Ngày về chiến thắng

Với những đóng góp và thành tích nổi bật trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1976, Cụm Tình báo A20 – H67 được tuyên dương Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân

Chiều 22-8-1968, đang ở nội đô để phục vụ đợt 3 tổng công kích, Cụm trưởng Lê Văn Vĩnh (Bảy Vĩnh) nhận được tin báo căn cứ A20 bị tập kích bằng B52, hy sinh 7 đồng chí. Nước mắt khóc đồng đội chực trào, Bảy Vĩnh dù trong người đang mang bệnh nặng song kiên quyết trở về cụm vì: “Những ngày này, đơn vị rất cần tôi có mặt”.

Đau thương mà anh dũng

A20 không bị xóa sổ trong đợt không kích dữ dội bằng B52 ngày 20-8-1968, dù tổn thất là khá lớn. Bảy Vĩnh thuật lại câu chuyện trong hồi ký rằng khi ông về đến căn cứ, những người còn sống sót đang bới tìm thi thể đồng đội và thu dọn chiến trường. Hồi ký viết: “Ai nấy đều ngậm ngùi. Nhà hầm đồng chí Năm Thanh hứng một quả bom giữa nhà, thi thể của Năm Thanh và chiến sĩ Nước hốt được vỏn vẹn mỗi người một gói ni lông.

Đồng chí Nhân mất xác (…) Hầm nhà tôi bị sập, chôn mất đồng chí Lợi trong hầm pháo. Hai đồng chí Kim Biên, Ân ngồi chết, trong lòng ôm 2 máy vô tuyến điện. Hầm nhà khách sụp đổ một góc, may mắn anh Ba Đình, Năm Hùng và đồng chí bảo vệ thoát chết. Đồng chí Tuyến nói ở nhà được thư anh hẹn về ngày 20-8, nếu anh về đúng ngày đó thì coi như lần này khó sống. Đồng chí Lợi chết thay cho anh, ngủ dưới nhà của anh…”.

Điệp viên Ba Lễ, bí danh H3 (thứ 2 từ phải qua) và một số đồng nghiệp ngành tình báo, quân đội tại Dinh Độc Lập trong ngày 30-4-1975.
Ảnh tư liệu của Lê Phong Lan

Từ cuối tháng 9-1968, toàn Cụm A20 sinh hoạt trong các nhà hầm tại trụ sở căn cứ mới ở Bời Lời, hạn chế tối đa việc đi lại trên mặt đất vào ban ngày. Bom Mỹ liên tục dội xuống Bời Lời ngày càng ác liệt. Từ sau đòn Mậu Thân 1968, phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn chủ trương mở những trận phản kích quy mô lớn, tập trung vào khu vực phía Bắc Sài Gòn. Sang năm 1969, tình hình khốc liệt hơn khi Lữ đoàn 195 tăng thiết giáp Mỹ được điều đến các khu vực này, được sự yểm trợ của không lực Mỹ, đã liên tục san ủi, đánh bom hủy diệt, biến những khu rừng rậm xanh tốt thành những “vùng trắng”. Hầu như các cửa ngõ ra vào căn cứ đều bị bịt kín, nhiều chuyến liên lạc bị gián đoạn.

Đến tháng 7-1969, chỉ còn lại A20 tiếp tục bám trụ căn cứ Bời Lời chống càn. Lực lượng của cụm hy sinh hơn một nửa so với năm 1968. Số giao thông viên và chiến sĩ của cụm bị giặc bắt ngày một nhiều. Trước tình hình đó, giữa tháng 11-1969, A20 được lệnh phải rút toàn bộ đơn vị về Phòng Tình báo miền (J22), chuẩn bị cho giai đoạn chiến đấu mới khi tình hình chiến trường đã có nhiều thay đổi.

Từ A20 đến H67

Từ đêm Noel đến Tết dương lịch năm 1969, toàn Cụm A20 bắt đầu kế hoạch rút quân từ Bời Lời về căn cứ J22 trên đất Campuchia. Đến ngày 31-12, toàn cụm về đích an toàn. Tháng 2-1970, J22 kết thúc đợt chỉnh huấn cán bộ. Bảy Vĩnh được giao nhiệm vụ tổ chức, biên chế lại Cụm A20 với tên gọi mới là H67, xây dựng căn cứ tại Bến Tre để tiếp tục hoạt động, duy trì các lưới tình báo ở nội thành Sài Gòn.

Sau một thời gian đóng quân tại nhà dân, khảo sát địa bàn xây dựng căn cứ, sáng 30-4-1970, toàn đơn vị H67 chính thức chuyển về căn cứ mới, thuộc ấp Ba, xã An Phước, huyện Châu Thành – Bến Tre. Phát huy truyền thống chống càn từ thời còn ở mật khu Bời Lời, toàn đơn vị H67 tiếp tục những đợt chống càn oanh liệt trên quê hương Đồng Khởi, trở thành “cái gai nhức nhối” nhất của địch tại vùng An Phước suốt những năm 1970 – 1975. Đơn vị đã tiên phong mở những đợt chống càn hiệu quả, làm nức lòng người dân xứ dừa. Trên mặt trận giao thông liên lạc, vận chuyển tin tức tình báo, H67 cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo đảm các nguồn tin tình báo từ nội đô an toàn và nhanh chóng được chuyển về J22 kịp thời.

Tập thể, cá nhân anh hùng

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử có một đơn vị chiến đấu khá đặc biệt, đó là Lữ đoàn Đặc công Biệt động 316 gồm lực lượng từ J22 và từ các đơn vị biệt động đặc công dày dạn kinh nghiệm chiến đấu nhiều năm trong lòng Sài Gòn. Theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu miền (B2), tháng 10-1973, J22 phải rút các cán bộ, chiến sĩ thuộc nhiều lưới tình báo khác nhau làm lực lượng nòng cốt để thành lập lữ đoàn đặc biệt này, chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn khi thời cơ đến.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Phòng J22, được chỉ định làm lữ đoàn trưởng. Riêng Bảy Vĩnh trở thành người chỉ huy Z28 thuộc Lữ đoàn 316 – đơn vị phụ trách đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn lúc 9 giờ 30 phút sáng 30-4-1975. Còn thủ trưởng J22 Sáu Trí (nguyên cụm trưởng A20) và điệp viên Ba Lễ (H3) đã trở thành những nhân chứng đặc biệt của ngày 30-4, những người đầu tiên của phía cách mạng chứng kiến giờ phút đầu hàng của chính quyền Dương Văn Minh ngay tại Dinh Độc Lập.

Tại căn cứ Bến Tre, H67 đã cùng Huyện ủy Châu Thành sát cánh với các đơn vị vũ trang địa phương, du kích, đồng bào tham gia vây đồn, diệt bốt, giải phóng xứ dừa trong mùa Xuân đại thắng. Lúc chuyện trò với những hàng binh chi khu Trúc Giang, cán bộ H67 mới biết cho đến tận giờ phút đó, phía chính quyền Sài Gòn vẫn không thể gọi tên đơn vị đã khiến họ nhiều lần điêu đứng, thiệt hại nặng trong các trận càn mà chỉ phỏng đoán đó là một bộ phận đặc công của tỉnh. Ngày 6-5-1975, H67 được lệnh của J22 rút về Sài Gòn, kết thúc 5 năm đứng chân tại địa bàn Bến Tre.

Với những đóng góp và thành tích nổi bật trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1976, Cụm A20 – H67 được tuyên dương Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, cùng đợt với xã anh hùng An Phước. Cựu điệp viên Lê Văn Vĩnh về sau cũng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

Một lòng vì Tổ quốc

Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí), nguyên Trưởng Phòng J22, đánh giá: “Trước năm 1975, có rất nhiều lưới tình báo, trong đó nhiều lưới hoạt động rất hiệu quả và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ như H63, H67… Có một số lưới bị bể, cán bộ hy sinh nhiều nhưng đặc biệt không ai trong số họ nghĩ đến cá nhân mình, không có người nào phản bội khi bị bắt và tra tấn dã man. Họ là những chiến sĩ trung kiên, khi được tổ chức giao nhiệm vụ thì không bao giờ nề hà và hầu hết đều hoàn thành xuất sắc, ngay cả khi biết trước là mình sẽ hy sinh. Có những cán bộ bị hiểu lầm, trong quá trình điều tra bị dị nghị… nhưng họ không hề phản biện cho đến khi được làm sáng tỏ. Bởi vì họ tin rằng tổ chức sẽ đánh giá công bằng những đóng góp của họ cho cách mạng”.

Đạo diễn Lê Phong Lan

nld.com.vn

Advertisements

Mùi phản gián

Trước ngày 30-4-1975, lực lượng an ninh Mỹ Tho đã xuất sắc bóc gỡ mạng lưới gián điệp do Mỹ cài lại sau Hiệp định Paris, bắt sống thủ lĩnh tình báo CIA, Robe Đại. Đây được xem là chiến công vẻ vang của lực lượng an ninh địa phương, góp phần cùng chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng

Cuộc chiến gián điệp

Hiệp định Paris ký chưa ráo mực, chính quyền Sài Gòn đã tiến hành cái gọi là “Chiến dịch tràn ngập lãnh thổ”, ồ ạt đưa quân càn quét, đánh phá, cắm cờ giành dân, lấn đất, bình định một cách gắt gao. Trên địa bàn tỉnh Mỹ Tho, địch dồn quân giành giựt quyết liệt với ta từng ngày, từng giờ ở hai bên lộ 4, hòng ngăn chặn tuyến hành lang vận chuyển chiến lược của ta xuống phía Đông. Hơn nữa, chúng còn tập trung về đây gần hết lực lượng quân sự của vùng 4 chiến thuật và các đơn vị bảo an, dân vệ, trong đó có đủ loại điệp viên, gián điệp của cơ quan tình báo CIA Mỹ, Phủ Đặc ủy tình báo Trung ương, tình báo Bộ Tổng Tham mưu, đến các tổ chức mật vụ, phượng hoàng… Với chiến dịch này, bước đầu chúng đã gây cho ta không ít khó khăn, tổn thất.

Tháng 5-1974, Bí thư Huyện ủy Châu Thành Bắc Nguyễn Văn Vọng (Văn Tư) gặp Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Công Bình để báo cáo nội bộ một số chi bộ ở các xã; phát hiện tình báo đối phương đang tìm cách móc vào nội bộ của ta. Trong số này có Bảy Quế là cán bộ đảng viên của ta bị bắt, địch lợi dụng hoàn cảnh gia đình Bảy Quế ở vùng địch kiểm soát, chúng khống chế, ép buộc và sau đó thả ra. Bảy Quế tìm cách chui được vào Huyện ủy, làm bí thư chi bộ xã Tân Hương. Trong quá trình hoạt động, do có nhiều nghi vấn, Bảy Quế bị Huyện ủy điều về vùng giải phóng giao nhiệm vụ khác, chờ xác minh làm rõ. Mất một đầu mối nội gián quan trọng, cơ quan tình báo CIA Mỹ tại Mỹ Tho do trung tá Robe Đại chỉ huy buộc khẩn trương tìm cách tổ chức lực lượng mới. Thông qua tên mật báo viên Phan Thị Thâu (Hai Cốt), Robe Đại ngầm theo dõi và cho bắt vợ của đồng chí Tư Tưởng, Bí thư Chi bộ Tân Hội Đông, trên đường chị từ nhà ra chợ. Vừa đe dọa, vừa dụ dỗ, Robe Đại khống chế và ép buộc đồng chí Tư Tưởng làm nội gián cho chúng. Thông qua Hai Cốt, Robe Đại lại tìm cách móc nối với đồng chí Thanh Hiền, bí thư chi bộ mới của xã Tân Hương. Cùng lúc đó, Trưởng Ty An ninh Mỹ Tho Lê Việt Thanh cũng có báo cáo với Tỉnh ủy về nội dung bức điện mật của Bộ Công an gởi từ Hà Nội cho biết: Trung tâm tình báo CIA Mỹ ở Sài Gòn đã cử một toán tình báo chuyên nghiệp gồm 5 tên, do tên trung tá tình báo Robe Đại chỉ huy, đến chiến trường Mỹ Tho để tổ chức một mạng lưới tình báo và nội gián mà chỗ dựa của chúng là đoàn 101 tình báo ngụy và lực lượng cảnh sát đặc biệt địa phương. Ý đồ của địch là ra sức lập các tuyến ngăn chặn, cố giữ vững tuyến Quốc lộ 4 từ Sài Gòn về miền Tây. Đây chính là hướng điều lực lượng viện binh cứu nguy khi Sài Gòn bị ta tấn công và là hướng rút chạy về Tây Đô cố thủ khi Sài Gòn bị thất thủ.

