tăng của Quân đoàn 3 tiến vào đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.

Nữ biệt động thành Trung Kiên dẫn đường cho xe tăng của Quân đoàn 3 tiến vào đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.

Khi vào Sài Gòn, cảm giác của tôi giống như một cậu học trò ở quê lần đầu ra tỉnh vậy. Đó là một thành phố phồn hoa đô hội nên chúng tôi không tránh khỏi sự ngỡ ngàng. Nhưng với tâm thế của người chiến thắng nên tự nhiên cũng thấy tự tin hơn. Đang tác nghiệp nhưng chính chúng tôi cũng muốn hoà mình vào không khí chiến thắng ấy vì thấy người dân miền Nam ai cũng niềm vui ngập tràn trên khuôn mặt, không khí rộn ràng vô cùng.

Nếu nói về hình ảnh ấn tượng nhất với tôi trong ngày giải phóng thì đó chính là cảnh trung uý Phạm Xuân Thệ áp giải nội các tổng thống Dương Văn Minh từ Dinh Độc Lập lên xe để đến đài phát thanh. Hình ảnh anh bộ đội trở nên hiên ngang, cao lớn với một tâm thế của người chiến thắng. Hình ảnh thứ 2 là nữ biệt động thành Trung Kiên, tay ôm khẩu súng và đứng trước xe tăng dẫn đường với tôi là một hình ảnh vô cùng đẹp đẽ.

Sau ngày chiến thắng, tôi có gặp lại cô ấy một đôi lần nên được biết hoàn cảnh của cô ấy cũng rất đáng thương. Được biết sau này cô ấy tái hôn với một Việt kiều người Đức và định cư luôn ở đó. Vừa rồi tôi cũng có đề nghị với chị Thu Uyên của chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” để tìm lại “o Nhíp” năm xưa nhưng không biết cô ấy có liên lạc được không.

Sau này, thấy tôi có một vài lần xuất hiện trên truyền hình, ông Võ Cự Long có gọi điện cho tôi hỏi thăm, nhưng giờ ông ấy ở đâu tôi cũng không được biết nữa. Đó là những người mà tôi phải biết ơn và mong muốn được gặp lại họ một lần nữa.

Nhà báo Kỳ Nhân, cựu phóng viên Hãng AP từ năm 1972-1975:
Tôi đã chụp rất nhanh bức hình đó

Tại thời điểm Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh Sài Gòn, có một nhà báo Việt Nam và là người duy nhất chộp được bức hình lịch sử đó. Ông là nhà báo Phạm Kỳ Nhân (bút danh Kỳ Nhân), phóng viên của Hãng AP tại Sài Gòn khi đó. Ông nhớ lại:

Tôi túc trực tại Dinh Độc Lập bắt đầu từ ngày 28/4 vì thấy lúc này tinh thần của chính quyền ngụy đã rệu rã lắm rồi. 10 giờ sáng ngày 30/4, tôi vào Dinh Độc Lập để tiếp tục theo dõi những diễn biến trong nội các của Dương Văn Minh.

Cùng có mặt trong Dinh lúc đó với tôi còn có nhà báo Tây Đức Borries Gallasch (giờ ông ấy đã mất rồi). Lúc đó, ngoài Dinh một vài lính Lôi Hổ đang tụ tập trong sân, vứt súng, quân phục xuống đất và có những hành động phản đối việc Tổng thống Dương Văn Minh có ý định đầu hàng quân giải phóng.

Ở trong Dinh, Tổng thống và ông Vũ Văn Mẫu lúc đó đều không có vẻ buồn của người thua trận. Trái lại, tôi thấy họ rất vui và tâm trạng thì rất bồn chồn chờ quân giải phóng vào để bàn giao chính quyền.

Khi quân giải phóng vào và đưa nội các Dương Văn Minh đến đài phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng, tôi đã dùng xe riêng của mình để chở các ông Cả và Lâm (họ đều không đeo quân hàm) đến đài phát thanh.

Nhà báo Kỳ Nhân

Lúc đó các nhà báo chỉ có tôi và Borries Gallasch nhưng nhà báo này chỉ ghi âm thôi chứ không chụp hình. Thấy đó là thời khắc quan trọng nên tôi đã chụp rất nhanh bức hình đó và gửi về Hãng AP.

Sau này, những bức ảnh tôi chụp được khi đó cũng đều bán lại cho Mỹ. Một vài bức cũng được gửi cho Báo ảnh Việt Nam. Rời đài phát thanh, tôi hoà vào dòng người của quân giải phóng để tiếp tục tác nghiệp. Thấy tôi chụp ảnh, nhiều bộ đội giải phóng còn thấy rất lạ, thậm chí còn có vẻ ngơ ngác khi thấy tôi giơ máy ảnh lên chụp.

Trong đời làm phóng viên của mình, bằng những tác phẩm báo chí viết về chiến thắng 30/4 năm đó, tôi vô cùng tự hào vì mình đã đóng góp được một phần nhỏ bé để ghi lại những thời khắc lịch sử quan trọng của đất nước.

Thanh Hà

Gia đình.net.vn