Robe Đại là ai?

Đây là câu chuyện tình báo xảy ra trên địa bàn tỉnh Mỹ Tho sau Hiệp định Paris. Người kể lại câu chuyện này là ông Nguyễn Công Bình, Bí thư Tỉnh ủy Tiền Giang, Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho lúc bấy giờ. Chính đồng chí Nguyễn Công Bình làm trưởng ban chuyên án này – Chuyên án A.23.

Theo tài liệu thu thập được, Robe Đại có tên khai sinh là Jordans, sinh năm 1940, quốc tịch Mỹ, cha người Pháp, mẹ người Việt, quê ở Thanh Hóa. Năm 1947, Đại cùng gia đình định cư tại Mỹ. Năm 18 tuổi, Robe Đại được cơ quan tình báo Mỹ tuyển chọn vào đào tạo ở trường cao cấp tình báo. Năm 1960, y được tung về Việt Nam, hoạt động tại vịnh Cam Ranh. Trong thời gian ở Việt Nam, Đại quen với hai cô gái làm trong sở Mỹ là Phượng và Loan, con của điệp báo viên Hai Cốt. Từ năm 1970, Đại đã ra vào Mỹ Tho và nhận Hai Cốt làm mẹ nuôi. Trong thời gian này, Đại lấy tên là Lê Trường Đại, núp dưới vỏ bọc là phóng viên báo chí, bút danh Nguyễn Minh Hoàng. Tháng 4-1974, Đại được CIA Mỹ cử vào Mỹ Tho, ngụ tại số 109 Nguyễn Huệ để chỉ huy mạng lưới điệp viên do chúng cài lại.

Qua phân tích tình hình và qua đề xuất của Trưởng Ty An ninh, đồng chí Nguyễn Công Bình quyết định thành lập chuyên án diệt địch, lấy mật danh là Chuyên án A.23 do đồng chí trực tiếp làm trưởng ban chỉ đạo; Văn Tư và Lê Việt Thanh làm thành viên. Trong vai một chiến sĩ cách mạng đào ngũ, chán đời, đang đi làm thuê kiếm sống, Ba Minh, một trinh sát an ninh có nhiều kinh nghiệm, tìm cách làm quen và tiếp cận được Hai Cốt. Nắm được cơ quan tình báo địch đang nóng lòng móc nối với hai cán bộ của ta, ban chuyên án chỉ đạo cho đồng chí Tư Tưởng lấy cớ bị bệnh để thoát khỏi sự khống chế của Robe Đại, đồng thời buộc y phải tập trung vào người của ta đang cài vào là đồng chí Hiền. Để tạo niềm tin của địch, ban chuyên án cho phép đồng chí Hiền cung cấp một số tài liệu đã hết giá trị cho Robe Đại. Sau khi xác định cá đã cắn câu, ban chuyên án nhận định và chỉ đạo lập một kế hoạch tấn công giả vào các đồn bót đóng trên tuyến lộ Củ Chi để đồng chí Hiền giao cho Hai Cốt. Tuy là kế hoạch giả, nhưng ta tổ chức như thật, buộc địch điều động lính bảo an đến thay cho toàn bộ bọn dân vệ đóng trên các đồn bót tuyến Củ Chi. Theo đúng kế hoạch, 24 giờ ngày N, ta lần lượt pháo kích dữ dội vào các đồn bót đã lên trong kế hoạch tấn công khoảng 30 phút rồi rút êm. Nguồn tin đã được kiểm chứng, Robe Đại vội yêu cầu đồng chí Hiền làm lý lịch, có dán hình gởi cho hắn. Được sự chỉ đạo của ban chuyên án, đồng chí Hiền cố tìm cách trì hoãn chờ đợi thời cơ phá án.

Bắt sống ông trùm

Viện lý do sắp lên tỉnh nhận công tác quan trọng hơn, thông qua Hai Cốt, đồng chí Hiền đề nghị được gặp Robe nhờ chụp hình dán vào lý lịch điệp báo viên của CIA. Mừng rỡ trước thông tin này, Robe Đại đồng ý sẽ vào để gặp mặt đồng chí Hiền tại một cái chòi trên cánh đồng hoang gần xóm Phụng, lúc 11 giờ ngày 16-8-1974. Ngay sau đó, ban chuyên án có một cuộc họp khẩn rất căng thẳng. Vấn đề ở đây là bố trí lực lượng bao nhiêu cho đủ, liệu tên trùm tình báo này có dễ dàng sập bẫy của ta? Liệu ta dụng kế điệu hổ ly sơn, còn địch có tương kế tựu kế để hốt trọn ổ? Cuối cùng, đồng chí Nguyễn Công Bình đi đến quyết định không cần bố trí nhiều lực lượng, chỉ cần dũng cảm, gan dạ là đủ vì ban chuyên án chưa hề bị lộ. Điểm yếu của Robe Đại là nóng lòng cài cắm người vào hàng ngũ của ta và sẽ rơi vào bẫy đã giăng sẵn.

Một bức ảnh gần như chưa được công bố của Đinh Quang Thành chụp trong ngày 30-4-1975 tại Dinh Độc Lập. Trong ảnh là cảnh lính chế độ Sài Gòn bảo vệ dinh bị khống chế và tự động cởi bỏ quân phục. Phía sát dinh, nhiều xe tăng và xe quân giới của quân giải phóng

Tờ mờ sáng 16-8-1974, địch đưa 1 đại đội bảo an càn vào 2 xã Tân Hội Đông và Tân Lý Đông, chúng càn lướt qua để thăm dò động tĩnh của ta. Đồng thời 1 đại đội cảnh sát dã chiến được tung ra lục xét, kiểm tra gắt gao những người qua lại trong khu vực nhằm bảo đảm an ninh cho cuộc gặp mặt của Đại và đồng chí Hiền. Tình hình càng lúc càng thêm căng thẳng, khoảng 8 giờ, có 2 tên thám báo đóng giả những người đi thu mua ve chai đảo qua một vòng xung quanh địa hình. Sau khi 2 tên này đi ra thì đích thân tên Báo, trung đội trưởng thám báo của địch ở vùng này, xuất hiện. Hắn đóng vai một người đi làm ruộng, tiến sát về phía trại ruộng bỏ hoang, quan sát động tĩnh và kiểm tra lần cuối, sau đó trở ra lộ. Đúng 10 giờ 30 phút, đồng chí Hiền từ trong mí vườn đi ra, sau khi quan sát thấy 4 người của ta bố trí nhổ cỏ ruộng xung quanh, liền yên tâm đi thẳng vào trại ruộng. Từ một căn hầm bí mật gần trại ruộng, đồng chí Ba Minh ló đầu lên quan sát thấy tình hình diễn biến đúng như dự kiến. Từ hướng lộ Củ Chi, có hai người đang đi vào xóm Phụng, đi trước là một người đàn bà, Ba Minh khẳng định đó là Hai Cốt. Đi sau một khoảng 20 mét là một người đàn ông dáng cao lớn, mặc bộ đồ bà ba đen, quần ống thấp ống cao, đội nón lá, tay cầm một cây sào có buộc một túm lá chuối khô như người đi chăn vịt, ta nghi đó là Robe Đại. Nhận diện đúng trung tá tình báo Robe Đại, đồng chí Hiền choàng khăn làm ám hiệu. Nhanh như cắt, Ba Minh cùng 6 trinh sát bật hầm xông lên. Bị phục kích bất ngờ, Đại và Hai Cốt chưa biết phản ứng ra sao thì cả hai rụng rời tay chân khi nhìn thấy nòng súng K54 trong tay đồng chí Hiền đang chĩa vào ngực. Hiền dõng dạc: “Ông Đại, ông đã bị chúng tôi bắt!”. Robe Đại run rẩy đưa hai tay lên đầu, giọng lơ lớ xin đầu hàng. Các trinh sát nhanh chóng tịch thu máy ảnh, súng bắn pháo hiệu và trói cả hai dẫn ra phía sau chòi ruộng rút nhanh vào địa hình. Trong khi đó, cả bọn thám báo, bảo an, cảnh sát dã chiến vẫn đinh ninh rằng chúng đang bảo vệ an toàn cho cuộc gặp gỡ bí mật của ông trung tá tình báo Mỹ. Khoảng một giờ sau, tổ trinh sát mật phục ở lại đã tóm cổ luôn tên Báo khi hắn quay trở lại trại ruộng thăm dò động tĩnh.

Tại Cơ quan An ninh Mỹ Tho, Robe Đại buộc phải khai nhiều tài liệu bí mật của cơ quan tình báo Mỹ, quân đội Sài Gòn. Qua đó, ban chuyên án lần lượt tóm gọn các thành viên còn lại trong mạng lưới điệp viên, gián điệp của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch mùa khô năm 1975, giải phóng toàn khu 4, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hoàng Hùng – Anh Đậu

Những bí mật trước giờ G – Kỳ cuối

Chiếc áo màu hoàng hậu

Người vợ trẻ của nhà tình báo - Tư Cang (ảnh chụp cuối năm 1947)

Để sắm vai “hai người tình” che mắt cảnh sát Sài Gòn, Tư Cang và Thảo (Mỹ Nhung) thường sóng đôi ra khỏi nhà, cứ như họ “sắp cưới nhau”.

Một bữa Thảo hỏi: “Hôm nay anh thích em mặc áo màu gì?”. Tư Cang: “Màu hoàng hậu đi em!”. Và hai người bước ra chiếc xe Honda đỏ nổ máy thoát khỏi cặp mắt dòm ngó của viên cảnh sát mật cạnh nhà. Chở Thảo vòng qua bùng binh chợ Bến Thành, Tư Cang dừng trước rạp Rex và chia tay “người tình”. Thảo cười duyên dáng bước xuống xe, lẫn vào đám đông như một con bướm giữa rừng.

Tư Cang nói, màu sắc tham dự rất nhiều vào các tín hiệu trên “đường tình báo”, để nhận ra nhau, trao tài liệu mật. Tài liệu chuyển theo nhiều cách, như ở một điểm sát Sài Gòn, cô giao thông tên Xinh về đến, đưa Tư Cang gói mắm ruốc rồi đi. Ông gạt mắm ra chén, lẫn trong ruốc có ve dầu Song Thập nhỏ bằng ngón tay út, đập bể chai dầu lộ ra hai tờ giấy hút thuốc rất mỏng, chi chít những dòng báo cáo của anh Tám từ khách sạn Embassy gửi ra về tình hình chính trường Sài Gòn giữa tháng 4.1975. Một cách nghi trang khác khá mạo hiểm như nữ giao thông Tư Ánh đã giao Tư Cang một chồng bánh tráng giữa chợ Bến Thành bên trong có… 2 khẩu K54 và 27 viên đạn.

Đối đầu với hiểm nguy, nhà tình báo vẫn có “những phút giây lãng mạn”? Năm 26 tuổi, trong chuyến thâm nhập lần đầu tiên vào Sài Gòn (1954), ông đã vượt sông Soài Rạp lúc trời tối cùng nữ đồng chí 23 tuổi tên H. xuất thân từ trường nữ sinh Áo Tím (Gia Long). Họ ngồi trên chiếc “xuồng ba lá” (ghép bằng 3 tấm ván mỏng), bất thần tàu tuần tra của lính Pháp từ phía Nhà Bè chạy tới, quét đi quét lại ánh đèn pha sáng rực. Thấy nguy, Tư Cang nhảy xuống sông kéo theo H., cô H. ôm chặt lấy Tư Cang. Ông kể “tôi phải hai chân đạp nước theo động tác lội đứng để giữ thăng bằng, còn cánh tay ôm choàng qua ngực người đồng đội, đầu cô nằm im trên vai tôi, ngửa lên ngang mặt nước…”. Khi tàu tuần tra Pháp đi khỏi, H. vẫn nằm yên trên cánh tay phải của ông giữa dòng Soài Rạp một lúc.

Lên bờ, hai người ngồi bên nhau trên một thân cây bần dưới ánh trăng, mà không nói điều gì cho rõ. Đến lúc con nước ngoài sông dâng cao với tiếng bìm bịp kêu từng chập, báo hiệu trời sắp sáng, thì H. lên tiếng trước: “Rừng lạnh quá!”. Tư Cang bất chợt đưa tay vòng qua thân H. cho ấm, cô để yên. Rồi H. nói anh là người đầu tiên đã ôm siết em và cứu sống em dưới dòng sông, em muốn anh hứa với em một điều được không? Tư Cang hỏi hứa gì? H. đáp: “Hứa anh là của em và em là của anh!”. Nhưng ông im lặng, nhìn vào đôi mắt đẹp lạ thường của H. dưới trăng, không nói gì. H. giục mãi. Ông vẫn im lặng, vì ông nghĩ mình đã… có vợ rồi.

Là do ông cưới vợ hồi mới 18 tuổi ở miền quê Long Phước (1946). Vợ ông kém ông một tuổi. Lúc lấy nhau hai người đều do gia đình đặt để theo lệ xưa với mong muốn con cháu “yên bề gia thất”. Qua những ngày chung đụng họ yêu nhau. Lúc vợ mang thai, ông ra chiến khu đánh Pháp, xa nhà biền biệt. Ông không nói rõ với H. chuyện đó, chỉ sợ H. thêm buồn, nên lấy cớ hai người đang hoạt động bí mật, sống chết bất ngờ không biết trước. H. cúi xuống và nước mắt tuôn ra. Tư Cang nắm lấy tay cô siết chặt, vừa lúc ấy có tiếng người gọi H. đi gấp. Đến khúc quẹo, cô dừng lại quay nhìn Tư Cang lần cuối…

Chị Tư Cang đang dắt con (Nhồng) trên đường phố Sài Gòn năm 1950 - Ảnh: nhân vật cung cấp

H. đi rồi, Tư Cang lọt vào Sài Gòn, tìm đến nhà của cơ sở cách mạng vùng chợ Hòa Hưng, chỉ cách khám Chí Hòa vài trăm thước. Ở đó hằng ngày cưỡi chiếc mobylette màu vàng để đi lại, vẽ bản đồ, điều tra lực lượng đồn trú của đối phương từ cầu Chữ Y đến Chợ Lớn. Bấy giờ, vợ ông cũng rời làng Long Phước lên Sài Gòn, con gái ông đã lên 7 tuổi và ông cũng biết được, cùng địa chỉ của vợ con. Mặc dầu công tác tình báo không cho phép ông tiếp xúc với người thân, nhưng một hôm, sắp hoàn tất nhiệm vụ, ông không cưỡng nổi, đã ngoắc một chiếc xích lô máy, bảo về số 11 – Rue Villard (nay là đường Phan Chu Trinh, TP.HCM). Gần tới nơi, ông xuống xe đi bộ một quãng, đến gốc cây vú sữa trước nhà và người đầu tiên ông gặp là mẹ vợ của ông đang ngồi vá quần áo dưới bóng cây. Bà nhấc đôi kính lão nhìn sững ông một lát, reo lên kinh ngạc: “Thằng Sáu! Thằng Sáu!” và gọi đứa con gái lên 7 của ông ra đón: “Nhồng ơi! Ba mày về đây nè!”.
Ba vợ của ông đang ngồi trên ván đưa tay lên miệng ra dấu cho bà im lặng. Vợ ông dưới bếp dắt con đi lên, đứa con từ ngày ra đời đến lúc ấy chưa hề thấy mặt cha bao giờ. “Tôi ôm nó vào lòng và hôn lên đầu, lên trán. Con tôi cười và ngước lên nhìn tôi rồi ngập ngừng gọi nhỏ: Ba! Ba! Cũng như nó, lần đầu tiên trong đời tôi thốt lên: Con! Con gái cưng của ba! Vợ tôi ngồi xuống sát bên tôi. Tôi choàng tay qua vai hôn vội vàng lên má”. Vợ ông hỏi: “Anh ở lại đến tối được chớ?”. Ông đáp: “Không, anh phải đi ngay bây giờ”. (Nghe vậy) vẻ mặt vợ tôi thoáng buồn. Lòng tôi càng xót xa”. Có bóng người thập thò nơi cửa, ông đi nhanh ra đường, trái tim vừa rộn lên vì cuộc gặp đã vội co thắt, chùng xuống, vì phải chia tay. Người vợ trẻ năm xưa nay đã hơn 80 tuổi đang sống cùng ông với con gái và cháu ngoại tại TP.HCM.

Ông nói thêm, trên đường hoạt động, ông đã được nhiều người giúp đỡ, như cô gái tên T. đã nhanh trí giúp ông thoát khỏi cuộc ruồng bố bên bờ sông Sài Gòn cách đây hơn nửa thế kỷ và hồi tưởng: “Đã qua cơn hãi hùng, cô gái T. có vẻ e thẹn. Em chui ra khỏi mui ghe và chạy đi. Tôi nhìn theo, lòng thẫn thờ như vừa bị cô gái mang đi một cái gì. Ôi đời chiến sĩ tình báo rày đây mai đó. Cuối cuộc chiến tranh này, có lẽ quả tim tôi bị nát vụn, để lại mỗi phương trời một mảnh”.

Giao Hưởng

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 9

Bí quyết của một điệp viên chiến lược

Tướng tình báo Vũ Ngọc Nhạ

Là người được Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp giao nhiệm vụ từ năm 1954, tướng tình báo Vũ Ngọc Nhạ vào Nam xâm nhập dinh Độc Lập – nơi tập trung quyền lực cao nhất của chính quyền Sài Gòn – trở thành “người nhà” của tổng thống Diệm, rồi “cố vấn tổng thống Thiệu”.
Ở những vị trí thuận lợi nhưng khá nguy hiểm đó, tướng Nhạ đã thu thập và phúc trình về Hà Nội những tài liệu chiến lược, bao gồm nhiều điều cơ mật mà ngay các bộ trưởng Sài Gòn cũng không được biết tới. Sau này dù ông bị CIA trưng bằng cớ “hoạt động tình báo cho cộng sản” và đày ra Côn Đảo (cùng hai người khác là Huỳnh Văn Trọng và Nguyễn Xuân Hòe), song Thiệu vẫn giữ tình cảm đặc biệt với “ông cố vấn” và cho người bắn tin vào nhà giam (sau Hiệp định Paris 1973) để hỏi “ông cố vấn” là nếu được trả tự do ông sẽ chọn về đâu?

Ông Nhạ trả lời muốn về Paris, Roma, hoặc Lộc Ninh. Và chiều 23.7.1973, ông được đưa lên chuyến máy bay hạ cánh xuống vùng giải phóng Lộc Ninh để trao trả cho chính phủ cách mạng. Nhưng không lâu sau, đầu năm 1974, ông xâm nhập trở lại Củ Chi, nối kết đường dây giao thông với nội thành, ăn ở bí mật tại Sài Gòn để tiếp tục hoạt động tình báo. Một cách nhanh chóng, ông đã bắt liên lạc với nhiều vị có uy tín trong giới trí thức và các viên chức cao cấp, cũng như các nhà lãnh đạo tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo đương thời, để chuẩn bị nhân sự thành lập lực lượng thứ ba theo yêu cầu của trung tâm.

Ngô Đình Diệm (phải) và tướng ODaniel (Mỹ) - Ảnh: tư liệu

Đến những ngày tàn của chế độ Sài Gòn, Thiệu vẫn rất cảm động khi biết “ông cố vấn” ngày trước của mình đang bí mật quay lại đâu đó giữa đô thành và gửi lời thăm Thiệu lúc tình hình căng thẳng và bất lợi nhất cho Thiệu vào giữa tháng 4.1975. Thông qua các linh mục được Thiệu kính nể, Vũ Ngọc Nhạ đã gửi lời khuyên Thiệu đừng do dự, mà hãy nhanh chóng từ chức tổng thống để bảo toàn tánh mạng. Những chi tiết trên do tướng Nhạ kể lại với chúng tôi trong buổi phỏng vấn tại nhà riêng của ông trên đường Nguyễn Văn Mai, quận 3, TP.HCM vào giữa năm 1996 và một phần nội dung đã đăng trên báo Thanh Niên năm ấy (số ra ngày 14.7) trong mục Tự bạch (lúc ông còn sống). Qua đó ông nói về bí quyết thành công của một điệp viên chiến lược là phải làm sao am hiểu từng con người mình đang chinh phục.

Muốn vậy, không chỉ để tâm đến những chuyện lớn, mà cần nghe ngóng, ghi nhớ cả những câu phát biểu ngoài lề. Ví dụ, có lần ngồi chung xe Jeep với tướng Dương Văn Minh trước năm 1975, phóng qua đường phố Sài Gòn, rồi lòng vòng quanh những ngôi biệt thự trồng đầy hoa vàng ở ngoại ô, ông Minh đã buột miệng nói: “Mỹ bỏ bom miền Bắc khác nào bỏ bom lên đầu anh em của mình, phải không?”. Từ câu nói ấy, Vũ Ngọc Nhạ đánh giá tướng Minh là người có thể “đối thoại được” sau này. Không chỉ vậy, theo tướng Nhạ: “Không nên đặt con người mà mình cần am hiểu để chinh phục nào đó vào một “khung nhất định”. Khi tiếp xúc với những nguyên thủ ở dinh Độc Lập, tôi thấy rằng việc đặt những con người mình cần theo dõi, trong đó có họ, vào các nhận định ban đầu về họ, không thay đổi, thì rất khó. Vì họ chuyển đổi tâm lý, kể cả quan điểm, theo từng hoàn cảnh gặp phải, và theo những biến cố lớn. Nên mình cũng phải nhìn họ theo những chuyển đổi đó để ứng xử hợp lý. Điều này phù hợp với quan điểm biện chứng, vận động của Marxisme. Như trường hợp tôi có thể nêu ra dưới đây mà tôi tin chắc rằng không ít người để ý, là ông Ngô Đình Diệm của năm 1954 khác với ông Diệm năm 1962. Khác chỗ nào?”.

Tướng Vũ Ngọc Nhạ giải thích: “Ông Diệm năm 1954 là người chống cộng triệt để, không cần dông dài các bạn cũng rõ rồi. Với luật 10/59, ông cho lê máy chém khắp miền Nam với hy vọng hão huyền rằng sẽ “làm cỏ” những người Việt theo cộng sản. Nhưng ông đã không đạt được mục đích đó, dầu bấy giờ cách mạng miền Nam đúng là có tạm thời khó khăn, nhưng rồi những năm sau đó vẫn bén rễ xanh cây với sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trước thực tế sống động ấy, buộc ông Diệm phải suy ngẫm về ảo vọng “diệt cộng” trước đây của mình. Huống là thêm vào đó, người Mỹ những năm đầu thập niên 1960 càng lộ rõ chân tướng là “ông chủ”, chứ chẳng phải người bạn “đồng minh” của ông Diệm. Họ nhúng tay vào nội bộ, chi phối lộ liễu nhiều hoạt động chính trị ở trung ương và địa phương của Nam Việt Nam, nhất là khi đòi loại bỏ Ngô Đình Nhu ra khỏi dinh Độc Lập.

Trước yêu cầu đó, ông Diệm họp gia đình “tứ long” gồm: Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và tôi tức “Hoàng Long” để tìm cách giải quyết. Ông Thục khăng khăng bảo ông Diệm phải giữ tình anh em và không được bỏ ông Nhu. Ông Diệm bảo đảm với Nhu rằng, nếu Nhu rời dinh Độc Lập ông cũng sẽ thôi làm tổng thống nữa. CIA biết được cuộc họp của anh em “gia đình trị” này, với các nội dung như thế đã không mấy vui vẻ, giới quân sự Mỹ thì bực tức ra mặt. Sau đó Mỹ tỏ thái độ bằng cách “chủ trò” trong việc ném bom dinh Độc Lập. Bom bỏ trúng đích, nổ ngay trong phần dinh có phòng riêng của Ngô Đình Nhu. May là sáng hôm đó, Nhu đã rời phòng sớm hơn thường lệ để cùng ông Diệm ra đón ông Thục (có tôi cùng đi), nếu không Nhu đã mất mạng. Còn bà Trần Lệ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu, bị vôi gạch do sức ép của quả bom bay ra làm trầy xước mặt mày, sau phải qua Nhật “sửa sắc đẹp”. Sau ngày thoát chết, vợ chồng ông Nhu rất “căm” CIA và các cố vấn Mỹ. Những điều tôi vừa nói về việc người Mỹ muốn loại ông Ngô Đình Nhu trên đây được chính Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara thừa nhận trong hồi ký xuất bản năm 1995”.

Tướng Nhạ nói tiếp, sau “khúc dạo đầu” không giết được Nhu đó, CIA Mỹ gợi ý với ông Diệm nên đưa Ngô Đình Nhu ra nước ngoài. Người đầu tiên phản đối là Ngô Đình Thục, đã nói đại ý là ở trong nước ông Nhu còn bị ném bom mưu sát, huống chi ra nước ngoài đơn độc, chỉ làm bia cho đạn Mỹ nã chết mà thôi! Vậy rõ ràng “diệt cộng” là một ảo vọng không thành, mà muốn giữ “độc lập” với người bạn “đồng minh” bên trong lại là một ảo vọng khác. Bị tác động bởi hai ảo vọng đó, ông Diệm đi tìm giải pháp khác “quay lại với người Pháp và hòa giải với Hà Nội”. Ông Nhu công khai nêu rõ ý muốn đó và Pháp “hồi âm”: muốn miền Nam trung lập hóa. Còn việc hòa giải với Hà Nội, Nhu rất ngại Vũ Ngọc Nhạ không tán thành, vì Nhu luôn cho rằng Nhạ “chống cộng” quyết liệt nên “nhiều bữa tôi giả vờ tình cờ tìm cách hé mở khéo léo cho Nhu thấy rằng tôi đồng ý việc Sài Gòn bí mật tiến hành tiếp xúc và hòa giải với Hà Nội”.

Kể chuyện trên, tướng Nhạ nhằm minh chứng cho điều ông đã nêu ra về “việc cần thiết của một điệp viên là phải am hiểu từng con người và đặt con người ấy trong những chuyển đổi không ngừng của từng giai đoạn để ứng xử và chinh phục họ”. Đó là những gì “ông cố vấn” đưa ra liên quan đến bí quyết thành công của nhà tình báo. Còn đại tá Tư Cang? Theo Tư Cang, ngoài những cái lớn lao phải tuân thủ, nhà tình báo không được xem thường những thứ nhỏ nhặt khác quanh mình, ngay cả… một chồng bánh tráng ngoài chợ, hoặc một gói mắm ruốc từ đâu đưa đến nhà, như câu chuyện sẽ kể ở kỳ sau. (Còn tiếp)

Giao Hưởng

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 8

“Phạm Xuân Ẩn vẫn cười, vẫn nói, vẫn ung dung”

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn giữa các tùy viên quân sự Mỹ - Ảnh tư liệu

Sài Gòn trở nên sôi động sau Tết Mậu Thân 1968 với tin “trùm tình báo Cộng sản” cài ở dinh Độc Lập đóng vai trò cố vấn cho Tổng thống Thiệu bị CIA phát giác, bắt giam, tra tấn và đưa ra xét xử với án chung thân – đó là Vũ Ngọc Nhạ (cụm tình báo chiến lược A22).

Lạ một điều, sau ngày ông Nhạ và các cộng sự bị đày ra Côn Đảo, việc rò rỉ thông tin tình báo ở dinh Độc Lập lẽ ra bị dập tắt, nhưng ngược lại, những tường trình có tầm vóc chiến lược vẫn bị tiết lộ ra ngoài. Biết điều ấy, Thiệu ức lắm, cho rằng CIA vu oan cố vấn đặc biệt của mình (Vũ Ngọc Nhạ) nhằm cô lập Thiệu, nên Thiệu tìm cách đưa Vũ Ngọc Nhạ về lại đất liền khoảng 3 năm sau đó, vô tình phục hồi hoạt động tình báo chiến lược của cụm A22.

Khi Vũ Ngọc Nhạ bị bắt khỏi dinh Độc Lập, Thiệu (cũng như CIA) không ngờ bên cạnh họ vẫn còn một điệp viên cộng sản khác. Đó là Hai Trung – Phạm Xuân Ẩn. Chính Hai Trung là người đã giúp Thiệu các thủ tục để Thiệu đến Mỹ lần đầu, học khóa tham mưu sĩ quan tại Leavenworth. Và theo Tư Cang, muốn hiểu vì sao Thiệu không e dè khi để Hai Trung tham dự những cuộc họp quan trọng ở dinh, thì cũng nên biết qua những nét chính trong đời “điệp viên hoàn hảo” này.

Hai Trung sinh năm 1927, quê gốc Biên Hòa – Đồng Nai, tham gia phong trào Trần Văn Ơn tại Sài Gòn năm 1950, được Phạm Ngọc Thạch trực tiếp giao nhiệm vụ hoạt động tình báo chiến lược từ 1952, trở thành đảng viên cộng sản, đi lính Pháp, công tác ở Phái bộ Huấn luyện Quân sự Mỹ từ 1955, sang Mỹ học đại học 1957 và về Việt Nam làm việc cho Việt Tấn Xã từ 1960, cho Reuters từ 1960 – 1964, là cây bút có uy tín của tuần báo Times (1965 – 1976). Hai Trung còn viết trên nhật báo The New York Herald Tribune, với thẻ hành nghề do Giám đốc Nha Thông tin – Báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ là Nguyễn Văn Huấn cấp, ghi rõ: “Trân trọng yêu cầu các giới hữu quyền hành chánh và quân sự dành mọi sự dễ dàng cho đương sự trong lúc thừa hành phận sự nhà báo”.

Một thẻ khác do Tổng cục Chiến tranh chính trị Việt Nam Cộng hòa cấp, cho phép “Làm phóng sự về công cuộc huấn luyện các hoạt động cũng như theo dõi các cuộc hành quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và thăm viếng các phi trường quân sự tại Việt Nam”, do Tổng cục trưởng là thiếu tướng Trần Văn Ẩn ký. Với một số giấy tờ tương tự, Hai Trung đã ra vào các cơ quan quản lý hoạt động hành chánh, kinh tế và quân sự của chính quyền Sài Gòn một cách dễ dàng, thậm chí được các sĩ quan cấp tá của Mỹ mời lên trực thăng quân sự đi quan sát các vùng chiến thuật. Ông còn là một nhà báo đặc cách, được xếp ngang hàng các chuyên viên và được mời vào Phủ tổng thống (dinh Độc Lập) dự các cuộc họp quan chức Việt – Mỹ, được đọc các tài liệu mật để tham khảo và góp ý cho đường lối chiến lược của chính quyền Sài Gòn!

Về phía Mỹ, ông thân cận nhiều nhân vật cấp cao của chi nhánh CIA ở Đông Nam Á và Việt Nam. Ban đầu là các tham mưu của Edward G.Lansdale, nắm nhiều nguồn tin quan trọng về các chiến dịch càn quét Việt Cộng do Lansdale quyết định. Trong suốt 23 năm (tính đến 1975), Hai Trung đã thâm nhập sâu vào các cơ quan đầu não của Mỹ và chính quyền Sài Gòn để lấy những tài liệu tối mật và đã “cung cấp kịp thời nhiều tài liệu bằng nguyên bản có giá trị lớn” (như hồ sơ tuyên dương anh hùng của ông ghi rõ). Chẳng hạn, những báo cáo về mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn, những ý đồ quân sự và bình định qua các đời tổng thống Mỹ, những bước đi trong chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” thời Nixon. Trong đó có cả những hồ sơ liên quan đến kế hoạch cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, thể hiện bằng cuộc hành quân Lam Sơn 719 vào đầu 1971.

Chúng ta thử xem xét hiệu quả thực tế trên chiến trường đưa đến từ sự kết hợp chiến thuật quân sự của Hà Nội với tài liệu tình báo gửi từ Sài Gòn ra, qua ghi nhận dưới đây:

Từ mồng 3 Tết Tân Hợi, nhằm 30.1.1971, lực lượng Mỹ ở phía Nam sông Bến Hải lặng lẽ triển khai, tạo một bàn đạp vững chắc phóng sang Lào. Suốt 7 ngày sau đó, những vị trí chiến thuật then chốt ở Quảng Trị nhanh chóng được chiếm lĩnh để ba cánh quân Sài Gòn gồm bộ binh, lính nhảy dù và thiết giáp sẵn sàng vượt biên giới. Thiệu đã tung vào cuộc 2 sư đoàn tinh nhuệ nhất của “quân lực Việt Nam Cộng hòa” trong đó có sư đoàn thủy quân lục chiến… Nhưng ngót nửa tháng, đội quân ấy vẫn mắc kẹt trên đường, số tử thương tăng lên từng ngày, việc tải xác chết khỏi mặt trận không làm xuể và “ma sự” bắt dầu ám ảnh mạnh đến tinh thần binh lính. Qua ngày thứ 15, thời hạn chiếm Tchépone như dự định “tuyệt vời trên giấy” vụt qua. Cựu tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn, tướng Westmoreland được Kissinger tham vấn ngay về tình hình chiến trận khi đó, đã nhận định ít nhất phải có 4 sư đoàn Mỹ mới tiến chiếm và giữ được Tchépone, chứ 2 sư đoàn Sài Gòn dù là “tinh nhuệ nhất” vẫn chịu chết… Cố vấn tổng thống Thiệu là TS Nguyễn Tiến Hưng đúc kết: Chiến dịch kết thúc sau 44 ngày với con số thương vong cao: 8.000 người, là một yếu tố làm suy nhược ý chí chiến đấu của Nam Việt Nam”.

Nguyễn Tiến Hưng còn viết, người ta đưa ông Thiệu xem bức ảnh đăng trên các tạp chí Mỹ chụp cảnh một người lính Sài Gòn bám đuôi chiếc trực thăng cứu nạn của Mỹ để “cố chạy sao cho thoát khỏi chảo lửa của mặt trận Tchépone, giống như một con thỏ chết nhát”. Bức ảnh chú thích bên dưới: “Một con thỏ!”. Xem ảnh Thiệu tức lắm, nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh, cười gằn, bảo ông ta xem thường điều mỉa mai đó, vì sự thật không phải binh lính Sài Gòn là “những con thỏ”, mà “chính các phi công trực thăng người Mỹ đã sợ lưới đạn của Cộng sản vây bủa trên đường đến Tchépone, nên đã sợ hãi dạt ra xa và bay mất!”.

Những báo cáo khác của Hai Trung đã giúp ích rất nhiều cho quyết định của B2 và Hà Nội vào các giai đoạn quyết liệt dẫn đến sự kiện lịch sử 30.4.1975. Cuối tháng 9.2006, khi Hai Trung qua đời tại TP.HCM, Tư Cang đã đến Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng thắp hương vĩnh biệt và ghi trong sổ: “Bị ốm nặng không đi lại được, anh thường dùng điện thoại chuyện trò tâm sự với tôi. Có lần anh nói vui: chắc lá số tử vi của anh và tôi tốt lắm, cao số lắm, nên tình báo CIA và đặc ủy Sài Gòn mới không phát hiện được hai đứa mình, chớ tụi mình có giỏi hơn anh em đâu? Nay anh ra đi, là bạn chí thân sống chết bên nhau trong thời chiến tranh chống Mỹ giữa Sài Gòn, tôi làm mấy câu thơ tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng: Những lúc hiểm nguy căng sợi tóc/Vẫn cười, vẫn nói, vẫn ung dung…”. (Còn tiếp)

Giao Hưởng

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 7

Dấu hỏi về những kế hoạch bị tiết lộ

Trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, quân Giải phóng đã đánh chiếm tòa Đại sứ Mỹ làm cho cả thế giới phải kinh ngạc. Sau đó Sài Gòn đã tăng cường phòng thủ rất nghiêm ngặt nhưng quân Giải phóng lại từ mọi phía tiến đánh Sài Gòn đợt 2 - Ảnh do ISIKAWA Bundo chụp tại Chợ Lớn

Sau ngày Tám Hà khai báo, CIA và quân đội Sài Gòn dự đoán được khoảng thời gian tấn công đợt 2, đã dùng phi cơ chiến lược B52 ném bom rải thảm vùng ven Sài Gòn, nhằm “tạo vòng đai lửa bảo vệ thủ đô và chặn đứng Cộng sản”. Các địa điểm chôn giấu, dự trữ đạn pháo do Tám Hà tiết lộ, liên tục nhiều đêm bị máy bay Mỹ quần đảo ném bom, phối hợp với pháo lớn của quân đội Sài Gòn bắn nã vào, khiến vùng Bắc Hóc Môn bị băm vằm, tan nát.

Tiếng bom vùng ven còn đang nổ, Phòng tình báo B2 yêu cầu cụm H63 nắm tình hình mới nhất ở nội thành, chú ý phản ánh tâm lý của chính khách và binh lính Mỹ, kèm theo đề xuất của chính H63: đánh hay không nên đánh đợt 2 vào Sài Gòn? Lúc ấy đã cuối tháng 4, mà theo dự kiến tháng 5 sẽ nổ súng, thời hạn gần kề, thúc bách, nên Tư Cang vừa nhận chỉ thị xong, lập tức phóng honda đến nhà Hoàng Nam Sơn, thường gọi “anh Tám”, cũng là một cán bộ tình báo cụm H63 ở 113 đường Cô Bắc. Anh Tám là người quản lý khách sạn Embassy nơi có nhiều chính khách, sĩ quan Mỹ và các nước lui tới. Tư Cang nói anh Tám hãy tiếp cận, gợi chuyện các “thực khách đặc biệt” của khách sạn Embassy để thâu thập thêm một số tin tức mới nữa: “Việc gấp quá nên sáng mai mình sẽ gặp nhau lại ở nhà hàng Victory lúc 6 giờ 45 để gút”. Bằng kinh nghiệm nghiệp vụ, anh Tám bắt tay vào việc rất nhanh….

Ngay hôm sau, anh Tám đã chuyển các nội dung Tư Cang yêu cầu đến Victory – rất đúng hẹn. Khoảng 9 giờ, ở một căn phòng trên cư xá Việt Nam Thương Tín, Tư Cang viết bản báo cáo quan trọng, đúc kết từ nguồn tài liệu mới nhất do các cán bộ H63 cung cấp, đặc biệt của Hai Trung (qua cuộc tiếp xúc với một nhân viên cao cấp của CIA Mỹ phụ trách vùng Đông Nam Á và một đại tá trong Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn), của anh Tám và Yến Thảo vừa khai thác, đại ý: “Người Mỹ ở Sài Gòn đang bàn tán về tác động của trận tổng tấn công hồi Tết của ta và ta thán về những thiệt hại nặng nề ở mặt trận Khe Sanh. Họ cho rằng Tổng thống Johnson bị sức ép quá lớn của “phái bồ câu” trong hai viện của Quốc hội và phản ứng chống chiến tranh của dân chúng Mỹ khi xem hình ảnh người lính Mỹ cam khổ, bị thương, chết chóc, được chiếu trên màn ảnh vô tuyến truyền hình và in lên mặt báo, nên Johnson phải tuyên bố thôi không ra tranh cử tổng thống vào cuối năm nữa, để dồn sức giải quyết vấn đề Việt Nam.

Theo đó, Johnson muốn chuyển việc gánh vác cuộc chiến trực tiếp sang vai người Việt Nam để thay cho người Mỹ. Phóng viên bình luận chính trị người Pháp của tuần báo Express nhận định: đó là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy chiều hướng chấm dứt sự tham gia của Mỹ tại Việt Nam. Về ngoại giao, họ cũng bàn tán một sự kiện mới vừa hé mở, đó là đầu tháng 4, Johnson có chỉ thị mật cho Sullivan, Đại sứ Mỹ tại Lào, tìm cách nào đó để tiếp xúc với người đại diện chánh quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa mong tìm giải pháp ra khỏi “đường hầm không lối thoát”.

Còn các viên chức và sĩ quan của những nước đồng minh với Mỹ đang hoạt động ở Sài Gòn như Nam Triều Tiên, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc thì cho biết tâm trạng của họ là mong mỏi hòa bình, không muốn duy trì quân đội và các hoạt động quân sự của mình quá lâu tại Nam Việt Nam. Theo nguồn tin từ các chính khách Mỹ đang có mặt tại Sài Gòn, thì trong tình thế đó, Johnson cùng các bộ trưởng quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao của Chính phủ Mỹ đang rất lo ngại lại phải đối mặt với các trận tấn công nữa của quân giải phóng vào Sài Gòn và các trung tâm dân cư khác sắp tới.

Vì như thế sẽ làm tăng thêm tâm lý chán chường, phản đối chiến tranh trong lòng nước Mỹ. Tin mới nhất từ dinh Độc Lập cho biết, dầu không thích gì mấy chủ trương “xuống thang” trên của tổng thống Mỹ, song chính quyền Thiệu cũng không muốn phải ứng phó với những trận đánh mới trước mặt. Do vậy, việc cho đăng tải công khai trên mặt báo, tin Tám Hà ra đầu hàng, rêu rao trên đài phát thanh rằng: “Việt Cộng sẽ tấn công vào Sài Gòn” là có ngụ ý muốn nhắn với Mặt trận giải phóng miền Nam là: “Chúng ta (tức Sài Gòn) đã biết rõ kế hoạch tấn công sắp đến của các người rồi, thôi đừng đánh nữa, sẽ không hay”!.

Điều mâu thuẫn là, hiện giới quân sự hiếu chiến của Mỹ và Sài Gòn lại làm khác, ở chỗ thừa dịp những đơn vị lớn của ta đổ quân vào đô thị, tràn xuống đồng bằng, đầm lầy trống trải, đã ra sức dùng máy bay rải bom, dùng pháo binh, cơ giới càn quét đánh phá dữ tợn hơn, mưu chiếm lại các vùng nông thôn ta đã làm chủ từ lâu, hòng đẩy lực lượng ta lên vùng rừng núi và biên giới. Qua tình hình trên, H63 đề xuất ý kiến là nếu đã chuẩn bị tốt thì vẫn cứ đánh thêm một trận nữa vào Sài Gòn”.

Và đợt 2 của cuộc tổng tiến công 1968 đã mở màn khuya 5.5, lần này chiến sự đồng loạt nổ quanh Sài Gòn. Thiệu đã điều các tiểu đoàn biệt động quân số 33, 35, 38 với xe tăng và máy bay yểm trợ đến mặt trận trên ứng chiến, hai bên quần nhau suốt cả tuần, máy bay Sài Gòn bắn sụp một số nhà cửa vùng Phú Thọ và trên nhiều đường như Minh Phụng, đường 46. Ở ngã tư Bảy Hiền, vùng cầu chữ Y, lò heo Chánh Hưng và vòng ngoài quận 4, cũng như vùng An Phú Đông, Tân Thới Hiệp phía Tây Bắc Sài Gòn đều bị tấn công…

Một lần nữa, các phóng viên chiến trường của các hãng thông tấn trên thế giới lại xông xáo ghi hình, đưa tin và phơi bày trên các phương tiện truyền thông những hình ảnh máu lửa của cuộc chiến trên đường phố Sài Gòn, tác động mạnh đến phong trào phản chiến của dân chúng Mỹ. Lúc này chính khách và phóng viên nước ngoài lại càng lui tới đông đúc thường xuyên hơn tại khách sạn Embassy do anh Tám quản lý, họ mang theo những tin tức nóng bỏng, những lời bàn tán về chiến cuộc, về tình hình chính trị, ngoại giao vừa xảy ra. Đó cũng là dịp khai thác và thu thập nguồn tin tình báo của cụm H63. Nhất là vào tháng 10 năm ấy, phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris tuyên bố có thể đồng ý cho đại diện chính quyền Sài Gòn đến dự Hội nghị Paris nếu Mỹ đáp ứng các điều kiện kèm theo…

Những hoạt động bí mật như thế căng thẳng và kéo dài không ngớt những năm sau đó, với các sự kiện nổi cộm như cuộc hành quân Lam Sơn 719 của quân Sài Gòn đánh sang Lào nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh đã bị thất bại thảm hại, đánh một dấu hỏi lớn và đáng sợ rằng: Vì sao kế hoạch hành quân bị tiết lộ? Đã có điệp viên của Hà Nội cài đâu đó trong các cơ quan cao nhất của Mỹ và Sài Gòn? Bằng chứng là “bất kỳ nơi nào quân lính Nam Việt Nam tấn công đều thấy quân đội Bắc Việt dường như đã ém ở đó từ lâu để sẵn sàng đón đánh” như lời của cố vấn Tổng thống Thiệu là TS Nguyễn Tiến Hưng (và Jerrold L.Schecter) đã nhìn lại và kêu lên sau cuộc chiến. (Còn tiếp)

Giao Hưởng

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 6

Lấy bản khai của kẻ phản bội

CIA hoạt động khá ráo riết vào những thời điểm gay cấn nhất. Như hồi Tết Mậu Thân 1968, tướng Davidson – sĩ quan tình báo đặc biệt của MACV trình với Tư lệnh lực lượng quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam là tướng Westmoreland: “Rất có thể 40% đến 60% quân cộng sản sẽ mở đợt tấn công lớn sau Tết” (nhưng tổng tấn công rơi vào ngay Tết).

Tướng Westmoreland cấp tốc phúc trình với Bộ Quốc phòng Mỹ. Nhưng ở Sài Gòn, Thiệu và tướng Cao Văn Viên không để tâm đúng mức đến tin tình báo, nên vẫn điềm nhiên ăn Tết và cho dân chúng đốt pháo khắp đô thành. Đến giao thừa, khi tiếng súng quân cách mạng vang lên đồng loạt trên toàn miền, lúc ấy Thiệu đang còn ở quê vợ Mỹ Tho, còn tướng Westmoreland sửng sốt ngồi bật dậy khi hay tin “cộng sản đã tràn ngập lãnh thổ”. Rõ ràng theo Westmoreland, những cố gắng của CIA và Bộ chỉ huy MACV bị chính quyền Thiệu xem nhẹ và Sài Gòn vốn là mục tiêu quan trọng nhất trong đợt tổng tấn công đã thực sự là trung tâm “địa chấn” rung chuyển nước Mỹ và dư luận thế giới, với 9 căn cứ quan trọng như Tòa đại sứ Mỹ bị đột phá trong đợt 1.

Qua đợt 2, lúc cụm tình báo H63 đang chuẩn bị những báo cáo cuối cùng để Bộ Tư lệnh B2 tham khảo trước khi nổ súng, thì sự cố xảy ra: thượng tá Tám Hà ra đầu hàng quân Sài Gòn và khai báo “hết ráo”. Phòng tình báo B2 lập tức chỉ thị Tư Cang và cụm H63 phải bằng mọi cách lấy cho được bản khai (khẩu cung) chính thức của thượng tá Hà. Vì lúc ấy Hà đang nắm kế hoạch tác chiến của cuộc tổng tấn công đợt 2 sắp diễn ra, cả nhiều chi tiết chuẩn bị của quân giải phóng về quân số, đạn dược, lương thực. Nhận chỉ thị, sáng 23.4.1968, khi đang uống cà phê ở ngoại ô Sài Gòn, Tư Cang càng thêm sốt ruột khi đọc trên trang nhất của hầu hết các tờ nhật báo phát hành hôm đó đăng tin “thượng tá Tám Hà rời hàng ngũ Việt Cộng” kèm tấm ảnh lớn chụp Tám Hà đứng giữa, Tư lệnh quân đội viễn chinh Mỹ ở Việt Nam là tướng Westmoreland và Tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh của quân đội Sài Gòn là Phạm Quốc Thuần, đứng hai bên Hà. Cầm tờ báo trên tay, Tư Cang phóng lên chiếc xe lam đầy khách vừa trờ tới, để về ngã tư Hàng Xanh, nhảy lên chiếc Honda ôm về hướng đường Hùng Vương. Chạy nửa chừng, để cảnh giác, ông bảo xe ngừng lại, trả tiền và nói đau lưng quá rồi ngoắc chiếc taxi sà vào lề, bảo đến đường Võ Tánh để tìm Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn). Vì Tư Cang biết, lấy được bản cung khai của thượng tá Tám Hà trước CIA Mỹ và tình báo quân đội Sài Gòn, duy có Hai Trung mới lo được. Gặp Hai Trung, Tư Cang truyền đạt chỉ thị cấp trên, nghe xong Hai Trung vội đưa Tư Cang ra chiếc xe hơi riêng của mình phóng ngay đến tiểu khu Gia Định. Bởi Hai Trung biết viên trung tá chỉ huy tiểu khu Gia Định đã cùng CIA trực tiếp thẩm vấn thượng tá Tám Hà. Vậy nhất định viên trung tá cũng giữ một bản khai. Song, chưa cần gặp thẳng ông ta, mà chỉ cần móc anh hạ sĩ quan phụ trách giữ hồ sơ của ông ta ra hỏi nhỏ. Anh này không khỏi ngập ngừng một lát, rồi nói với Hai Trung: “Thôi được, các ông đợi tui cạnh lăng Ông Lê Văn Duyệt, tui lấy đem ra cho”. Khoảng 15 phút sau, anh ta bước ra, giao Hai Trung toàn văn bản khai mật của Tám Hà và dặn đi dặn lại: “Dùng xong anh nhớ trả lại tôi trước 2 giờ chiều nay cũng ở nơi này nha. Anh vui lòng đúng hẹn để lỡ chiều vào làm việc, ông trung tá tiểu khu trưởng muốn dùng lại tài liệu mà không có để đưa cho ông ta thì chết tôi!”.

Lúc ấy khoảng 10 giờ sáng. Từ đó đến 2 giờ chiều thừa sức trả lại. Theo Tư Cang, anh trung sĩ này không phải là cơ sở cách mạng, nhưng đã dám trao tài liệu mật cho Hai Trung cũng do trước đó Hai Trung xử sự rất tử tế. Khi vợ anh ta sinh đẻ gặp túng thiếu, Hai Trung đến tận nhà thương để thăm, vừa an ủi, vừa nhét vào túi anh ta một số tiền lớn để lo thuốc men cho vợ. Phần nữa, anh ta biết Hai Trung là nhà báo quen biết hầu hết với các viên chức cao cấp, các tướng tá có máu mặt ở Sài Gòn, giao du với rất nhiều người Mỹ, nên anh không ngại gì. Trước đó, Hai Trung mượn anh ta tài liệu gì để viết báo, đều trả đúng hẹn. Nên lần này cũng vậy, anh ta rất tin Hai Trung nên giao bản khai của Tám Hà vốn là tài liệu quan trọng. Lấy tài liệu xong, Hai Trung lái xe đưa Tư Cang đến đường Nguyễn Du, vòng qua đường Gia Long cũ, đến trước nhà Tám Thảo, dặn: “Anh Tư à, 2 giờ thiếu 10 chiều nay tôi sẽ đến đây để đón anh, đem tài liệu trả như đã hứa”. Tư Cang nói: “Chứ sao nữa, tôi sẽ giao tài liệu cho anh trước 2 giờ, đến tối mình sẽ gặp nhau ở nhà hàng Givral lúc 9 giờ để trao đổi, sau đó vào sáng mai tôi sẽ tổng hợp gửi về Phòng tình báo B2”.

Nói xong, Tư Cang đi nhanh vào nhà Thảo, còn Hai Trung lẳng lặng phóng xe đi. Vào nhà, Tư Cang biết Thảo đã đi làm, ông đi thẳng lên lầu, lấy hai khẩu súng ngắn K54 ra lau và để sẵn hai bên để đề phòng bất trắc. Tiếp đó ông nhấc mấy cây vải cuộn tròn, bỏ qua một bên, dời hết đồ đạc tuế nhuyễn linh tinh vốn dùng ngụy trang, thọc tay xuống dưới lấy ra một chiếc máy chụp ảnh chuyên dụng, gắn linh kiện kèm theo, bắt đầu chụp tài liệu. Đó là bản cung khai của thượng tá Tám Hà được ghi lại tỉ mỉ qua 5 trang đánh máy dày đặc. Ông chụp hai lần để phòng trắc trở. Nội dung lời khai của Tám Hà với CIA và tình báo quân sự mật Sài Gòn khá nguy hiểm. Các chi tiết từ quân số, vị trí bố phòng, tâm lý của chiến sĩ cách mạng dưới quyền, cho đến đội hình các đơn vị tham gia mặt trận của cuộc tổng tấn công đợt 2 sắp đến Tám Hà khai tuốt. Đặc biệt, Tám Hà khai sắp tới trước khi mở màn đợt 2 cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn (giữa năm 1968) sẽ có đại pháo, hỏa tiễn, với mấy ngàn trái sẽ bắn nát sân bay Tân Sơn Nhất. Số hỏa tiễn và đại pháo dùng cho trận đánh đó hiện đang được chôn giấu trên các cánh đồng ở Bình Mỹ, phía bắc Hóc Môn…

Khai hết những bí mật như thế cho CIA và đặc báo Sài Gòn thật quá sức nguy hại, nên Tư Cang quyết định chuyển ngay bản khẩu cung của Tám Hà mà H63 vừa nắm được, không cần chép lại, cứ để nguyên bản bằng phim chụp tài liệu, gửi hỏa tốc đến Phòng tình báo B2… (Còn tiếp)

Giao Hương

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 5

Thẩm vấn bằng “máy đo sự thật”

Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung) cán bộ tình báo Cụm H.63 - Ảnh: T.C

Đơn độc bước vào phòng thẩm vấn của CIA, Thảo thấy một chiếc máy hình chữ nhật màu đen nhánh, to bằng cái ti vi 24 inches ngày nay, đặt sẵn giữa phòng.

Đây là căn phòng bít bùng với hệ thống đèn néon dường như chiếu sáng suốt ngày, soi rõ những chùm dây điện chằng chịt túa ra từ ruột “chiếc máy bí ẩn”. Trước máy đặt chiếc ghế vừa đủ một người ngồi, bên dưới trải tấm thảm màu đỏ. Thảo bị buộc phải duỗi thẳng hai chân lên thảm ấy, ngồi vào ghế và để hai tay lên thành ghế, mắt nhìn thẳng tới trước, không động đậy. Cô cũng được nhắc đi nhắc lại rằng không được liếc nhìn qua hai bên. Song, với kinh nghiệm của một cán bộ tình báo lâu năm, Thảo vẫn liếc rất nhanh tờ giấy để gần mình và biết trong đó ghi sẵn một loạt câu hỏi.

Một nhân viên CIA đến gần Thảo nói bằng tiếng Anh, rằng cô hãy đưa cánh tay phải cho hắn ta. Khi Thảo đưa tay ra, hắn ta rút từ chiếc máy bí ẩn một vật hình tròn nhỏ như miệng ly uống nước, từa tựa như đồng hồ đo huyết áp, với những sợi dây điện đủ màu. Tiếp đó từ từ từng chút một, hắn gắn lần lượt gắn 5 cái chụp bằng nhựa đỏ vào 5 đầu ngón tay của Thảo. Trước khi găm điện để máy hoạt động, nhân viên thẩm vấn CIA đến bên Thảo nói từng tiếng một, đại ý để Thảo biết rằng, cô đang ngồi trước chiếc máy tối tân của ngành tình báo Mỹ, là “máy đo sự thật”. Trong lúc nói, nhân viên này cố ý gằn giọng, dọa trước: “Cô phải nói đúng sự thật. Vì cô đang ngồi trước “máy đo sự thật”. Hãy nhớ là phải trả lời từng câu một bằng tiếng Việt và câu trả lời chỉ ngắn gọn hai tiếng: “có” hoặc “không”, chứ không được dài dòng”.

Tuy bị đe dọa như vậy, song mấy phút đầu của cuộc thẩm vấn, bằng bản lĩnh vốn có, Thảo đã bình tĩnh kéo dài thời gian để nghĩ ra cách đối phó với CIA sao cho không lộ tông tích của mình và của cụm tình báo H63. Thảo làm như không nghe rõ lời dặn trên, nên cứ trả lời bằng tiếng Anh và thêm vào đó một loạt giải thích khác nữa. Nóng ruột, tên nhân viên hỏi cung người Mỹ bực tức cắt ngang, gằn giọng: “Tôi đã nói với cô rồi. Bây giờ tôi buộc lòng phải nhắc một lần nữa. Rằng từ đây trở đi cô chỉ trả lời bằng tiếng Việt và câu dài nhất của cô không được quá ba chữ”.

Câu hỏi thứ nhất:

– Cô là người Nam hay người Bắc? – Đáp: Bắc.

– Lâu nay cô có về thăm quê không? – Không.

– Cô có sợ Việt Cộng không? – Có.

– Cô có mấy anh chị em? – Ba chị em.

– Anh của cô hiện có làm gì ngoài Bắc? – Không.

– Cô có người em trai đi học ngoài Bắc phải không? – Không…

Nghỉ một lát, nhân viên CIA bảo Thảo đưa tay trái ra. Và nhân viên hỏi cung của Mỹ lại chụp lên 5 đầu ngón tay (bên cánh tay trái) 5 cái mũ bằng nhựa màu đỏ, găm điện và cho máy khởi động lại. Song khác với lần trước một chút, lần này CIA Mỹ đảo lộn các câu hỏi không theo thứ tự cũ, để vặn vẹo, hỏi tới hỏi lui mấy chục lần những câu trên. Thảo biết mục đích của CIA là nhằm làm cho người bị hỏi cung phải chịu áp lực tâm lý, hoặc nói ra sự thật, hoặc nói lung tung, câu đầu mâu thuẫn với câu sau. Song, Thảo vẫn đáp rành rọt từng câu hỏi một. Kết quả, lần trả lời thẩm vấn bằng “cánh tay trái”, với lần thẩm vấn bằng “cánh tay mặt” đều khớp với nhau và CIA không moi được điều gì mới hơn.

Cứ thế cuộc thẩm vấn bằng “máy đo sự thật” kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ và dừng lại khi hai nhân viên hỏi cung của CIA mồ hôi toát ra, thấm rõ trên áo. Thảo hỏi ngược lại đại ý người Mỹ các ông muốn tra vấn thêm gì nữa không? Im lặng không trả lời, hai nhân viên CIA mời Thảo đứng lên bước ra phòng khách của biệt thự. Ở đó, viên thiếu tá Mỹ cố vấn tình báo của Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn đã ngồi chờ sẵn. Anh ta mời Yến Thảo lên chiếc xe riêng của mình đậu ngoài sân để tự lái đưa Thảo về nhà của cô gần dinh Độc Lập.

Vượt qua một cuộc đấu trí quyết liệt nhiều giờ với CIA lẽ ra Thảo phải vui mừng, nhưng ngược lại cô đã khóc nức nở trước mặt viên thiếu tá tình báo Mỹ ở văn phòng Bộ tư lệnh Hải quân vào ngày hôm sau. Thấy những giọt nước mắt đàn bà rơi xuống, trái tim của viên thiếu tá dường như mềm đi, anh ta bước về phía Thảo an ủi và giải thích ra sao về “sự việc đáng tiếc” ở ngôi biệt thự chiều ấy.

Trước khi ghi lại lời giải thích trên, cũng cần nói thêm, nữ cán bộ tình báo Yến Thảo thoát khỏi cuộc thẩm vấn bằng “máy đo sự thật” của Mỹ trước hết là nhờ vào những tin tức kịp thời do Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn) cung cấp. Sự việc thế này: cách đó vài tháng, theo yêu cầu của chỉ huy trưởng cụm tình báo H63 là Tư Cang, Hai Trung đã đến khách sạn Continental bên Nhà hát lớn Sài Gòn để dự bữa tiệc “mừng sinh nhật”. Ở đó Hai Trung đã đem đến một “món quà” đặc biệt, gồm những tin tức mới nhất thu thập từ các nhân viên tình báo CIA mà ông đã tiếp cận. Điều lưu ý nhất trong các tin tức do Hai Trung báo cáo với Tư Cang là: CIA Mỹ vừa đưa qua Sài Gòn một loại máy, gọi là máy “khai thác sự thật”. Máy này, theo thông tin kỹ thuật kèm theo, sẽ đo được mức độ nói thật hay nói dối của người bị tra hỏi.

Thật như thế không? Máy ấy hình dạng thế nào? Đã ứng dụng thử chưa? Các câu hỏi trên do Tư Cang nêu ra và vài ngày sau Hai Trung đáp ứng bằng cách chuyển đến những câu trả lời rõ ràng. Không chậm trễ, Tư Cang vừa viết một báo cáo kỹ thuật gửi B2, vừa liên lạc với cán bộ tình báo trong cụm H63 để thông báo trước cho tất cả được biết về máy đo sự thật mà mai đây họ có thể phải đối mặt với nội dung tóm tắt sau: “Đừng sợ gì cả. Không một loại máy móc nào, dù tối tân đến đâu, lại biết thấu tim đen rằng một con người đang nói thật hay nói dối. Chẳng qua là một trò hù dọa, dùng máy để đo thần kinh tim của người mà chúng đang điều tra… Để chứng minh, tôi kể lại câu chuyện mới nhất làm bằng chứng, gần đây quận trưởng Trảng Bàng bị gọi điện về Sài Gòn để cho cái “máy đo sự thật” làm việc. Trước các quan chức Mỹ và cấp trên, viên quận trưởng này lúng túng tái mặt, mất tinh thần, run quá nên cái máy cứ cho là nói dối mặc dù quận trưởng này không có liên hệ gì với cách mạng và nhất là chống Cộng rất quyết liệt“.

Một sự thật khác không cần đến máy đo vẫn thấy rõ, do Giám đốc Cục Tình báo trung ương Mỹ CIA là W.Colby nói ra, là đã có tình báo Cộng sản len lỏi vào các cơ quan cao cấp ở Sài Gòn, nếu không thì tại sao những chi tiết lợi hại, cũng như những tài liệu bảo mật liên quan đến an ninh của các căn cứ như Bộ tư lệnh Hải quân, Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha cảnh sát, Biệt khu thủ đô, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh, và nhất là Tòa đại sứ Mỹ và dinh Độc Lập đều bị tiết lộ? Ngoài những thu thập thông tin từ Thảo, đã có những tài liệu quan trọng nào từ nguồn Hai Trung cũng như từ các cán bộ H63 đưa về phòng tình báo B2 trong thời điểm CIA đặt câu hỏi trên? (Còn tiếp)

Giao Hương

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 4

Tình báo viên Yến Thảo đối mặt với CIA

Nguyễn Thị Yến Thảo thời hoạt động trong cụm tình báo H63 - Ảnh: nhân vật cung cấp

Một chiều đầu hạ, trên bến Bạch Đằng Sài Gòn, có hai người thư thả đến thuê một chiếc xuồng con, chèo thật chậm để ngắm cảnh ven sông. Đó là Tư Cang (Trần Văn Quang) và Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn).

Một người là chỉ huy trưởng Cụm tình báo H63, người kia là “điệp viên hoàn hảo”- lúc bấy giờ đã là cán bộ của cụm này. Đứng từ bến nhìn xuống, sẽ thấy hai người như hai du khách sành điệu đang thưởng thức gió mát trên sông. Nhưng kỳ thực, họ đang thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt. Ấy là quan sát thật kỹ để vẽ toàn cảnh sơ đồ căn cứ của Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn đóng trên bờ.

Ở ngoài nhìn là vậy, còn bên trong căn cứ quan trọng này ra sao? Phải làm cách nào để mô tả chi tiết và nắm quy luật đi lại, giờ giấc sinh hoạt, số nhân viên lẫn lực lượng thường trực ở đó? Việc khó khăn này rốt cuộc phải nhờ đến sự hợp sức của nữ tình báo viên xinh đẹp Nguyễn Thị Yến Thảo.

Và Yến Thảo đã được cài vào làm việc như thư ký riêng của viên sĩ quan tình báo Mỹ CIA ở căn cứ này ra sao?

Yến Thảo vào Đảng từ 1950, ra chiến khu miền Tây và sau đó được tổ chức đưa trở lại Sài Gòn để hoạt động từ 1954. Nhà cô là một địa điểm thuận lợi giữa trung tâm Sài Gòn (số 136 B Gia Long- nay là Lý Tự Trọng), cách dinh Độc Lập không xa. Chính ở căn nhà đó, Tư Cang – lúc ấy mang cấp bậc thiếu tá thuộc phòng tình báo B2 – đã chuyển đến cư trú và chỉ huy hoạt động của cụm H63 từ giữa 1966.

Trong nhà còn có ba má của Thảo và mấy em gái. Vào thời điểm trên, số quân Mỹ đổ vào Việt Nam tăng nhanh đến chóng mặt: từ 200.000 quân cuối 1965, tăng lên 389.000 cuối 1966 và lên đến nửa triệu năm 1967. Cùng lúc, số lượng không nhỏ cố vấn tình báo Mỹ cài vào các cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn cũng tăng theo.

Trước tình hình đó, cụm H63 nhận định cần đào tạo thêm cán bộ thông thạo tiếng Anh để tiếp cận nhân viên tình báo Mỹ, nên đã cho Thảo đi học tiếng Anh. Thảo học rất giỏi, nhanh chóng nói và viết đều rành. Đến kỳ thi, H63 chi một món tiền lớn để Thảo có được chứng nhận tốt nghiệp với số điểm thật cao. Xong việc ấy, phải tiếp tục xoay xở để tìm cho Thảo chỗ làm thật “vừa ý” theo kế hoạch của cụm tình báo. Kết quả thật khả quan, không lâu sau, Thảo được tuyển làm phiên dịch cho một thiếu tá tình báo Mỹ.

Viên sĩ quan này lúc bấy giờ đang là cố vấn cho tình báo hải quân Sài Gòn, có phòng làm việc riêng trong Bộ tư lệnh Hải quân đóng trên bến Bạch Đằng. Về phần Tư Cang, khi đến ở nhà Thảo, để giữ thế hợp pháp và che mắt người chung quanh, ông phải tìm một công việc theo kiểu công chức hằng ngày. Là một học sinh xuất sắc, đỗ cao vào trường Petrus Ký Sài Gòn từ những năm đầu thập niên 1940 và biết cả tiếng Pháp lẫn Anh, nên Tư Cang được một văn phòng kế toán gọi tắt là OCOGES đồng ý thu nhận và ông bắt đầu đi làm hằng ngày với thẻ căn cước giả mang tên Trần Công Tâm.

Đến sở rất sớm để bắt tay vào việc từ 6 giờ rưỡi đến tận 11 giờ rưỡi trưa, ông cũng không về nhà như nhiều đồng nghiệp khác mà mở chiếc ghế nệm ra ngả lưng tại chỗ trên lầu hai Thương xá Tax để tiện dậy tiếp tục làm việc đến 5 giờ chiều mới về nhà.

Nhiều hôm tan sở, ông không đi xe, lại thả bộ quanh khu vực chợ Bến Thành, vừa đi vừa để ý nhìn ngắm, ghi nhận từng hẻm nhỏ, từng lối rẽ vào các con đường lớn của khu trung tâm. Cũng có hôm ông rủ vài đồng nghiệp vòng qua phía Chợ Cũ, hoặc sà vào một quán nhậu để nhắp rượu Vĩnh Tồn Tâm với mấy con chim sẻ ram vàng chấm tương ớt. Sinh hoạt từ sáng đến chiều của ông theo nếp công chức như vậy, đã tạo cho ông bình phong khá chắc chắn nhằm che mắt hệ thống cảnh sát – mật vụ của Sài Gòn.

Sau này, khi Thảo được nhận làm phiên dịch cho viên thiếu tá tình báo Mỹ, ông đã xin nghỉ việc, lấy cớ “sức khỏe kém” để có thời giờ tập trung xử lý tin tức. Buổi sáng, ông chở Thảo đi làm bằng xe Honda. Buổi trưa, nhiều hôm ông đợi Thảo về, để nhận tài liệu tiếng Anh do Thảo lấy được từ nơi làm việc của viên sĩ quan Mỹ, dịch ra tiếng Việt thật nhanh, rồi giao lại bản gốc ngay trưa ấy để Thảo mang về trả lại trên bàn của anh ta. Những tài liệu này được Tư Cang tự tay chép lại theo kỹ thuật riêng trên giấy hút thuốc ABC mỏng lét để bí mật chuyển về phòng tình báo B2.

Sao viên thiếu tá tình báo Mỹ lại tin Thảo đến vậy? Theo Tư Cang, vì Thảo là một phụ nữ trẻ đẹp, với thân hình thon thả, gương mặt tròn đầy, nói giọng Nam pha một ít hơi Bắc (gia đình Thảo gốc Bắc) nghe là lạ, rất duyên. Viên thiếu tá tình báo Mỹ còn trẻ, rất ga-lăng, chiều chuộng cô thư ký phiên dịch của mình, nhiều đêm còn đột ngột đến nhà Thảo thăm chơi. Việc ấy tạo thêm một “lá chắn” nữa cho hoạt động bí mật của Thảo lẫn Tư Cang. Bởi thói thường, hễ nơi nào có “hơi” Mỹ thì nơi ấy công an mật vụ Sài Gòn né ra.

Dần dà, cứ đến buổi chiều xong việc, viên sĩ quan tình báo Mỹ lại lấy xe jeep tự đưa Thảo về. Một bữa, Thảo nói với Tư Cang: “Em nghĩ đời em cũng hay hay anh à”. Tư Cang hỏi: “Hay làm sao?”. Thảo đáp:

“Buổi sáng thì thiếu tá tình báo Việt Cộng đưa đi làm. Buổi chiều thì thiếu tá tình báo Mỹ đưa về. Không hay sao được hả anh?”.

Bật cười vì câu nói ngộ nghĩnh của Thảo, Tư Cang lại nghĩ, viên thiếu tá tình báo kia đã thật sự “đóng góp” vào cuộc tổng tấn công 1968 của quân giải phóng qua các tài liệu mà Thảo lấy được, kể cả tấm ảnh quý giá cô đứng chụp chung với anh ta trước những tòa nhà trong Bộ tư lệnh Hải quân. Khi chụp những bức ảnh đó, Thảo đã khéo léo dẫn viên thiếu tá đến đứng cạnh mình ở những vị trí rất cần cho việc tham khảo trước giờ tấn công.

Ngoài ra, Thảo còn lấy được rất nhiều tài liệu tốt, thường là những đánh giá của CIA và các nhận định của Phủ Đặc ủy Tình báo Trung ương và của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn gửi về. Là người đẹp, được tin dùng, luôn sát cánh bên cạnh sĩ quan CIA, nên Thảo lấy tài liệu ra khỏi văn phòng một cách khá dễ dàng. Cô nói với Tư Cang: “Ai làm việc xong ra về cũng bị xét cặp, lục giỏ xách, riêng em được miễn. Quen mặt rồi. Lính Mỹ gác cửa thấy em chỉ cười và khoát tay cho đi”.

Tư Cang đáp, đúng thôi, phụ nữ đẹp hoạt động tình báo luôn có ưu thế hơn người nam ở điểm đó. Nhưng không nên vì thế mà coi thường tình báo Mỹ được. Hãy nhớ rằng CIA vẫn theo dõi những nữ nhân viên người Việt đang thường ngày sát cạnh các sĩ quan của họ, như Thảo chẳng hạn. Tư Cang đã nhắc nhở Thảo điều rất quan trọng ấy.

Quả vậy, một hôm Thảo đang làm việc, bỗng có hai viên chức CIA Mỹ mặc thường phục đột nhiên vào phòng. Họ đưa giấy, mời cả viên thiếu tá tình báo lẫn Thảo ra ngoài, yêu cầu lên xe, phóng về căn biệt thự có cây xanh bọc quanh ở Chợ Lớn, rồi áp tải Thảo vào phòng thẩm vấn đặc biệt.

Đó là lần đầu tiên nữ tình báo viên Nguyễn Thị Yến Thảo phải đối mặt với một nhân viên hỏi cung người Mỹ cứ chằm chằm nhìn thẳng vào mặt mình với đôi mắt xanh lè… (còn tiếp)

Giao Hưởng

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 3

Dấu ấn của ngày “tháo chạy tán loạn”

Tài liệu tình báo đang được trưng bày tại Dinh Thống Nhất dịp 30.4 năm nay - Ảnh: Giao Hưởng

Bảy Vĩnh là người dẫn đầu đội biệt động tinh nhuệ tấn công táo bạo vào Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn mà điệp viên Phạm Xuân Ẩn đã đánh giá cao về lòng gan dạ và tài chỉ huy từ trước.

Bảy Vĩnh với Tư Cang lại là hai người cùng được bí mật đưa vào Nam trong một đội tình báo để xâm nhập vào nội thành Sài Gòn lần thứ hai năm 1961. Khi nghe Bảy Vĩnh tường thuật về trận đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn, thì Tư Cang với cương vị Chính ủy Lữ đoàn 316, Cụm trưởng Cụm tình báo H63, đã nhận định đây là trận đánh ngoạn mục ở hai khía cạnh. Thứ nhất, chỉ với 14 tay súng không có xe tăng yểm trợ (như kế hoạch vạch trước) nhưng vẫn tự tác chiến, chế ngự và đoạt xe tăng của đối phương để tiến chiếm mục tiêu sớm nhất. Thứ hai, đội biệt động ít ỏi quân số này mà đã khống chế được một cơ quan đầu não của bộ chỉ huy quân đội Sài Gòn để cắm ngọn cờ giải phóng lên nóc nhà, chính thức báo tử giờ tàn của Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn (9 giờ sáng 30.4). Chiều ấy, khi hay tin Tư Cang đến, Bảy Vĩnh tự lái chiếc xe du lịch Falcon bóng loáng tịch thu được trước phòng làm việc của đại tướng Cao Văn Viên (Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa) để chạy ra đón Tư Cang trước cổng Bộ Tổng tham mưu. Vừa là bạn, vừa là đồng đội hoạt động tình báo và cùng bên nhau nhiều lần thoát qua cái chết trên đất Sài Gòn, nên khi gặp lại họ không khỏi xúc động đến rơi nước mắt. Đó là những giọt nước mắt đầu tiên mà Tư Cang đã ghi qua hồi ký Nước mắt ngày gặp mặt. Đọc xong, thượng tướng Trần Văn Trà lúc còn sống đã viết lời giới thiệu: “tác giả (Tư Cang) là người chỉ huy một đơn vị đi đầu trong chiến dịch, đã cung cấp một số tư liệu sống, thật cụ thể, cho bức tranh toàn cảnh đồ sộ về cuộc chiến tranh vĩ đại vừa qua”. Những cảnh ngổn ngang của ngày 30.4 trên đường phố Sài Gòn cũng được Tư Cang ghi nhận chân thật: “dọc đường phố, xe con, xe vận tải quân sự của quân đội Sài Gòn bỏ lại nằm rải rác. Người ta đã tháo mất bánh xe dự bị. Các thùng xăng bị chọc thủng để lấy xăng. Là vì của không có chủ, ai muốn lấy gì thì lấy. Tiếng súng cứ nổ rải rác đó đây, đạn lửa đan chéo nhau trên trời. Ai muốn bắn chơi cứ bắn. Súng thì vất bừa bãi trên đường không ai thèm lượm (…). Từ trong các kho vô chủ, tôi thấy nhiều người chạy ra, cõng những bao gạo trên lưng hoặc đội một đống vải dù trên đầu, người thì xách một thùng xăng, người thì lăn một bánh xe. Thật là một cảnh hỗn độn!”.

Nhiều cảnh tương tự bày ra trước mắt Tư Cang trên đường đến kho quân cụ gần chùa Việt Nam Quốc Tự. Tại đó, ông nghe một sĩ quan cộng sự của mình là Bảy Thanh báo cáo: “Nguy hiểm quá anh Tư ơi. Vòi xăng cứ để mở, đồng bào đưa thùng vô, cái nào đầy rồi thì xách chạy. Xăng tràn ra sân. Đạn lửa bắn cùng trời thế này, kho có thể cháy như chơi. Tôi đã khóa lại và cho Dũng đứng gác. Tôi phải quay lại về dinh Trần Văn Hương, điều thêm hai tổ đến đây mới đủ sức bảo vệ”. Tư Cang dựa vào các thông tin tình báo để phân công tiếp: “Các anh hãy đến khu trung tâm Sài Gòn để kiểm tra những địa chỉ đã ghi trong bản đồ trinh sát này, trong đó có một căn nhà lầu của Nguyễn Văn Thiệu để lại, kế bên là những biệt thự của Phạm Kim Ngọc – Bộ trưởng tài chánh, cũng như của nhiều quan chức cao cấp khác trong bộ máy hành chánh của chế độ Sài Gòn. Tất cả lấy dinh phó tổng thống Trần Văn Hương làm địa chỉ liên lạc trong đêm 30.4 này cho đến khi có lệnh mới”. Nói xong ông ra chiếc xe jeep loại mới nhất thời đó vừa tịch thu được từ một trung tá Sài Gòn để tự lái đi.

Đó là chiếc xe mới toanh có đề hai chữ “Cục R” bằng sơn đỏ ở kính chắn gió đã được đề cập ở cuối kỳ 2. Thấy hai chữ “Cục R”, Tư Cang thoáng nghĩ rất nhanh chẳng lẽ đây là xe của Trung ương Cục miền Nam với hai chữ lộ liễu như vậy? Mà thêm nữa, mấy ngày nay vẫn không hề có thông báo, thông tin gì về ám hiệu bằng chữ ấy. Không ngần ngại, Tư Cang rút súng bắn một phát chỉ thiên, lệnh xe kia dừng lại. Các tay súng biệt động đi theo ông thoáng cái đã đến bên xe chĩa thẳng nòng AK vào bên trong, bảo tất cả ngồi yên. Tư Cang quát hỏi: “Thuộc đơn vị nào?”. “Dạ, ở trong cư xá đằng kia đi ra”. Tư Cang chắc mẩm đây là lính Sài Gòn trú ở doanh trại gần đó nên hỏi tiếp: “cấp bậc gì?”. “Dạ, trung tá, còn hai thằng này là hạ sĩ quan, đều là lính thợ của kho quân cụ, xin ông tha cho”. Tư Cang gật đầu:

– Ờ, bỏ xe lại đây, chạy trở vào nhà đóng cửa lại, đừng ra đường nữa, đơn vị phía sau đến bắn chết, nghe chưa!

Viên trung tá và thuộc hạ xuống xe chạy trở vô phía cư xá, nhưng Tư Cang gọi quay lại, ngoắc viên trung tá lên ngồi cạnh mình để trả lời vắn tắt việc thao tác và sử dụng cần số của loại xe mới: “Thưa ông, chiếc xe này thuộc loại A2, loại mới nhất của jeep lùn (thời 1975). Máy nó tốt hơn hẳn các loại jeep cũ, chúng tôi mới dùng có mấy tháng nay”. Tư Cang nói: “được rồi, đi đi”, họ cảm ơn rồi chạy thẳng một mạch. Tư Cang quan sát kỹ trong xe thấy nệm ghế màu đỏ tươi, vỏ bọc chỗ ngồi còn bóng loáng. Sau xe, có đặt sẵn hai khẩu tiểu liên AR15, hai súng ngắn 12 ly, một bình điện dự bị và nhiều phụ tùng xe phòng khi trắc trở. Có cả một thùng mì tôm và một thùng bia hộp kèm theo nữa. Rõ là ba thầy trò viên trung tá đang chuẩn bị một cuộc đi xa, nhưng họ không biết rằng vào thời điểm ấy họ khó mà lọt ra khỏi vòng quân quản của lực lượng quân đội cách mạng. Vừa nghĩ như thế, Tư Cang vừa tự lái chiếc xe jeep lùn ấy chạy vào đường Hồng Thập Tự (đường Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay), đến cầu Thị Nghè, thấy một chiếc xe tăng của quân Sài Gòn bị bắn cháy đang còn nằm chình ình ra đó. Qua cầu, tới đầu ngõ hẻm vào cư xá Việt Nam Thương Tín, lòng ông bỗng chùng lại, bồi hồi, vì cuối ngõ hẻm hun hút kia là ngôi nhà của vợ con ông đang sống, họ phải biệt ly, xa cách nhau mấy chục năm ròng. Ông chưa thể vào đó được, mà phải phóng thẳng đến khu vực Giáo xứ Nguyễn Duy Khang để gặp một cán bộ biệt động chỉ huy trưởng mũi nổi dậy ở vùng Hàng Xanh là Nguyễn Bá Tòng và chỉ huy phó là Hai Truyền. Hai người đã đưa ông xem quang cảnh sáng 30.4 qua cuộn phim ghi hình vừa tráng xong: “Cuộn phim chụp rất đạt, hình ảnh sắc nét khá rõ ghi lại diễn biến từ ngã tư xa lộ qua nhà thương dưỡng lão, đến cầu Thị Nghè. Nhân dân đổ ra hai bên đường, tay cầm cờ cách mạng, nét mặt rạng rỡ, đón đoàn xe tăng, xe chở bộ binh như đón những người thân đi xa về. Tôi lấy kính lúp của anh Tòng trao cho đọc được cả những biển số xe đang đi trên đường sáng 30.4 như: CE 1949, CE 4211, CE 4250…”. Xem cuộn phim tài liệu quý này, Tư Cang mường tượng như thể đây là cuộc diễu binh trong thành phố thân quen của mình, thành phố mà ông đã trải qua hơn hai thập niên hoạt động bí mật, gắn bó với những tên tuổi trong ngành tình báo như Tư Trung (Phạm Xuân Ẩn), Bảy Vĩnh. Hoặc những chiến sĩ của Cụm H63 ít người biết đến vì công tác bảo mật, đã nằm xuống vĩnh viễn trước ngày 30.4 ở Sài Gòn như Năm Hải, Tư Lâm, Ba Cảnh, Sáu Ẩn, Tư Khương, Tư Re, Chín Ghém, Ba Đào, Tư Đạo… Họ đã cùng ông bám trụ những điểm nóng từ Củ Chi đến nội thành để thu thập tin tức tình báo, phân tích và đánh giá tình hình, chính xác tới nỗi Giám đốc cơ quan tình báo CIA ở Sài Gòn là William Colby đã có lần cảnh báo Nguyễn Văn Thiệu là trong lòng Sài Gòn và ngay cả dinh Độc Lập đang có mặt những điệp viên cộng sản. Những bằng chứng thuyết phục cho điều ấy sẽ được trình bày trong các kỳ tiếp theo của loạt bài này. (Còn tiếp)

Giao Hưởng